THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM HIỆN NAY
2.1. Cơ sở pháp lý
Trong khoảng thời gian trước năm 1986, nhà nước ta duy trì thực hiện cơ chế kế
hoạch hóa tập trung. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hầu như chưa có. Các
cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp quốc doanh gần như không có khái niệm
và nhu cầu về định giá doanh nghiệp. Mọi hoạt động chuyển nhượng tài sản, bàn
giao xí nghiệp, sáp nhập, chia tách doanh nghiệp thông qua hệ thống điều hòa
vốn của các cơ quan chủ quản và tài chính. Nhà nước quy định giá trị tài sản của
doanh nghiệp và duy trì sự ổn định tổ chức doanh nghiệp trong một thời gian
dài. Sự bảo bọc và quản lý của cơ quan nhà nước về mọi hoạt động trong doanh
nghiệp, bao gồm cả lĩnh vực tài chính kế toán khiến cho nhu cầu về định giá
doanh nghiệp không được đề cập đến trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở
nước ta.
Từ năm 1987 tới nay, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển đổi từ nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế hạch toán kinh doanh, phát triển nền kinh tế
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi, các cơ quan quản lý Nhà nước đã
vấp phải một vấn đề hết sức nghiêm trọng. Đó là hiện tượng thất thoát vốn Nhà
nước thể hiện thông qua hiện tượng lãi giả lỗ thật tại các cơ sở kinh doanh. Các
doanh nghiệp thực hiện sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm theo giá thị
trường. Trong khi đó, vốn và tài sản của Nhà nước không được định giá lại theo
giá trị thị trường thích ứng với sự thay đổi của cơ chế. Điều này làm phát sinh
chênh lệch lãi rất lớn do các yếu tố đầu vào được định giá thấp trong khi giá cả
đầu ra lại cao. Trong nhiều năm liền, các doanh nghiệp nhà nước luôn ở trong
tình trạng lãi giả lỗ thật, một số lớn doanh nghiệp tồn tại bằng cách ăn dần vào
vốn Nhà nước. Để khắc phục tình trạng đó, Nhà nước đã ban hành Chế độ bảo
toàn và phát triển vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Cơ chế bảo toàn và phát triển
1
1
2
Nhóm 3: Văn bản năm 2004 cho tới nay (bao gồm Nghị định
187/2004/NĐ-CP và Thông tư hướng dẫn)
Hệ thống các văn bản pháp luật trên quy định quá trình và phương pháp xác định
giá trị DNNN để cổ phần hóa. Các văn bản ban hành sau là những văn bản thể
hiện sự cải tiến, khắc phục những hạn chế của văn bản trước trong quá trình đưa
quy định vào thực tiễn Tuy nhiên, không phải là không còn những thiếu sót và
bất cập.
2.1.1. Phương thức định giá
Từ năm 2002 trở về trước là giai đoạn ban đầu của quá trình CPH, việc xác định
giá trị doanh nghiệp do các cơ quan quản lý doanh nghiệp thông qua phương
thức thành lập Hội đồng xác định giá trị. Trong thời gian tồn tại của phương
thức này, cơ cấu và thành phần của Hội đồng định giá hầu như không thay đổi.
Tại điều 5 Quyết định số 202/CP thành phần của Hội đồng định giá và thẩm
định giá trị doanh nghiệp bao gồm: “ chuyên gia kinh tế, tài chính do cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền cử ra và những chuyên gia tư vấn am hiểu về ngành
nghề kinh doanh của doanh nghiệp do cơ quan chủ quan doanh nghiệp và cơ
quan tài chính cùng cấp mời”.
Theo Nghị định số 28 ngày 7/5/1996, thành phần Hội đồng không thay đổi đáng
kể, chỉ đổi tên Ban chuẩn bị cổ phần hóa thành Ban cổ phần hóa tại doanh
nghiệp.
Theo Nghị định số 44 ngày 29/6/1998 và Thông tư số 104 ngày 18/7/1998, Ban
cổ phần hóa lại có tên mới là Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp.
Cơ cấu, thành phần của Hội đồng thẩm định giá trị về cơ bản vấn không thay
đổi. Tuy nhiên, Hội đồng có thể mời bổ sung các thành viên khác tùy theo yêu
cầu của việc thẩm định.
Nguyên tắc làm việc của Hội đồng thẩm định giá trị: Biểu quyết đa số, khi số
phiếu ngang nhau, lá phiếu của Chủ tịch Hội đồng sẽ có vai trò quyết định.
Quá trình thực hiện công tác định giá doanh nghiệp thông qua phương thức Hội
đồng như trên trong thực tế đã bộc lộ những bất cập và hạn chế:
định giá, giúp đẩy nhanh tiến độ CPH. Có thể nói, Nghị định 64 là sự chuẩn bị
4
4
cho sự thay đổi về mặt phương thức, giúp doanh nghiệp thích nghi với việc định
giá được thực hiện bởi bên thứ ba. Nghị định 187 quy định:
• “Doanh nghiệp CPH có tổng giá trị tài sản theo sổ sách kế toán từ 30 tỷ
đồng trở lên thì việc xác định giá trị doanh nghiệp CPH thực hiện thông
qua các tổ chức có chức năng định giá như: các công ty kiểm toán, công
ty chứng khoán, tổ chức thẩm định giá, ngân hàng đầu tư trong nước và
ngoài nước có năng lực định giá”.
• “Doanh nghiệp CPH có tổng giá trị tài sản theo sổ sách kế toán dưới 30 tỷ
đồng thì không nhất thiết phải thuê tổ chức định giá để xác định giá trị
doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp không thuê tổ chức định giá thì
doanh nghiệp tự xác định giá trị doanh nghiệp và báo cáo cơ quan có thẩm
quyền quyết định giá trị doanh nghiệp.”
2.1.2. Xử lý các tồn tại về tài chính trước khi xác định giá trị doanh nghiệp
Trước năm 2002, việc xử lý các tồn tại tài chính như nợ và tài sản tồn đọng, lỗ
lũy kế,…là thách thức và khó khăn lớn nhất đối vỡi hoạt động định giá doanh
nghiệp. Điều này khiến cho thời gian xác định bị kéo dài, giá trị doanh nghiệp
vẫn còn chứa đựng giá trị ảo, cơ chế xử lý còn mang nặng tính bao cấp. Việc xử
lý các vấn đề tài chính nêu trên vấn mang tính chất trình-duyệt chứ không đưa ra
những tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách để xử lý.
Nghị định 64 năm 2002 đã bước đầu tạo khung pháp lý cho việc xử lý dứt điểm
các khoản nợ và tài sản tồn đọng, lỗ lũy kế với một cơ chế tăng cường trách
nhiệm, đảm bảo hài hòa các lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, người lao
động, nhà đầu tư. Trong đó, nguyên tắc áp dụng cho việc xử lý các khoản tổn
thất là: Doanh nghiệp được sử dụng các khoản dự phòng, lợi nhuận trước thuế
để bù đắp, nếu không đủ thì mới giảm trừ vào phần vốn Nhà nước tại doanh
nghiệp.
Song song với đó, Chính phủ đã thành lập Công ty Mua bán nợ và Tài sản tồn
Giá trị thực tế của doanh nghiệp sẽ được tính bằng tổng giá trị của các loại tài
sản đã được xác định giá trị.
6
6
Tuy nhiên, việc sử dụng duy nhất một phương pháp tài sản đã bộc lộ những hạn
chế.Các doanh nghiệp khác nhau sẽ có đặc điểm kinh tế kỹ thuật khác nhau, thì
liệu chỉ sử dụng một công thức xác định giá trị TSCĐ (Quy định tại Thông tư
104) có hợp lý?Giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm xác định giá trị doanh
nghiệp là không dễ dàng xác định. Có tài sản đã mua từ lâu, không còn xuất hiện
trên thị trường. Có những tài sản mang tính đặc thù, hoàn toàn không có thị
trường để xác định. Hơn nữa, mỗi ngành nghề sẽ có cơ cấu tài sản
(TSHH+TSVH) khác nhau trong việc cấu thành nên giá trị doanh nghiệp, liệu
một phép cộng tổng có phản ánh chính xác giá trị của doanh nghiệp?
Nghị định 64 năm 2002 đã kết hợp thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp bằng
hai phương pháp:
• Phương pháp tài sản ròng: Xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên cơ sở
giá trị thực tế của toàn bộ tài sản hữu hình, vô hình của doanh nghiệp tại
thời điểm định giá.
• Phương pháp dòng tiền chiết khấu: Xác định giá trị doanh nghiệp căn cứ
vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai.
Tuy nhiên, đối tượng áp dụng của phương pháp chiết khấu dòng tiền chỉ hạn chế
trong các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành dịch vụ thương mại, dịch vụ
tư vấn, thiết kế xây dựng, dịch vụ tài chính kế toán, tin học, chuyển giao công
nghệ. Một điều kiện đi kèm là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
bình quân 5 năm liền kề trước thời điểm chuyển đổi sở hữu phải cao hơn lãi suất
trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm ở thời điểm gần nhất với thời điểm xác định
giá trị doanh nghiệp.
Nghị định 187 ra đời năm 2004 đã có sự “thông thoáng” hơn trong việc cho
phép doanh nghiệp lựa chọn phương pháp xác định giá trị. Ngoài hai phương
pháp cơ bản quy định tại Nghị định 64, doanh nghiệp có thể sử dụng phương
trụ sở, văn phòng giao dịch, xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh; đất để
sản xuất nông lâm thủy sản (kể cả đất Nhà nước giao có thu hay không
thu tiền sử dụng đất) thì doanh nghiệp có quyền lựa chọn hình thức thuê
hoặc giao đất theo quy định của Luật Đất đai.
8
8
Nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức thuê đất, không tính
giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức giao đất, giá trị quyền
sử dụng đất sẽ được tính vào giá trị doanh nghiệp.
• Đối với diện tích đất Nhà nước đã giao cho doanh nghiệp xây dựng nhà
để bán hoặc cho thuê, xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc
cho thuê thì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp.
Qua đây, ta thấy, Nghị định 187 đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong việc
lựa chọn hình thức sử dụng đất của mình. Việc quy định cụ thể hơn này cũng
giúp cho quá trình định giá (trong đó có định giá quyền sử dụng đất) được tiến
hành thuận lợi hơn, giảm thất thoát cho Ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, đó cũng
là sự thiếu thống nhất khi mà cùng là giá trị quyền sử dụng đất, ở doanh nghiệp
này đó là một phần giá trị doanh nghiệp, ở doanh nghiệp khác lại không được
tính vào.
Giá trị lợi thế
Giá trị lợi thế là một thuật ngữ dùng để tính giá trị vô hình tạo ra khả năng sinh
lời trong tương lai của doanh nghiệp nhờ các yếu tố như bằng phát minh, sáng
chế, uy tín, thương hiệu, quyền khai thác,…
Giá trị lợi thế được xác định một cách tách biệt và được cộng vào cùng với các
giá trị tài sản khác để tạo thành giá trị doanh nghiệp trong phương pháp tài sản
ròng.
Tuy nhiên, cách tính giá trị lợi thế được quy định khác nhau tại các văn bản
hướng dẫn:
• Nghị định 28/NĐ-CP
Phương thức định giá thông qua tổ chức tài chính trung gian được coi là phương
thức hợp lý nhất trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, có một dấu hỏi lớn được đặt
ra cho năng lực của chính các tổ chức này! Liệu các tổ chức định giá này có khả
năng đáp ứng được các tiêu chí độc lập, chuyên nghiệp và minh bạch? Cơ sở
nào để đánh giá chất lượng công tác định giá do các tổ chức này thực hiện? Các
10
10
tổ chức định giá độc lập tại Việt Nam có đủ trình độ và kinh nghiệm để định giá
cho các DNNN lớn và phức tạp hay không?
Trong thời gian đầu thực hiện phương thức định giá này, có nhiều tổ chức định
giá được lựa chọn thực hiện việc định giá doanh nghiệp chưa thực sự có đủ năng
lực chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp để thực hiện một cách có hiệu quả
và chuẩn xác kết quả định giá doanh nghiệp. Các tổ chức được chọn có thể chỉ là
do đó là một tổ chức tài chính có chức năng định giá như công ty Chứng khoán,
công ty Kiểm toán.
Tư vấn, định giá doanh nghiệp thông qua tổ chức trung gian là một trong những
nghiệp vụ mang tính chuyên nghiệp, nhưng nhiều tổ chức định giá trong quá
trình thực hiện lại tỏ ra yếu kém về chuyên môn nghiệp vụ. Tính chuyên nghiệp,
độc lập của các tổ chức định giá còn thấp, trong quá trình định giá còn lệ thuộc
vào ý kiến của doanh nghiệp. Vì chưa thực sự tin tưởng vào kết quả xác định giá
trị doanh nghiệp của các tổ chức định giá nên thời gian thẩm định lại kết quả
trước khi công bố giá trị doanh nghiệp còn kéo dài làm chậm tiến độ cổ phần
hóa. Một mặt, do chưa chiếm được niềm tin của khách hàng về chất lượng dịch
vụ, các tổ chức cung ứng dịch vụ chuyển sang cạnh tranh với nhau chủ yếu
thông qua giá cả. Thông qua hình thức: Hạ phí, khuyến mại tổ chức cung ứng
dịch vụ đạt được mục tiêu ký được hợp đồng tư vấn, xác định giá trị doanh
nghiệp. Đây là hình thức cạnh tranh không lành mạnh làm cho chất lượng hoạt
động tư vấn, xác định giá trị doanh nghiệp không cao. Mặt khác, với mức phí
theo quy định hiện hành, tổ chức cung cấp dịch vụ khó có điều kiện đầu tư, thuê
các nhân viên có kinh nghiệm, có năng lực nghiệp vụ để thực hiện hợp đồng,
thuyên chuyển công tác hoặc đã nghỉ hưu, việc quy trách nhiệm của tập thể hoặc
cá nhân liên quan gặp khó khăn, không xử lý được. Vì vậy, việc xử lý nợ đã kéo
dài tiến trình sắp xếp và cổ phần hóa hoặc khoản nợ khó đòi đó được chuyển
sang Công ty cổ phần tiếp tục xử lý.
Sản phẩm dở dang
12
12
Đối với sản phẩm dở dang, công trình đầu tư xây dựng dở dang, theo quy định
giá trị được xác định theo thực tế phát sinh hạch toán trên sổ kế toán. Quy định
này trong một số trường hợp có sự bất cập đó là trong các khoản chi phí đã phát
sinh có thể có những khoản chi không hợp lý hoặc có những khoản chi thực tế
đã chi nhưng cần phải xem xét đánh giá lại đó là giá trị quyền sử dụng đất. Ví
dụ, một doanh nghiệp X xây dựng một toà nhà để bán. Toà nhà này theo thiết kế
là có 10 tầng gồm 30 căn hộ. Doanh nghiệp đã xây xong 10 tầng, trong đó đã
hoàn thiện 20 căn hộ. Như vậy, ở đây sản phẩm dở dang được xác định như thế
nào ? Phải chăng 10 căn hộ chưa hoàn thiện được coi là sản phẩm dở dang, 20
căn hộ hoàn thiện được coi là thành phẩm (vì sau khi hoàn thiện là sử dụng được
ngay). Với việc xác định như trên, tiền sử dụng đất doanh nghiệp đã nộp cho
diện tích đất xây dựng toà nhà này phải được tính theo giá trị thị trường và phân
bổ vào thành phẩm hoàn thành cũng như 10 căn hộ dở dang còn lại, có như vậy
chi phí dở dang mới phản ánh đúng giá trị của khối lượng sản phẩm dở dang.
Nếu cho rằng tất cả 30 căn hộ đều là dở dang thì chi phí về đất chỉ tính theo giá
trị hạch toán trên sổ, không được đánh giá lại theo giá đất tại thời điểm xác định
giá trị doanh nghiệp. Ngược lại, có trường hợp tuy vẫn còn trong giai đoạn xây
dựng dở dang nhưng Công ty và người mua nhà đã ký hợp đồng mua bán nhà;
người mua nhà nộp tiền theo tiến độ xây dựng hoàn thành, tiền sử dụng đất đã
được người mua nhà thanh toán ngay tại thời điểm ký hợp đồng, Công ty kinh
doanh nhà đã nộp ngân sách tiền sử dụng đất theo giá ghi trên hợp đồng và
người mua nhà đã thanh toán tiền, trong đó có tiền sử dụng đất; đến thời điểm
xác định giá trị doanh nghiệp công trình chưa hoàn thành, nếu tính giá đất theo
2. Các khoản nợ phải thu tính vào giá trị doanh nghiệp được xác định theo số
dư thực tế trên sổ kế toán sau khi xử lý:
a. Đối với những khoản nợ phải thu có đủ tài liệu chứng minh không có
khả năng thu hồi theo quy định hiện hành của Nhà nước về xử lý nợ
tồn đọng thì xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm cá nhân, tổ chức để
14
14
xử lý bồi thường theo quy định của pháp luật hiện hành. Phần tổn thất
sau khi xử lý doanh nghiệp dùng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi
để bù đắp, nếu thiếu thì hạch toán vào chi phí kinh doanh của doanh
nghiệp.
b. Đối với các khoản nợ phải thu quá hạn khác doanh nghiệp phải tiếp tục
đòi nợ hoặc bán nợ cho Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của
doanh nghiệp theo giá thoả thuận, không được trực tiếp bán nợ cho
khách nợ. Khoản tổn thất từ việc bán nợ được hạch toán vào chi phí
kinh doanh.
c. Đối với các khoản doanh nghiệp đã trả trước cho người cung cấp hàng
hoá, dịch vụ như : tiền thuê nhà, tiền thuê đất, tiền mua hàng, tiền
công... nếu đã hạch toán hết vào chi phí kinh doanh, doanh nghiệp đối
chiếu hạch toán giảm chi phí tương ứng với phần hàng hoá, dịch vụ
chưa được cung cấp hoặc thời gian thuê chưa thực hiện và hạch toán
tăng khoản chi phí trả trước (hoặc chi phí chờ phân bổ).
3. Các khoản chi phí dở dang: đầu tư xây dựng cơ bản, sản xuất kinh doanh,
sự nghiệp được xác định theo thực tế phát sinh hạch toán trên sổ kế toán.
4. Giá trị tài sản ký cược, ký quỹ ngắn hạn và dài hạn được xác định theo số
dư thực tế trên sổ kế toán đã được đối chiếu xác nhận.
5. Giá trị vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp tại các doanh nghiệp khác
được xác định:
a.Giá trị vốn đầu tư dài hạn của công ty nhà nước tại các doanh nghiệp
khác được xác định trên cơ sở:
dụng đất thì việc xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính giá trị doanh nghiệp
được thực hiện như sau:
• Đối với diện tích đất doanh nghiệp đang thuê: giá trị quyền sử dụng
đất tính vào giá trị doanh nghiệp theo giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh
16
16
quy định nhưng không tính tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp mà
hạch toán là khoản phải nộp ngân sách nhà nước. Công ty cổ phần
phải nộp số tiền này cho ngân sách nhà nước để được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Trình tự và thủ tục giao đất, nộp
tiền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực
hiện theo quy định tại Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi
hành Luật Đất đai.
• Đối với diện tích đất doanh nghiệp đã được giao, đã nộp tiền sử
dụng đất cho ngân sách nhà nước: phải xác định lại giá trị quyền sử
dụng đất theo giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định. Khoản chênh
lệch giữa giá trị quyền sử dụng đất xác định lại với giá trị hạch toán
trên sổ kế toán được tính vào giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại
doanh nghiệp.
7. Giá trị tài sản hữu hình
Giá trị thực tế của tài sản được xác định theo công thức:
Giá trị thực tế của tài sản = Nguyên giá tính theo giá thị trường × Chất lượng
còn lại của tài sản tại thời điểm định giá
Trong đó:
a. Giá thị trường là:
• Giá tài sản mới đang mua, bán trên thị trường bao gồm cả chi phí
vận chuyển lắp đặt (nếu có). Nếu là tài sản đặc thù không có trên
thị trường thì tính theo giá mua mới của tài sản cùng loại, cùng
nước sản xuất, có cùng công suất hoặc tính năng tương đương.
Trường hợp không có tài sản tương đương thì tính theo giá tài sản
sau thuế trên vốn
nhà nước bình quân
3 năm trước thời
điểm xác định giá trị
doanh nghiệp
-
Lãi suất trái phiếu
Chính phủ có kỳ hạn
10 năm trở lên tại thời
điểm gần nhất với thời
điểm xác định giá trị
doanh nghiệp
18
18
Trong đó:
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên vốn nhà nước
Lợi nhuận sau thuế bình quân 3 năm liền kề
trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp
Bình quân 3 năm trước = ----------------------------------------------------------
----
x 100%
thời điểm xác định
giá trị doanh nghiệp
Vốn nhà nước theo sổ kế toán bình quân 3 năm
liền kề trước thời điểm xác định giá trị doanh
nghiệp
Tuy rằng cách thức xác định giá trị được quy định cụ thể như vậy nhưng việc áp
dụng trong thực tiễn lại gặp không ít khó khăn và bất cập:
Đối với tài sản hữu hình
lại thiếu thiết bị để sản xuất, lại chưa có vốn để tiếp tục mua sắm tài sản cố định
mới. Trong trường hợp này, doanh nghiệp phải tiếp tục giữ lại những tài sản lạc
hậu đó để tiếp tục hoạt động. Điều này đồng nghĩa với việc áp dụng tỷ lệ ít nhất
là 20% cho chất lượng còn lại của những tài sản loại này khi định giá.
Hơn thế nữa, cách tính toán này dựa trên nguyên giá theo giá trị sổ sách kế toán,
giá trị này lại quá cao do những lần đánh giá lại theo tỷ giá.
Việc tính toán giá trị tài sản như trên sẽ dẫn đến giá trị tài sản tính toán được là
rất cao, bất hợp lý, đẩy giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản lên cao,
không phản ánh đúng thực chất của doanh nghiệp.
Giá trị lợi thế và giá trị tài sản vô hình
a) Giá trị tài sản vô hình
Theo quy định, giá trị tài sản vô hình (nếu có) được xác định theo giá trị còn lại
hạch toán trên sổ kế toán. (Có hướng dẫn riêng đối với giá trị quyền sử dụng
đất)
Vấn đề ở đây là doanh nghiệp là người quyết định thời gian sử dụng của tài sản
vô hình. Nhà nước không quy định khung thời gian cho việc sử dụng các loại tài
20
20
sản vô hình mà chỉ quy định khung thời gian cho việc sử dụng các loại tài sản
hữu hình. Cụ thể, tại Quyết định 206/2003/QĐ-BTC có ghi rõ: “ Doanh nghiệp
tự xác định thời gian sử dụng tài sản cố định vô hình những tối đa không quá 20
năm.”
Từ đó mà nảy sinh những việc làm không thỏa đáng: Tài sản cố định vô hình đã
hết khấu hao, thu hồi đủ vốn nhưng trong thực tế doanh nghiệp vẫn tiếp tục sử
dụng mà lại không đánh giá lại để tính vào giá trị doanh nghiệp như tài sản cố
định hữu hình. Những doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị tài sản vô hình lớn nhưng
lại không dùng phương pháp dòng tiền chiết khấu để định giá. Doanh nghiệp tự
quyết định thời gian khấu hao thường quyết định thời gian khấu hao nhanh, đến
cuôi kỳ khấu hao giá trị còn lại trên sổ sách có thể thấp nhưng giá trị thực tế lại
cao.
Phần vốn góp của DNNN trong liên doanh với nước ngoài
Cách đây khoảng chừng hơn một năm, việc định giá phần vốn Nhà nước tại liên
doanh nước ngoài vẫn còn nhiều khúc mắc. Nếu đưa toàn bộ phần vốn liên
doanh khổng lồ vào giá trị công ty cổ phần thì giá trị doanh nghiệp sẽ quá cao,
khó thu hút được cổ đông. Nhưng nếu không đưa vào thì cũng không biết giao
cho cơ quan nào để quản lý. Trong trường hợp liên doanh làm ăn có lãi và lỗ thì
giá trị phần vốn Nhà nước được xác định như thế nào? Nếu phần lỗ đã ăn vào
phần vốn Nhà nước thì giá trị lúc định giá sẽ tính toán ra sao? Khúc mắc này đã
khiến cho nhiều DNNN có vốn góp liên doanh với nước ngoài chậm cổ phần
hóa.
Tuy nhiên, cải cách tài chính ở nước ta đã tạo nên một bước tiến mới về quản lý
vốn Nhà nước. Đó là sự ra đời của một tổ chức tài chính mới:
Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) được thành lập theo
Quyết định số 151 và 152/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng chính
phủ Việt Nam. Việc thành lập SCIC là phù hợp với tiến trình cải cách kinh tế nói
22
22
chung và cải cách doanh nghiệp Việt Nam. Các mục tiêu cơ bản của việc thành
lập SCIC là nhằm tạo thuận lợi, nâng cao hiệu quả của tiến trình cải cách doanh
nghiệp và hiệu quả sử dụng nguồn vốn của chính phủ.
SCIC là đại diện duy nhất chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp độc lập
được cơ cấu lại và doanh nghiệp cổ phần hóa. SCIC sẽ kiểm soát và điều hành
vốn sở hữu của mình trên cơ sở cơ chế thị trường, cơ chế và chiến lược đầu tư
riêng nhằm hỗ trợ phát triển thị trường vốn Việt Nam và phát triển kinh tế nói
chung. Việc chuyển giao chủ sở hữu sang SCIC nhằm mục đích loại bỏ sự can
thiệp quản lý hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
SCIC đã bắt đầu hoạt động từ tháng 8/2006 và hoàn toàn tuân theo Luật doanh
nghiệp, các luật có liên quan và các qui định của chính phủ. SCIC được xác định
là một tập đoàn lớn và doanh nghiệp tích cực và quan trọng trên thị trường tài
i
K
D
1
)1(
+
P
K
n
n
( )1+
±
Chênh lệch
về giá trị
quyền sử
dụng đất đã
nhận giao
Trong đó:
D
i
(1+ K)
i
: là Giá trị hiện tại của cổ tức năm thứ i
P
n
(1+ K)
n
: là Giá trị hiện tại của phần vốn Nhà nước năm thứ n
trước của trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 10 năm trở lên ở thời điểm gần nhất với thời điểm
xác định giá trị doanh nghiệp.
R
p
: Tỷ lệ phụ phí rủi ro khi đầu tư mua cổ phần của các công ty ở Việt Nam được xác định theo
bảng chỉ số phụ phí rủi ro chứng khoán quốc tế tại niên giám định giá hoặc do các công ty định
giá xác định cho từng doanh nghiệp nhưng không vượt quá tỷ suất lợi nhuận thu được từ các
khoản đầu tư không rủi ro (R
f
).
4. Công thức xác định tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của cổ tức (g)
g = b x R
b : tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại bổ sung vốn.
R : tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân của các năm tương lai.
5. Công thức xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp
Giá trị
thực tế
doanh nghiêp
=
Giá trị thực tế
phần vốn nhà
nước
+
Nợ
thực tế
phải trả
+
Số dư quỹ
khen thưởng,
phúc lợi