TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CÔNG TY ĐA QUỐC
GIA Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Như Thi
Lớp : Pháp 2
Khoá : 43F
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thuý Anh
Hà Nội, 06/2008 MỤC LỤC
I. Khái quát chung 39
1. Sự phát triển của mô hình công ty đa quốc gia 39
2. Các công ty đa quốc gia gắn liền với quá trình toàn cầu hóa 41
II. Kinh nghiệm quản trị tài chính của một số công ty đa quốc gia điển
hình trên thế giới 44
1. Kinh nghiệm của các công ty Nhật Bản trong việc ra quyết định đầu tư
44
1.1 Đầu tư chú trọng vào chất lượng sản phẩm 44
1.2 Phát triển các hình thức tổ chức mới 44
1.3 Thâm nhập thị trường, tận dụng hiệu quả kinh tế theo quy mô và
chiều sâu 45
1.4 Linh hoạt trong lựa chọn địa điểm đầu tư 48
1.5 Xác định yếu tố cốt lõi trong các lĩnh vực đầu tư 49
1.6 Bài học rút ra 50
2. Kinh nghiệm của Nestlé và Novo Industri trong việc ra quyết định tài
trợ 52
2.1 Nestlé 52
2.1.1 Kiểm soát tài chính tập trung 53
2.1.2 Bài học rút ra 54
2.2 Novo Industri 55
2.2.1 Phát hành chứng khoán ở thị trường nước ngoài 55
2.2.2 Bài học rút ra 57
3. Kinh nghiệm của American Express trong việc ra quyết định tài chính
ngắn hạn 58
3.1 Phát triển hệ thống quản trị tiền tệ quốc tế với chi phí thấp 58
3.2 Kiểm soát những rủi ro trong quản trị tiền tệ 60 3.3 Bài học rút ra 61
4. Kinh nghiệm của Kodak, Rolls-Royce và Avon trong việc quản trị rủi
2.2.2 Xác định lãi suất chiết khấu thích hợp khi đánh giá dự án 85
2.2.3 Tính đến chi phí cơ hội khi lựa chọn dự án đầu tư 85
2.3 Nhóm giải pháp liên quan quyết định tài trợ 85
2.3.1 Huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn vốn cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp 85
2.3.2 Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả 88
2.4 Nhóm giải pháp liên quan quyết định tài chính ngắn hạn 88
2.5 Nhóm giải pháp liên quan quản trị rủi ro 89
2.5.1 Giữ tỷ lệ vốn nợ trong cơ cấu vốn ở mức thích hợp 89
2.5.2 Trích lập các quỹ dự phòng sự biến động lãi suất trên thị trường 91
KẾT LUẬN 92
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa và cùng với
nó là sự phát triển không ngừng của mô hình công ty đa quốc gia
(Multinational Corporation) – những công ty tiến hành một số dạng kinh
doanh quốc tế. Ban đầu các công ty thường chỉ cố gắng xuất khẩu sản phẩm
sang một số nước nhất định hoặc nhập khẩu các yếu tố từ một nhà sản xuất
nước ngoài. Tuy nhiên theo thời gian nhiều công ty nhận thức được những cơ
hội khác từ nước ngoài và cuối cùng thiết lập các công ty con ở nước ngoài.
Một số công ty như Dow Chemical, Exxon, American Brands & Colgate -
Palmolive đã thực hiện hơn một nửa doanh số của họ ở nước ngoài.
Nhắc đến công ty đa quốc gia và sự phát triển nhanh chóng của chúng,
người ta thường nhắc đến sự đa dạng và thay đổi trên phạm vi quốc tế. Nhà
quản trị của công ty đa quốc gia là người phải kết hợp sự đa dạng và dự đoán
những thay đổi đó để tạo nên giá trị tổng thể cao nhất. Chính vì thế hoạt động
quản trị trong các công ty đa quốc gia là nhân tố quyết định thành công của
nó. Trong đó quản trị tài chính được coi là quan trọng nhất bởi vì hệ thống tài
quốc gia điển hình và rút ra bài học;
- Nghiên cứu khả năng áp dụng kinh nghiệm quản trị tài chính của các
công ty đa quốc gia tại các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các tập đoàn
kinh tế Việt Nam trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động quản trị tài chính
của các doanh nghiệp Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý thuyết liên
quan đến quản trị tài chính, công ty đa quốc gia, quản trị tài chính trong các
công ty đa quốc gia và thực tiễn quản trị tài chính ở một số công ty đa quốc
gia cụ thể.
3
4. Phạm vi nghiên cứu
Quản trị tài chính bản thân nó đã bao gồm rất nhiều vấn đề cần nghiên
cứu, quản trị tài chính trong các công ty đa quốc gia lại càng phức tạp hơn do
đặc thù mang tính quốc tế đa dạng của các công ty đa quốc gia. Chính vì thế
trong phạm vi khóa luận này tác giả chỉ nghiên cứu những vấn đề lý thuyết cơ
bản nhất bao gồm: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ, quyết định tài chính
ngắn hạn và quản trị rủi ro tài chính.
Trong phần tìm hiểu kinh nghiệm của một số công ty đa quốc gia trên
thế giới, khóa luận sẽ nghiên cứu một số trường hợp điển hình minh hoạ cho
nội dung lý thuyết nhằm nghiên cứu khả năng áp dụng tại các tập đoàn kinh tế
của Việt Nam.
5. Kết cấu khoá luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, khoá luận
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản trị tài chính đối với công ty đa
quốc gia
Chương 2: Thực tiễn quản trị tài chính của một số công ty đa quốc gia
điển hình trên thế giới
chính. Hệ thống tài chính bao gồm:
- Ngân sách Nhà nước;
- Tài chính doanh nghiệp;
- Thị trường tài chính và tổ chức tài chính trung gian;
- Tài chính cá nhân.
Như vây, tài chính doanh nghiệp là một bộ phận trong hệ thống tài
chính, tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi thu hút 1
TS. Nguyễn Hữu Tài (2006), Giáo trình Lý thuyết Tài chính-tiền tệ, NXB Thống kê
5
trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính trong nền kinh tế. Từ khái niệm tài
chính nói trên có thể rút ra khái niệm về tài chính doanh nghiệp là cách thức
mà các doanh doanh nghiệp huy động, sử dụng và phân phối các quỹ tiền tệ
có tính đến yếu tố thời gian và rủi ro nhằm thỏa mãn mục tiêu tối đa hóa giá
trị doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã
hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất. Tài chính doanh nghiệp
có quan hệ mật thiết với tất cả các bộ phận của hệ thống tài chính trong quá
trình hình thành và sử dụng vốn cho các nội dung khác nhau, quá trình kinh
doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Mỗi quan hệ đều có những
nét khác biệt và có những tác động khác nhau đến tài chính doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, đặc trưng cơ bản của bộ phận tài chính
doanh nghiệp thể hiện ở chỗ: nó bao gồm những quan hệ tài chính vận hành
theo cơ chế kinh doanh hướng tới lợi nhuận cao. Chính nhờ cơ chế này mà
nguồn tài chính được tăng cường và mở rộng không ngừng, đáp ứng tốt nhất
nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tài chính doanh nghiệp là một lĩnh vực đặc biệt của ngành tài chính.
Nó liên quan đến việc đưa ra các quyết định về mặt tài chính của một doanh
thu thập xử lý theo một phương pháp nào đó. Chẳng hạn khi quyết định huy
động thêm nguồn ngân quỹ mới, đòi hỏi doanh nghiệp phải phân tích nhiều
nguồn tài trợ khác nhau để lựa chọn. Thêm vào đó, thay vì đi vay ngân hàng,
doanh nghiệp có thể huy động nguồn tài chính bằng cách bán ra những chứng
khoán mới. Nhưng nên phát hành loại chứng khoán nào? Công ty nên bán trái
phiếu dài hạn hay ngắn hạn? Nên phát hành cổ phần ưu đãi hay cổ phần
thường? Tất cả những câu hỏi này phải được trả lời bằng những thông tin có
thể thu thập được.
7
2.2 Vai trò của quản trị tài chính
Tình hình tài chính doanh nghiệp lành mạnh là một trong những điều
kiện tiên quyết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách
nhịp nhàng, đồng bộ, đạt hiệu quả cao. Sự lành mạnh đó có được hay không
phụ thuộc phần lớn vào khả năng quản trị tài chính của doanh nghiệp.
Ở nhiều nước như Mỹ và châu Âu, trong các công ty, tập đoàn kinh tế
lớn như General Motor, Microsoft, Apple, Vodaphone, quản trị tài chính
được tách rời đối với công tác kế toán thống kê. Tại các hãng này, quản trị tài
chính là tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về tài chính và đưa ra những
quyết định về mặt tài chính ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp. Bộ
phận quản trị tài chính trong các doanh nghiệp Mỹ và châu Âu dựa vào các
báo cáo kế toán, báo cáo doanh thu, chi phí, báo cáo nhân sự và tiền lương,
do các bộ phận kế toán tài chính, kế toán quản trị, thống kê cung cấp, kết hợp
với những yếu tố khách quan để tiến hành phân loại, tổng, hợp, phân tích và
đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, so sánh kết quả phân loại của
kỳ này với kỳ trước của doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp cùng
ngành, lĩnh vực sản xuất, so sánh với các chuẩn mực của ngành. Bằng các chỉ
tiêu và sự nhạy bén mà bộ phận quản trị tài chính có thể chỉ ra những mặt
mạnh cũng như những thiếu sót của doanh nghiệp trong kỳ. Ngoài ra, bộ phận
quản trị tài chính còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn và
và quản trị tài chính là bộ phận chức năng quan trọng nhất trong các bộ phận
chức năng của doanh nghiệp.
2.3 Nội dung của quản trị tài chính
Quản trị tài chính quan tâm đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ và quản lý
tài sản doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Qua
định nghĩa này có thể thấy quản trị tài chính liên quan đến 3 loại quyết định
chính: quyết định đầu tư, tài trợ và quản lý tài sản.
9
2.3.1 Quyết định đầu tư
Quyết định đầu tư là một trong những quyết định tài chính quan trọng
vì sai lầm không thể sửa chữa được cho nên trước khi quyết định các nhà
quản trị cần phải đánh giá kĩ lưỡng và đúng đắn các cơ hội đầu tư thông qua
việc thẩm định các dự án đầu tư.
Nội dung của quyết định đầu tư thường gồm các bước như sau:
- Đề xuất dự án đầu tư
Đây là bước đầu tiên trong quy trình để đưa ra một quyết định đầu tư.
Đề xuất dự án đầu tư không chỉ do nhà quản trị tài chính mà nó phải là quyết
định chung của nhà quản trị doanh nghiệp. Bởi vì trước khi đưa ra một đề
xuất dự án các nhà quản trị phải dựa vào các nghiên cứu về thị trường, về
khách hàng, về nguồn cung cấp hàng Các ý tưởng về những dự án đầu tư có
thể xuất phát từ rất nhiều nguồn trong doanh nghiệp như: từ bộ phận
marketing, bộ phận kế hoạch, bộ phận R&D hay từ những người bán hàng do
họ thường xuyên tiếp xúc với người tiêu dùng và hiểu được mức cầu của thị
trường đối với từng sản phẩm cụ thể. Tuy nhiên để duy trì tính cạnh tranh, các
doanh nghiệp cần phải tìm những dòng tư duy mới về các dự án đầu tư. Do
đó, nhiều doanh nhgieepj thường bổ nhiệm một số người chuyên đảm nhiệm
việc theo dõi và giải quyết những công việc này.
- Xác định dòng tiền của dự án
Sau khi có đề xuất một dự án, nhà quản trị tài chính phải là người xác
k là tỷ lệ sinh lời cần thiết của dự án. NPV của dự án được tính như sau: n
CFt
NPV= ∑ –––––– - P
t =1
(1+k)
n 11
NPV đo lường lợi nhuận ngoài phần bù đắp cho thời giá của tiền tệ và
rủi ro. Giá trị dương của NPV là giá trị tăng thêm của công ty sau khi dự án
được đầu tư và lợi ích kỳ vọng của nhà đầu tư đã được thoả mãn. Khi NPV =
0 thì thu nhập chỉ vừa đủ bù đắp cho thời giá và rủi ro của dự án.
Khi sử dụng NPV như một tiêu chuẩn để đánh giá dự án đầu tư, chúng
ta phải phân biệt giữa hai tình huống. Trường hợp thứ nhất, chúng ta coi dự
án đầu tư cần đánh giá độc lập so với những dự án khác. Trong trường hợp
này, tiêu chuẩn áp dụng để chấp nhận hay loại bỏ dự án khá đơn giản.
+ Nếu NPV > 0 chấp nhận dự án
+ Nếu NPV < 0 loại bỏ dự án
+ Nếu NPV = 0, doanh nghiệp sẽ không thiên vị trong việc chấp nhận hay
loại bỏ dự án mà tùy theo sự cần thiết của nó đối với công ty mà ra quyết định.
Trong thực tế, nhiều khi doanh nghiệp phải lựa chọn một trong số nhiều
dự án đầu tư loại trừ nhau, tức là công ty chấp thuận một dự án thì phải loại
bỏ những dự án còn lại. Khi áp dụng NPV làm tiêu chuẩn lựa chọn trong tình
huống này, chúng ta phải chọn dự án đầu tư có NPV cao nhất.
nguồn vốn đủ lớn đầu tư cho dự án. Nhưng nguồn vốn vay có nhược điểm là
dễ gây ra gánh nặng nợ cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp thường huy động
nguồn vốn vay từ ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng hay phát hành
trái phiếu trên thị trường chứng khoán. Để tăng nguồn vốn chủ sở hữu cho các
hoạt động của mình, cách đơn giản nhất là doanh nghiệp tăng phần vốn đóng
góp của các cổ đông. Số vốn này thậm chí không gây ra chi phí cho doanh
nghiệp nhưng phương pháp này có hạn chế là không tạo được nguồn vốn lớn.
Cho nên doanh nghiệp thường huy động vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành
cổ phiếu ra thị trường chứng khoán bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu
đãi (đối với những doanh nghiệp được phép phát hành cổ phiếu). Tuy nhiên
để lựa chọn được nguồn tài trợ thích hợp nhất cho dự án thì doanh nghiệp lại
phải dựa vào chi phí từng nguồn vốn.
13
+ Xác định chi phí vốn
Chi phí vốn vay được xác định bằng công thức:
K’d = Kd (1-T)
Trong đó, Kd là khoản vốn vay còn T là khoản lãi vay mà doanh nghiệp
phải trả.
Chi phí vốn huy động bằng cách phát hành cổ phiếu được chia ra cổ
phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
● Chi phí vốn cổ phiếu ưu đãi:
Kp =
P
D
o
p
Trong đó Dp là cổ tức, Po là giá thị trường của cổ phiếu.
● Chi phí vốn cổ phiếu thường:
cộng với hiện giá của khoản tiết kiệm được nhờ lãi vay.
2.3.3 Quyết định tài chính ngắn hạn
Loại quyết định thứ ba trong quản trị tài chính là quyết định tài chính
ngắn hạn hay còn gọi là quyết định về quản trị tài sản. Một khi tài sản đã được
mua sắm và nguồn tài trợ đã được sử dụng để mua sắm tài sản thì vấn đề quan
trọng là quản lý sao cho tài sản được sử dụng một cách hiệu quả và hữu ích.
Giám đốc tài chính chịu trách nhiệm về việc quản lý và sử dụng tài sản có
hiệu quả, đặc biệt đối với tài sản lưu động là loại tài sản dễ gây ra thất thoát
và lãng phí khi sử dụng.
+ Quản trị tiền mặt
Quản trị tiền mặt đề cập tới việc quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân
hàng. Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gần
với tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao. Các loại
tài sản tài chính gần như tiền mặt giữ vai trò như một “miếng đệm” cho tiền
mặt: Số dư thanh khoản tiền mặt có thể được đầu tư dễ dàng vào các loại
chứng khoán thanh khoản cao, đồng thời chúng cũng có thể được bán rất
nhanh để thỏa mãn những nhu cầu cấp bách về tiền mặt.
Tỷ lệ sinh lời trực tiếp trên tiền mặt rất thấp, trong khi đó sức mua của
tiền tệ luôn có khuynh hướng giảm do chịu ảnh hưởng của lạm phát. Bởi vậy
có thể nói tỷ lệ sinh lời thực của tiền giấy và tiền gửi ngân hàng có tỷ lệ âm.
15
Động cơ chủ yếu của việc nắm giữ tiền mặt là để làm thông suốt quá trình tạo
ra các giao dịch kinh doanh. Bởi nếu sử dụng một loại tài sản khác có thanh
khoản thấp có thể làm các chi phí giao dịch cao, mất nhiều thời gian hơn đối
với một giao dịch kinh doanh thông thường.
Quản trị tiền mặt bao gồm các yếu tố:
a- Tăng tốc độ thu hồi
b- Giảm tốc độ chi tiêu
c- Dự báo chính xác nhu cầu tiền mặt
tác dụng ngăn chặn những bất trắc trong sản xuất như sự chậm trễ ngoài dự
kiến trong vận chuyển, giao hàng. Quản trị hàng tồn kho nhằm mục đích tối
thiểu hóa chi phí tồn kho. Đó là các loại chi phí:
a- Chi phí tồn trữ: những chi phí liên quan đến việc tồn trữ hàng hóa:
chi phí bốc xếp hàng hóa, bảo hiểm hàng tồn kho, chi phí sử dụng vốn, trả lãi
vay cho nguồn kinh phí vay mượn để mua hàng dự trữ
b- Chi phi đặt hàng: chi phí quản lý, giao dịch và vận chuyển hàng hóa.
Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường rất ổn định, không phụ thuộc số
lượng hàng được mua. Cho nên chi phí đặt hàng thường tỷ lệ thuận với số lần
đặt hàng trong năm. Khi khối lượng hàng của mỗi lần đặt hàng nhỏ, thì số lần
đặt hàng tăng và chi phí đặt hàng cao. Khi khối lượng mỗi lần đặt hàng lớn,
số lần đặt hàng giảm và chi phí đặt hàng cũng thấp hơn.
c- Chi phí cơ hội: Nếu một doanh nghiệp không thực hiện được đơn đặt
hàng khi có nhu cầu, công ty sẽ bị đình đốn sản xuất và có thể không kịp giao
hàng cho khách hàng. Sự thiệt hại do để lỡ cơ hội này được coi là chi phí cơ
hội.
II. Tổng quan về công ty đa quốc gia
1. Khái niệm
Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational
Corporation) là công ty tham gia vào quá trình sản xuất và bán sản phẩm hoặc
17
dịch vụ ở nhiều nước. Ban đầu nó gồm một công ty mẹ đặt tại chính quốc và
có ít nhất năm hoặc sáu công ty con ở nước ngoài, đặc biệt có mức độ hợp tác
hỗ trợ lẫn nhau cao và mang tính chiến lược giữa các công ty con của nó. Các
công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia.
Các công ty này có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và
đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hoá. Một số công ty đa
quốc gia có tới 100 công ty con ở nước ngoài trên khắp thế giới. Liên hiệp
quốc dự đoán rằng có ít nhất 35.000 công ty con trên thế giới có thể xem là
trường tài chính quốc gia nào. Vì vậy nhân tố quan trọng để phân biệt công ty
đa quốc gia đó là hoạt động tìm kiếm bên ngoài, thực hiện và hợp tác sản
xuất, marketing, R&D và các cơ hội tài trợ trên cơ sở toàn cầu chứ không phải
trong nước. Ví dụ, dự án về chất siêu dẫn của IBM được khởi xướng ở Thụy
Sỹ bởi một nhà khoa học Đức và một nhà khoa học Thụy Điển, những người
cùng nhận một giải thưởng Nobel vật lý về công trình nghiên cứu dự án này.
Một ví dụ khác, vốn được huy động ở Luân Đôn trên thị trường đôla châu Âu,
có thể được sử dụng bởi một nhà máy dược phẩm đặt tại Thụy Sỹ để tài trợ
việc mua thiết bị của Đức bởi một công ty con ở Braxin. Một con búp bê
Barbie có thể được làm ở 10 nước – thiết kế tại California, với những bộ phận
và quần áo từ Nhật, Trung Quốc, Hồng Kông, Malaysia, Indonexia, Hàn
Quốc, Ý, Đài Loan, được lắp ráp tại Mexico và được bán trên 144 nước.
Những nhân tố cần thiết đối với việc hợp nhất hoạt động toàn cầu là
linh hoạt và tốc độ. Đặc biệt, tốc độ đã trở thành một vũ khí cạnh tranh lợi hại
trong cuộc chiến giành giật thị phần quốc tế. Khả năng phát triển, sản xuất và
phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ nhanh chóng cho phép các doanh nghiệp
chiếm được khách hàng, những người cần sự đáp ứng linh hoạt, nhanh chóng
và đổi mới thường xuyên.
2.2 Các công ty đa quốc gia khác nhau có những động lực phát triển khác nhau
Bởi vì các lợi thế về chi phí có thể thực hiện từ việc sản xuất ở nước
ngoài hoặc các cơ hội thu nhập có thể có từ nhu cầu của thị trường nước
ngoài, tiềm năng phát triển trở nên lớn hơn đối với các công ty quan tâm đến
hoạt động kinh doanh quốc tế. Những đầu tư quốc tế phát triển mạnh mẽ qua
thời gian, chúng được thúc đẩy bởi sự tổng hợp của các nhân tố: Sự dỡ bỏ
19
hoặc giảm bớt những rào cản đối với đầu tư nước ngoài; các chi phí vận tải và
thông tin giảm mạnh; các thị trường vốn quốc tế và nội địa hoạt động tự do
hơn, trong đó các công ty có thể huy động những khoản vốn khổng lồ, những
rủi ro tiền tệ và các rủi ro khác có thể bảo hiểm được. Tuy nhiên không phải
nước ngoài. Loại hình đầu tư này cơ bản là dòng chảy một chiều – từ Mỹ tới
Tây Âu – cho mãi tới những năm gần đầu thập niên 60 của thế kỷ 19. Sau đó,
đầu tư ngược chiều bắt đầu, chủ yếu là các công ty Tây Âu mua lại các công
ty của Mỹ. Gần đây, các công ty Nhật đã đầu tư vào Mỹ và Tây Âu, chủ yếu
để đối phó với những rào cản đối với hàng hóa xuất khẩu sang những thị
trường này.
- Tối thiểu hóa chi phí
Người tối thiểu hóa chi phí là loại hình doanh nghiệp tương đối mới
tham gia kinh doanh quốc tế. Những doanh nghiệp này tìm kiếm và đầu tư
vào những quốc gia có chi phí sản xuất thấp (Ví dụ như Hồng Kông, Đài
Loan và Ireland) nhằm duy trì khả năng cạnh tranh về chi phí cả ở trong và
ngoài nước. Phần lớn các công ty này thuộc ngành công nghiệp điện tử. Ví dụ
như các công ty Texas Instruments, Atari và Zenith.
2.3 Các công ty đa quốc gia luôn tận dụng cơ chế chuyển giao nội bộ để thu
lợi nhuận nhiều hơn
Từ giác độ quản lý tài chính, một trong những đặc điểm của công ty đa
quốc gia khác biệt với tập hợp các công ty quốc gia thường hợp tác khách
quan với nhau, đó là khả năng của nó trong việc chuyển tiền và lợi nhuận giữa
các chi nhánh hoặc giữa công ty mẹ và chi nhánh thông qua các cơ chế
chuyển giao nội bộ. Có được điều đó là do các công ty đa quốc gia hoạt động
trong hệ thống tài chính quốc tế chứ không phải hệ thống tài chính của một
nước cụ thể. Những cơ chế này bao gồm chuyển giao giá cả về hàng hóa hoặc
dịch vụ được trao đổi trong nội bộ, các khoản tín dụng liên công ty, thanh