Thực trạng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tại việt nam - Pdf 14

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
  
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG BẢO HIỂM TAI NẠN NGHỀ NGHIỆP TẠI
VIỆT NAM Họ và tên sinh viên
Lớp
Khoá
Giáo viên hướng dẫn
: Hoµng ThÞ Thƣơng
:
: 44
: Ph¹m Thanh Hµ
3. Thời hạn bảo hiểm 31
4. Hạn mức trách nhiệm (số tiền bảo hiểm) 32
5. Phí bảo hiểm 33
6. Giám định tổn thất và giải quyết bồi thường: 33
7. Một số điều kiện của Đơn BHTN nghề nghiệp 36
Chương II 39
Thực trạng BHTN nghề nghiệp tại Việt Nam 39
I. Giới thiệu về một số công ty kinh doanh loại hình BHTN nghề nghiệp tại
Việt Nam 39 2
II. Tình hình hoạt động kinh doanh BHTN nghề nghiệp tại Việt Nam từ
năm 2001 đến nay. 46
1. Công tác khai thác 46
2. Công tác đề phòng, hạn chế tổn thất 60
3. Công tác giám định và giải quyết bồi thường 61
4. Doanh thu và thị phần bảo hiểm 67
III. Đánh giá chung về tình hình kinh doanh BHTN nghề nghiệp trong
những năm vừa qua. 75
1. Tích cực 75
2. Hạn chế 77
Chương III 82
Định hướng và một số giải pháp nhằm phát triển BHTN nghề nghiệp tại
Việt Nam 82
I. Xu hướng phát triển BHTN nghề nghiệp tại Việt Nam 82
1. Tiềm năng phát triển loại hình BHTN nghề nghiệp tại Việt Nam 82
2. Định hướng phát triển BHTN nghề nghiệp đến năm 2015. 87
II. Một số kinh nghiệm trong triển khai BHTN nghề nghiệp trên Thế giới 91
III. Một số giải pháp nhằm phát triển BHTN nghề nghiệp tại Việt Nam 91

HĐBH Hợp đồng bảo hiểm
HHBHVN Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
KDBH Kinh doanh bảo hiểm
KTS Kiến trúc sư
KSXD Kỹ sư xây dựng
KSTV Kỹ sư tư vấn
NBH Người bảo hiểm
NĐBH Người được bảo hiểm
NT Nhân thọ
PNT Phi nhân thọ
TĐG Thẩm định giá
TNDS Trách nhiệm dân sự
VPCC Văn phòng công chứng

4
DANH MỤC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU

TT
Tên bảng
Bảng 1
Một số loại hình BHTN được thực hiện bắt buộc ở một số
nước trên thế giới.
Bảng 2
Tổng hợp Luật điều chỉnh nhóm BHTN nghề nghiệp.
Bảng 3
Danh sách các công ty bảo hiểm phi nhân thọ đã được cấp
giấy phép và đang hoạt động tại Việt Nam.

Trong cuộc sống hàng ngày, trong hoạt động kinh tế, xã hội hay cụ
thể hơn là trong công việc của mỗi người thường có những tai nạn, sự cố
bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra gây thiệt hại về người và tài sản. Đằng sau vô số
những công việc, sự kiện tương lai nguy cơ gặp rủi ro vẫn tiềm ẩn. Không
cần phải xét đến những rủi ro khách quan, xa vời mà con người chỉ có thể
hạn chế, không thể loại trừ - đó là rủi ro thiên tai; chỉ cần xét đến thứ rất
gần với mình thôi, đó là công việc hàng ngày đang làm, là chuyên môn của
mình cũng đã chứa đựng vô vàn những rủi ro. Cho dù mỗi người đều cho
rằng mình rất giỏi trong công việc, có tay nghề cao, kỹ năng tốt, hiểu rõ về
công việc, mình có đạo đức nghề nghiệp nhưng rủi ro vẫn xảy ra…Vì mọi
người tất cả đều như nhau, đều có lúc sơ suất, đều có lúc sai lầm và đều
không dự đoán được hết những hậu quả mình có thể gây ra, dù là từ những
hành động rất nhỏ nhặt.
Một y tá khi theo dõi bệnh nhân truyền dịch chỉ thiếu cần mẫn quan
sát một chút thôi cũng có thể dẫn đến bệnh nhân bị sốc thuốc và tử vong.
Một hành động rất nhỏ nhưng hậu quả thì thật nặng nề. Hay nhà tư vấn
thiết kế công trình công viên trên đồi, do tính toán sai góc độ và lượng xi
măng làm cho tường bị đổ ngay trong ngày khánh thành,…Mỗi một ngành
nghề đều có một đặc điểm riêng, nhưng đứng trên góc độ rủi ro thì ngành
nào cũng có, với tính chất và mức độ khác nhau. Có những nghề nghiệp
chịu tác động rất lớn bởi tự nhiên, thiên tai như vận tải, xây dựng, nông
nghiệp,…Có những ngành khác lại phụ thuộc nhiều vào máy móc kỹ thuật
như y tế, thiết kế, sản xuất,….Những ngành như kế toán, kiểm toán, luật sư
lại dễ gặp rủi ro đối với giấy tờ, văn bản và các quy phạm pháp luật,…Có
thể thấy rằng mỗi ngành nghề có đặc điểm rủi ro riêng nhưng tần suất xảy
ra các rủi ro nghề nghiệp là như nhau. 2
Tất cả các điều trên đều chỉ ra rằng trong mỗi công việc chuyên môn,

3
Hà, đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành tốt bài khóa luận. Em
cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú, anh chị trong Hiệp hội bảo hiểm
Việt Nam, Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, chi nhánh Bảo Việt tại Hà
Nội, công ty Cổ phần Bảo hiểm AAA, công ty Cổ phần bảo hiểm dầu khí
Việt Nam,…đã giải thích những thắc mắc, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em
nghiên cứu đề tài này.
Do điều kiện thời gian và tài liệu có hạn, đề tài khá mới mẻ, kinh
nghiệm và khả năng của bản thân còn hạn chế cho nên bài viết của em
không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong các thầy cô xem xét,
đánh giá để khóa luận tốt nghiệp của em có tính thiết thực và toàn diện hơn
nữa. Em xin chân thành cảm ơn!
4
CHƢƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ
NGHIỆP

I. Khái quát chung về bảo hiểm trách nhiệm
1. Khái niệm bảo hiểm trách nhiệm
Trong cuộc sống, mỗi cá nhân hay mỗi tổ chức đều phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật cho từng hành động, hành vi của mình. Nhìn chung,
khi một người gây ra thiệt hại cho người khác do sự bất cẩn của mình thì
phải chịu trách nhiệm trước những thiệt hại đó.
Đối với một cá nhân, có rất nhiều nguyên nhân có thể làm phát sinh
trách nhiệm pháp lý. Ví dụ, khi một cá nhân sử dụng một chiếc xe ô tô,
người đó có thể gây tai nạn cho người khác, theo quy định của pháp luật,
thì khi đó cá nhân đó phải có trách nhiệm bồi thường các thiệt hại cho phía

cho trẻ sơ sinh,…
Các thiệt hại trách nhiệm ở trên có thể phát sinh theo hợp đồng (giữa
các bên có liên quan trong hợp đồng, ví dụ theo hợp đồng lao động giữa
người lao động và người chủ sử dụng lao động, theo hợp đồng vận chuyển
giữa hãng vận chuyển và hành khách, theo hợp đồng mua bán giữa nhà sản
xuất và khách hàng,…); hay phát sinh ngoài hợp đồng (ví dụ các thiệt hại
phát sinh đối với một bên thứ ba). Nhưng cho dù là phát sinh theo hợp
đồng hay ngoài hợp đồng thì các trách nhiệm pháp lý đều dẫn tới thiệt hại
tài chính một cách gián tiếp cho cá nhân hay DN phải chịu trách nhiệm.
Tùy theo mức độ lỗi và thiệt hại thực tế của bên thứ ba mà thiệt hại trách
nhiệm phát sinh có thể là rất lớn hoặc không đáng kể. Trong trường hợp
thiệt hại trách nhiệm phát sinh là rất lớn, nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến
tài chính của cá nhân hay DN. Do đó các cá nhân và DN cần phải tham gia
BHTN, để khi trách nhiệm pháp lý phát sinh, họ sẽ được công ty BH bồi
thường những thiệt hại về mặt TNDS.
Như vậy, BHTN thực chất là một loại hợp đồng BH bảo vệ cho
NĐBH khi có khiếu nại của bên thứ ba. Bên thứ ba có thể là pháp nhân 6
hoặc cá nhân bị thương tật về thân thể hoặc thiệt hại tài sản do một tai
nạn, sự cố mà do NĐBH gây ra.
* Chú ý một số khái niệm đặc biệt trong bảo hiểm trách nhiệm
a/ Bên thứ ba: Bên thứ ba trong BHTN thông thường được nhận diện như
sau:
Bên thứ 1: Người hoặc công ty được bảo hiểm (NĐBH).
Bên thứ 2: Người bảo hiểm (NBH).
Bên thứ 3: Bất kỳ người nào hoặc bên nào khác có liên quan đến sự cố
tổn thất thuộc trách nhiệm của NĐBH.
b/ Trách nhiệm pháp lý: là những trách nhiệm của NĐBH theo quy định

BHTN, ngoài việc nhằm đảm bảo ổn định tài chính cho NĐBH, còn
có mục đích khác là bảo vệ quyền lợi cho phía nạn nhân, bảo vệ lợi ích
công cộng và an toàn xã hội. Do vậy, loại hình BH này thường được các
nước quy định bắt buộc và được thể hiện rõ trong Luật KDBH của từng
nước (đây là một đặc điểm có lợi thế rất lớn đối với các nhà BH). Nhìn
chung, các loại hình BHTN được thực hiện dưới hình thức bắt buộc thông
thường có liên quan đến ba nhóm hoạt động chủ yếu sau:
- Thứ nhất, những hoạt động có nguy cơ gây tổn thất cho nhiều nạn
nhân trong cùng một sự cố (ví dụ: kinh doanh vận chuyển hành
khách, sử dụng khí gas lỏng);
- Thứ hai, những hoạt động mà chỉ cần có một sơ suất nhỏ cũng có thể
dẫn đến thiệt hại trầm trọng về người (hoạt động của các y bác sỹ,
hoạt động có liên quan đến các loại dược phẩm);
- Thứ ba, những hoạt động cung cấp dịch vụ trí tuệ có thể gây ra thiệt
hại lớn về tài chính, như: môi giới BH, tư vấn pháp luật. 8
Bảng 1
Một số loại hình BHTN được thực hiện bắt buộc ở một số nước trên
thế giới
Nước
Các loại hình bảo hiểm bắt buộc Cộng hòa
Pháp
- BHTN của KTS, luật sư, chủ thầu xây dựng, kiểm
toán, đại lý BH, đại lý du lịch, công chứng viên.
- BHTN của các cửa hàng dược phẩm.
9
- Bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới, bảo hiểm TNDS của người vận
chuyển hàng không đối với hành khách;
- BHTN nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật;
- BHTN nghề nghiệp của DN môi giới BH.
c/ Có thể áp dụng giới hạn trách nhiệm hoặc không
Trong BHTN, chưa thể xác định được ngay thiệt hại TNDS phát sinh
tại thời điểm tham gia BH, và thông thường thiệt hại đó có thể là rất lớn.
Bởi vậy, để nâng cao trách nhiệm của người tham gia BH, các công ty BH
thường đưa ra các giới hạn trách nhiệm, tức là các mức bồi thường tối đa
của BH (số tiền BH). Nói cách khác, thiệt hại TNDS có thể phát sinh rất
lớn nhưng công ty BH không bồi thường toàn bộ thiệt hại TNDS phát sinh
đó mà chỉ khống chế trong phạm vi số tiền BH. Đây là hình thức chủ yếu,
tuy nhiên cũng có những trường hợp BHTN không áp dụng giới hạn trách
nhiệm, mà điều này còn tùy thuộc vào từng nghiệp vụ và đặc điểm kinh tế
xã hội trong mỗi thời kỳ.
Ví dụ, hạn mức trách nhiệm được áp dụng trong hầu hết các nghiệp vụ
bảo hiểm TNDS như: bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ
ba, bảo hiểm TNDS của chủ sử dụng lao động với người lao động, trách
nhiệm của chủ hãng vận chuyển đối với hành khách, hàng hóa,…Nhưng
cũng có một số nghiệp vụ bảo hiểm TNDS không áp dụng giới hạn trách
nhiệm (thiệt hại TNDS phát sinh bao nhiêu, công ty BH bồi thường bấy
nhiêu), ví dụ như nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ tàu.
3. Phân loại BHTN
Hiện nay loại BHTN đang được triển khai dưới nhiều nghiệp vụ như:
- BHTN chung;
- Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
- Bảo hiểm TNDS của chủ tàu thuyền;

thỏa đáng.
- Bác sỹ chuẩn đoán sai bệnh, phẫu thuật nhầm bộ phận cơ thể hoặc
gắn nhầm kính sát trùng trong mắt trẻ em. 11
- Đại lý du lịch đăng ký nhầm tour du lịch cho khách hàng dẫn đến
khách hàng phải hoãn chuyến đi và phát sinh thêm chi phí khác.
Những người hành nghề chuyên môn phải thực hành công việc, thao
tác nghề nghiệp chuyên môn với sự cẩn thận và tay nghề đảm bảo yêu cầu
chuyên môn. Tuy nhiên, thực tế vì nhiều lý do vẫn có thể gây thiệt hại cho
bên thứ ba từ những hành động bất cẩn, những sai phạm hoặc thiếu sót
trong quá trình thực hiện các công việc chuyên môn, vì vậy cần phải có
BHTN nghề nghiệp.
Ở đây, cần phân biệt trách nhiệm nghề nghiệp với trách nhiệm chung
(general liability). Chẳng hạn: một bệnh nhân gặp tai nạn do dây điện nội
bộ mắc trong cây cối trong khu vực lối đi của cơ sở y tế đổ gãy, trường hợp
này có thể phát sinh trách nhiệm của chủ cơ sở y tế nhưng đó chưa phải là
loại trách nhiệm gắn với các công việc chuyên môn của nghề y; nhưng khi
bệnh nhân bị sốc thuốc do y tá đã thiếu mẫn cán trong việc theo dõi ca
truyền dịch -> trường hợp này thuộc về trách nhiệm nghề nghiệp của bác
sỹ, y tá.
Gắn với đặc tính của các lĩnh vực hoạt động chuyên môn khác nhau,
các sản phẩm BHTN nghề nghiệp cũng rất đa dạng: BHTN nghề nghiệp
KTS, kỹ sư trong xây dựng; BHTN nghề nghiệp môi giới BH; BHTN nghề
nghiệp môi giới chứng khoán; BHTN nghề nghiệp kiểm toán, tư vấn tài
chính; BHTN nghề nghiệp bác sỹ; BHTN nghề nghiệp nhân viên thẩm định
giá; Có rất nhiều khác biệt trong quy định cụ thể của từng loại sản phẩm
đó, tuy nhiên cũng có một vài điểm chung rất cơ bản, đó là:
- Thứ nhất, thông thường bảo đảm có giới hạn cho NĐBH trách

khi cung cấp dịch vụ chuyên môn. Nếu như rủi ro gây ra tổn thất
không thuộc phạm vi BH, không phải xảy ra trong quá trình thực
hiện công việc chuyên môn nghề nghiệp thì DNBH sẽ không có
trách nhiệm bồi thường. Nếu tổn thất như vậy xảy ra nó sẽ nằm
trong phạm vi BH của sản phẩm BH khác, ví dụ như một bác sỹ
đã mua BHTN nghề nghiệp, đâm vào một người đi đường gây tai
nạn. Khi đó DN bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp sẽ không bồi 13
thường mà nó thuộc phạm vi của “BHTNDS đối với người thứ
ba”.
+ Phải hành động trong phạm vi ranh giới của nghề chuyên môn
nêu trong Giấy yêu cầu BH: khi tham gia BH, nhà chuyên môn
phải đăng ký với DNBH những rủi ro được BH, và ghi trong Giấy
yêu cầu BH. Tổn thất xảy ra trong khi cung cấp dịch vụ chuyên
môn nhưng không đăng ký trong Giấy yêu cầu BH thì cũng không
được bồi thường. Ví dụ như một bác sỹ chỉ yêu cầu BH trách
nhiệm pháp lý phát sinh khi cung cấp dịch vụ phẫu thuật, khi xảy
ra rủi ro liên quan đến việc bác sỹ kê nhầm thuốc cho bệnh nhân
không phẫu thuật thì bác sỹ đó tự chịu trách nhiệm về mình.
+ Phải xuất phát từ một bên thứ ba không có liên quan: DNBH sẽ
không bồi thường nếu đối tượng bị tổn thất chính là nhà chuyên
môn hay chính là người được BH và nhân viên của họ.
+ Trên cơ sở khiếu nại phát sinh: nghĩa là nếu gây ra tổn thất
nhưng nạn nhân không khiếu nại hoặc hai bên giải quyết bằng
cách riêng không phải là khiếu nại thì DNBH sẽ không có liên
quan. Đây chính là điểm đặc biệt của các sản phẩm BHTN. Một
khi xảy ra khiếu nại thì NĐBH phải thông báo ngay cho DNBH để
DNBH thực hiện các biện pháp nghiệp vụ bảo vệ quyền lợi của

- Thời hạn hồi tố: ngày hồi tố là thời điểm bắt đầu hiệu lực hồi tố.
Quy định về thời hạn hồi tố có nghĩa là: nếu tổn thất xảy ra đối với bên thứ
ba phát sinh trước thời điểm bắt đầu hiệu lực hồi tố thì khiếu nại liên quan
sẽ không thuộc phạm vi BH. Một tổn thất chỉ có thể được xem xét bồi
thường khi nó xảy ra sau thời điểm bắt đầu hiệu lực hồi tố và trước thời
điểm kết thúc thời hạn BH. Đồng thời khiếu nại liên quan phải được lập
trong thời hạn BH (có thể mở rộng cho 36 tháng tiếp theo kể từ ngày
HĐBH kết thúc với điều kiện là thông báo về sự cố có thể dẫn đến khiếu 15
nại phải được gửi cho NBH trong vòng 30 ngày sau khi kết thúc thời hạn
BH).
Cách thức quy định ngày hồi tố tùy thuộc vào 2 trường hợp sau:
+ BH có thời hạn BH theo năm: không áp dụng ngày hồi tố khi ký hợp
đồng năm đầu tiên hoặc đã ký trước đấy nhưng gián đoạn. Trong những
năm tiếp theo, đối với khách hàng tái tục hợp đồng và có thời gian tham gia
BH liên tục, thời gian hồi tố được phép tính từ ngày bắt đầu thời hạn BH
của đơn đầu tiên (thường là 3 năm trước đó), không hồi tố cho những thỏa
thuận mới không thuộc phạm vi BH trước đó hoặc có mức trách nhiệm thấp
hơn.
+ BH có thời hạn BH theo dự án: chỉ hồi tố cho những hợp đồng khi
không có tổn thất hoặc tổn thất tiềm tàng được biết đến cho đến khi HĐBH
có hiệu lực.
Như vậy, NĐBH phải chú ý thực hiện nghĩa vụ của mình trong trường
hợp phát hiện tổn thất, cụ thể:
+ Trong thời hạn sớm nhất có thể được, nhưng trong mọi trường hợp
không được chậm hơn 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn BH ghi trong
giấy chứng nhận BH/ phụ lục hợp đồng, NĐBH phải gửi thông báo bằng
văn bản cho NBH hoặc người đại diện được ủy quyền của NBH với đầy đủ

hoạt động chuyên môn tìm kiếm loại hình BH này. Tổ chức “Northern
Accident” đã triển khai BHTN của dược sỹ (người bán thuốc) năm 1896 và
bán BHTN của luật sư vào đầu thế kỷ XX. Năm 1992, loại hình BHTN của
KTS & KSTV cũng bắt đầu được bán ở Lloyd’s. Trong thế kỷ XX, do
quyết định của luật pháp và quyết định của tòa án, trách nhiệm của các nhà
chuyên môn nói chung và của KTS, KSTV nói riêng đã tăng lên đáng kể.
Hơn nữa, cùng với sự phát triển của xã hội, của công nghệ thông
tin,…những nguy hiểm, rủi ro phát sinh trong các hoạt động chuyên môn
cao ngày càng lớn. Chính vì vậy, ở Anh nói riêng và ở các nước phát triển
nói chung, BHTN nghề nghiệp vẫn duy trì và ngày càng phát triển, chiếm
một vị trí quan trọng, và thành một thói quen của các cá nhân và tổ chức. 17
b. Ở Việt Nam
BHTN nghề nghiệp đã du nhập vào thị trường BH Việt Nam từ năm
1995, cùng với sự có mặt của các công ty BH nước ngoài như Allianz,
QBE. Tuy nhiên, mãi đến sau khi Luật KDBH ra đời ngày 09/12/2000,
cùng với quy định của BTC về BHTN nghề nghiệp bắt buộc đối với hoạt
động môi giới BH và tư vấn pháp luật, cũng như hàng loạt các văn bản luật
chuyên ngành khác quy định về nghĩa vụ mua BHTN nghề nghiệp thì
BHTN nghề nghiệp mới có giá trị pháp lý đầy đủ và chính thức được các
công ty BH Việt Nam nghiên cứu đưa vào triển khai.
BHTN nghề nghiệp là một loại hình BH đặc thù, liên quan đến nhiều
ngành nghề, nhiều lĩnh vực nên ngoài chịu sự điều chỉnh của Luật KDBH
cũng như các văn bản, thông tư hướng dẫn, BHTN nghề nghiệp còn chịu sự
điều chỉnh của rất nhiều luật chuyên ngành khác như Luật Xây dựng, Luật
Chứng khoán, Luật Công chứng,…Dưới đây là tổng hợp 8 loại sản phẩm
BH được quy định bởi các văn bản pháp luật hiện hành và đang áp dụng
trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam:

01/01/2007 18
5
Bảo hiểm TNNN của Nhà
thầu thiết kế xây dựng công
trình
Điều 58 Luật Xây dựng
01/07/2004
6
Bảo hiểm TNNN của Nhà
thầu giám sát thi công công
trình xây dựng
Điều 90 Luật Xây dựng
01/07/2004
7
Bảo hiểm TNNN cho công
ty kiểm toán
Điều 25 Nghị định
105/2004/NĐ-CP về
kiểm toán độc lập
30/03/2004
8
Bảo hiểm TNNN cho DN
TĐG
Điều 11 Nghị định
111/2005/NĐ-CP về
TĐG
03/08/2005

KTS & KSTV ở Việt Nam. Ngoài Bảo Việt, công ty cổ phần BH
Petrolimex (PJICO) là công ty tiếp theo triển khai loại hình BH này.
Như vậy, có thể nói BHTN nghề nghiệp cho KTS & KSTV là loại
hình BHTH nghề nghiệp ra đời sớm nhất ở Việt Nam. Đến nay, hầu hết
các công ty BHPNT đều kinh doanh loại hình BH này, nó là sản phẩm
chính, và phổ biến nhất của nghiệp vụ BHTN nghề nghiệp tại Việt Nam
(chiếm đến 80% doanh thu phí BHTN nghề nghiệp).
b2. Sự ra đời của BHTN nghề nghiệp luật sư
Ra đời sau loại hình BHTN nghề nghiệp KTS & KSTV là loại hình
BHTN nghề nghiệp luật sư. Liên quan đến việc hành nghề tư vấn pháp luật
của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, điều 30, 31 Nghị định
92/1998/NĐ - CP ngày 10/11/1998 của Chính phủ có quy định “chi nhánh,
tổ chức luật sư nước ngoài phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật
chất do lỗi của luật sư của chi nhánh gây ra cho khách hàng; chi nhánh có
nghĩa vụ mua BHTN nghề nghiệp cho luật sư của mình hành nghề tại Việt
Nam”. Hướng dẫn thi hành nghị định 92 của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã ban
hành Thông tư số 08/1999/TT - BTP ngày 13/02/1999 trong đó quy định,
chi nhánh tổ chức luật sư và luật sư nước ngoài có thể mua BHTN nghề 20
nghiệp luật sư tại một công ty BH được phép hoạt động tại Việt Nam; hoặc
trong trường hợp tổ chức luật sư nước ngoài đã có BHTN nghề nghiệp cho
luật sư hành nghề tại Việt Nam, thì không phải mua BHTN nghề nghiệp tại
Việt Nam mà chỉ cần xuất trình Bộ Tư pháp giấy tờ xác nhận về việc BH
đó. Chính vì quy định thông thoáng này của Thông tư số 08 cho nên đến
trước năm 2001, loại hình BHTN nghề nghiệp cho luật sư vẫn chưa phát
triển tại thị trường BH Việt Nam. Chỉ sau khi Pháp lệnh về luật sư năm
2001 ra đời thì loại hình BH này mới được các công ty BHPNT Việt Nam
tiến hành nghiên cứu để triển khai. Điều 23 của Pháp lệnh này có quy định,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status