Phân tích tác động của khủng hoảng kinh tế tới hoạt động của các
doanh nghiệp May Việt Nam hiện nay.
NHÓM : SUNFLOWERS
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : THẠC SỸ NGUYỄN THỊ HOÀI DUNG
Các thành viên của nhóm:
1. LUYỆN THỊ THẮM Quản trị nhân lực 49B
(nhóm trưởng )
2. NGUYỄN THỊ HOÀI THU Quản trị nhân lực 49B
3. NGUYỄN THỊ GẤM Quản trị nhân lực 49B
4. PHẠM THỊ KIM THOA Quản trị nhân lực 49A
5. NGUYỄN THỊ VÂN ANH Quản trị nhân lực 49B
6. NGUYỄN QUANG MINH Quản trị nhân lực 49B
7. NGUYỄN NGỌC VINH Quản trị nhân lực 49B
8. NGUYỄN THỊ THU HUYỀN Quản trị nhân lực 49B
9. NGUYỄN THỊ SƠN Quản trị nhân lực 49B
10.NGUYỄN XUÂN HOÀ Quản trị nhân lực 49B
11.NGUYỄN TUẤN HÙNG Bất động sản 49
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời nền kinh tế khủng hoảng hiện nay Việt Nam cũng như
nhiều nước trên thế giới phải đối mặt với nhiều khó khăn như khủng hoảng
tài chính, lạm phát, thiếu nhân lực có trình độ. Biểu hiện, năm 2008 tình
hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều diễn biến phức tạp về tài chính
- giá cả; Đầu năm một số mặt hàng thiết yếu và nguyên nhiên vật liệu đầu
vào dùng cho sản xuất bông - xơ, cước phí vận chuyển, lãi suất ngân hàng
tăng cao, thêm vào đó tình hình lạm phát kéo dài và điện lưới quốc gia
cung cấp cho sản xuất thiếu, bị cắt nhiều ngày trong quý II và III/2008;
Đến giữa năm một số nền kinh tế lớn trên thế giới rơi vào suy thoái - khủng
hoảng, giá dầu thô và bông - xơ lại giảm giá nhanh; sức mua trên thị trường
giảm theo; gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chung.
Trong đó, dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm
THẾ GIỚI HIỆN NAY.
1. Mỹ đứng trước khó khăn khủng hoảng.
Tốc độ tăng GDP trong 3 tháng cuối năm 2007 của Mỹ chỉ đạt 0,6%,
so với mức dự báo vốn đã thấp 0,7% công bố trước đó; số nhà bị tịch thu
do không thể trả nợ trong tháng 1/2008 tăng tới 57% so với cùng kỳ; chỉ số
lòng tin của người tiêu dùng giảm mạnh...
Đó là những minh chứng cho thấy kinh tế Mỹ đang có biểu hiện suy
thoái. Rất nhiều ngân hàng của Mỹ sẽ bị vỡ nợ do cuộc khủng hoảng tín
dụng, cùng với tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, đã làm cho cổ phiếu tại thị trường
chứng khoán Mỹ đồng loạt sụt giảm khá mạnh . Thêm vào đó giá nhiên
liệu và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu khác tiếp tục leo thang .
Suy thoái của nền kinh tế Mỹ đã làm căng thẳng thị trường lao động.
Trong tuần lễ kết thúc ngày 23/2/2007, số công nhân Mỹ nộp đơn xin bảo
lãnh thất nghiệp tăng vọt lên 370.000 người so với mức dự kiến 350.000
người Đến ngày 16/2/2008 trên cả nước Mỹ có khoảng 2,81 triệu công
nhân bị thất nghiệp. Chỉ số giá cả hàng tiêu dùng của Mỹ trong quý 4/2007
cũng tăng tới 2,7% so với mức tăng 2% trong quý trước
Hệ quả không thể tránh khỏi của tình trạng chung này là nan thất
nghiệp tăng vọt, với tỷ lệ bị nhân lên gần gấp đôi từ 4,7% vọt lên 8,2%.
2. Châu Á bị tác động dữ dội nhất từ khủng hoảng toàn cầu.
Theo ADB, các thị trường tài chính trong vùng đã phát triển nhanh
hơn các khu vực khác trong thời gian qua. Theo một công trình nghiên cứu
vừa được công bố, thì tỷ lệ trị giá tài sản trên các thị trường tài chính của
khu vực Châu Á đang phát triển (tức là không kể đến Nhật Bản) so với
4
tổng trị giá GDP đã tăng từ 250% vào năm 2003, lên đến 370% vào năm
2007. Trong cùng thời điểm, tỷ lệ này tại vùng Châu Mỹ La Tinh chẳng
hạn, chỉ tăng 30%.
Do khủng hoảng tài chính, trị giá tài sản ''tài chính'' của châu Á đã bị
mất đi 9.600 tỷ đô la, một khoảng tiền cao hơn một năm GDP của toàn
hối, tương đương với 9% GDP.
II. BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNH NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY.
Năm 2008, Việt Nam bị tác động của hai cú sốc liên tiếp - có
chuyên gia gọi là hai cuộc khủng hoảng.
Cũng trong cùng một năm, Việt Nam đã phải hai lần chuyển đổi
mục tiêu ưu tiên với các nhóm giải pháp phù hợp. Hai cú sốc lớn đưa đến
chỗ Việt Nam đối mặt với nguy cơ lạm phát trì trệ
Cuộc khủng hoảng thứ nhất: khủng hoảng nhiên liệu.
Đó là cuộc khủng hoảng giá nhiên liệu, giá lương thực, sắt thép...
trên thế giới. Có người cho rằng, có dầu thô xuất khẩu, có lương thực xuất
khẩu, thì Việt Nam sẽ có lợi trong cuộc khủng hoảng trên thế giới này, chứ
đâu bị tác động tiêu cực?
Đúng là Việt Nam xuất khẩu dầu thô, nhưng lại nhập khẩu xăng dầu
với kim ngạch lớn hơn; còn giá lương thực thế giới tăng sẽ kéo giá lương
thực ở trong nước lên theo. Điều quan trọng là mức lạm phát của Việt Nam
cao hơn còn do những yếu tố ở trong nước cộng hưởng với cuộc khủng
hoảng trên thế giới. Yếu tố ở trong nước xuất phát từ việc chạy theo mục
tiêu tăng trưởng cao (còn gọi là tăng trưởng nóng), kéo theo việc gia tăng
tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, tốc độ tăng dư nợ tín dụng, làm
cho các tốc độ này cao hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP.
Chính những yếu tố đó ở trong nước, cộng hưởng với lạm phát thế
giới đã làm cho lạm phát ở nước ta cao trong năm 2007 (cả năm là 12,63%-
6
tức là bình quân 1 tháng là 1%, riêng 2 tháng cuối năm lên tới
2,07%/tháng), đã bùng phát vào các tháng đầu năm 2008 (6 tháng đầu năm
2008 tăng tới 2,86%/tháng).
Ảnh hưởng lạm phát và nhập siêu cao.
Cùng một lúc với lạm phát, Việt Nam còn bị nhập siêu cao. Nhập
chưa rộng, đồng tiền chưa chuyển đổi, do có sự chủ động ứng phó...),
nhưng cũng rất lớn và khá rộng.
Xuất khẩu có tình trạng tháng sau thấp hơn tháng trước. Tăng trưởng
công nghiệp bị sụt giảm. Lượng khách quốc tế cũng tháng sau thấp hơn
tháng trước và chi tiêu bình quân một lượt khách cũng có xu hướng ít đi.
Vốn đầu tư gián tiếp đang ra nhiều hơn vào, chỉ số chứng khoán xuyên
thủng hết đáy này sang đáy khác, trở về điểm xuất phát cách đây 3- 4 năm.
Nguy cơ suy giảm kinh tế đã xuất hiện. Một lần nữa trong năm nay,
Chính phủ phải chuyển đổi mục tiêu ưu tiên, từ ưu tiên kiềm chế lạm phát,
với giải pháp hàng đầu là thắt chặt tiền tệ, sang ưu tiên ngăn chặn sự suy
giảm kinh tế, với gói 5 giải pháp cấp bách, trong đó kích cầu ngày càng trở
thành giải pháp nổi bật và gói giải pháp tài chính đang được bàn thảo nhiều
nhất.
Sự tác động của khủng hoảng tài chính
Việt Nam cần làm rõ những tác động gián tiếp của cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu lần này để chỉ ra đâu là thách thức cần vượt qua.
Thứ nhất, khả năng rút vốn của các nhà đầu tư gián tiếp. Đây là khả
năng thực tế. Một số nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài có thể sẽ rút vốn của
họ khỏi Việt Nam để củng cố các hoạt động của họ ở thị trường truyền
thống. Tuy nhiên, đây sẽ chỉ là những trường hợp bất dắc dĩ. Các nhà đầu
tư gián tiếp sẽ không dễ dàng rút đi vì họ không thể không thấy cơ hội sinh
lời trong tương lai ở thị trường chứng khoán Việt Nam cao hơn so với thị
trường chứng khoán ở các nước khác.
8
Thứ hai, vốn đầu tư trực tiếp triển khai chậm. Một số nhà đầu tư
trực tiếp có thể chậm đưa vốn vào các dự án đã cam kết với Việt Nam, tuy
nhiên, điều đó chỉ đúng với những nhà đầu tư quá phụ thuộc vào các công
ty tài chính bị sụp đổ và họ chưa thấy cơ hội sinh lời đáng kể trong tương
lai. Nếu Chính phủ đưa ra các chính sách kinh tế rõ ràng và hấp dẫn, hướng
tới sự phát triển bền vững thì sự giảm sút luồng vốn FDI sẽ không nhiều, và
dư thừa từ những quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm cao, như Trung Quốc và các
nước xuất khẩu dầu lửa, đã chảy vào nước Mỹ. Những dòng tiền này khiến
lãi suất tại Mỹ được duy trì ở mức thấp và tạo ra sự bùng nổ trong lĩnh vực
cho vay tín dụng, tiếp đó là sự tăng vọt của giá các loại tài sản như nhà đất
và chứng khoán. Rốt cục, khi những bong bóng này vỡ, khủng hoảng tài
chính nổ ra theo.
2. Sự buông lỏng quản lý đã gây ra khủng hoảng kinh tế.
IMF cho rằng , "thủ phạm" chính gây ra khủng hoảng chính là tình
trạng buông lỏng quản lý hệ thống tài chính, cùng với việc không tuân thủ
kỷ luật thị trường. Do các tập đoàn tài chính không có khả năng sáng tạo
quá cao trong việc phát triển những cơ cấu là công cụ mới để phục vụ cho
nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận cao của giới đầu tư.
Những công cụ này mang tính rủi ro cao hơn những gì người ta có
thể hình dung về chúng. Quá lạc quan về sự gia tăng tiếp theo của giá tài
sản, các nhà đầu tư không chịu nhìn gần vào bản chất của loại tài sản mà họ
đã mua. Thay vào đó, họ dựa vào những phân tích mà các tổ chức xếp hạng
tín nhiệm cung cấp. Trong khi đó, trong một số trường hợp, các tổ chức
đánh giá này thậm chí còn bán lời khuyên về việc làm thế nào để có thể
“bịt mắt” hệ thống xếp hạng tín nhiệm.
Cũng theo IMF, một vấn đề lớn nữa là hệ thống giám sát tài chính tỏ
ra lỏng lẻo, bất lực và có quy mô quá hạn chế. Cơ quan này cho rằng, hệ
thống tài chính phi ngân hàng (shadow banking system) - một mạng lưới có
độ ràng buộc lẫn nhau cực cao, gồm các ngân hàng đầu tư, các quỹ đầu cơ,
10
các tổ chức cho vay địa ốc… - lại không nằm dưới sự giám sát của các quy
chế chặt chẽ (chẳng hạn các quy định về mức độ đủ vốn) thường được áp
dụng cho các ngân hàng thương mại.
Theo lập luận của IMF, một phần lý do dẫn tới tình trạng này là tầm
quan trọng trong hệ thống của các tổ chức thuộc mạng lưới trên đã không
được đánh giá đúng mức như các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, việc
trung bình mỗi ngày nước Mỹ vay nợ thêm 2 tỷ USD.
Bởi lẽ khi thâm hụt thương mại của một quốc gia tăng lên liên tục
trong nhiều năm thi nghiễm nhiên đồng tiền của quốc gia đó nhiều khả
năng sẽ phải giảm giá do ngân hàng trung ương có thể phải in thêm tiền
nhằm tài trợ cho khoản thâm hụt này. Ngoài ra nếu nước Mỹ tiếp tục sử
dụng các khoản nợ nước ngoài nhằm tài trợ cho tiêu dùng thì khi các khoản
nợ này đáo hạn đồng USD sẽ được in ra để trả nợ với khối lượng lớn do đó
không còn hấp dẫn giới đầu tư. Xu hướng này nếu xảy ra sẽ tiếp tục kích
thích giới đầu cơ thực hiện một cuộc tấn công tiền tệ chống lại đồng USD
và do đó trong hoàn cảnh xấu nhất có thể gây ra khủ nghiêm trọng. Đồng
USD mất giá, lòng tin của công chúng vào triển vọng kinh tế xấu đi lập tức
sẽ dẫn tới người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu và nước Mỹ mất đi động lực
chính của mình cho tăng trưởng và chìm vào suy thoái toàn diện.
Các tổ chức tín dụng phải gánh chịu hậu quả đầu tiên bởi các khoản
cho vay dễ dãi của họ không có khả năng thu hồi. Các khoản vay này lại
được chứng khoán hóa và bán cho giới đầu tư khiến cho tình hình càng trở
nên tồi tệ hơn khi giới đầu tư bị thiệt hại nặng nề. Đến lượt mình giới đầu
tư lại bán tháo các khoản đầu tư đang nắm trong tay khiến chúng rớt giá
thảm hại gây thiệt hại nặng cho các ngân hàng đầu tư. Các ngân hàng đầu
tư sụp đổ khiến các khoản ủy thác đầu tư của công chúng bốc hơi và đẩy
hàng trăm ngàn người vào cảnh khánh kiệt. Bên cạnh đó các tổ chức kinh
tế lớn phá sản sẽ khiến hàng triệu người khác lâm vào cảnh mất việc và đến
12
lượt họ lại cắt giảm chi tiêu tối đa hoặc không thanh toán được các khoản
nợ của mình.
B. KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TÁC ĐỘNG TỚI NGÀNH DỆT
MAY VIỆT NAM HIÊN NAY.
I. Thực trạng về tình hình xuất khẩu hàng dệt may ở Việt Nam
hiện nay.
1. Khối lượng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may.
ngạch xuất khẩu của năm 2008 với năm 2007 thì đã có sự đi lên rõ rệt, cao
nhất là tháng 7 năm 2008.
Tính đến tháng 9 năm 2008 thì kim ngạch xuất khẩu đã chiếm một
con số khá lớn đều này có thể thấy được sự tăng trưởng của hàng dệt may
Việt Nam. Trong tháng này, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt
Nam sang hầu hết các thị trường chính đều giảm. Kết quả xuất khẩu cụ thể
của một vài thị trường như sau:
+ Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng dệt may sang Mỹ đạt 469 triệu
USD, giảm 9,85% so với tháng 8 và tăng 23,53% so với cùng kỳ năm
ngoái.
14
+ Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU đạt 125 triệu USD,
giảm mạnh - 20,95% so với tháng trước và chỉ tăng 12,59% so với cùng kỳ
năm 2007.
+ Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản giảm 8,74%
nhưng vẫn tăng 17,9% so với tháng 9/2007, đạt 74,8 triệu USD.
+ Kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc giảm 10%;
+ Kim ngạch xuất khẩu sang Canada giảm 25%;
+ Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường ASEAN giảm 9,71%
Đáng chú ý sau thời gian khá dài đạt thấp và giảm sâu, xuất khẩu
hàng dệt may của Việt Nam sang Đài Loan đã tăng trưởng khá vững. Trong
khi xuất khẩu sang hầu hết các thị trường chính giảm thì kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may sang Đài Loan lại tăng trưởng khá. Trong tháng 9, kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Đài Loan tăng 13,8% so
với tháng 8 và tăng 107% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 33,8 triệu USD.
Tương tự, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Ucraina cũng
tăng trưởng khá trong tháng 9, với mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
74,62% so với tháng 8 và tăng 151% so với tháng 9/2007.
- Tính chung, 9 tháng năm nay, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
của Việt Nam đạt 6,842 tỷ USD, tăng 20,24% so với cùng kỳ năm 2007 và
Bản gần 22 triệu USD; KNXK áo thun đạt hơn 50 triệu USD, tương đương
với khoảng hơn 15 triệu chiếc
- Về sản xuất kinh doanh năm 2009, có lẽ do ảnh hưởng suy giảm
của kinh tế toàn cầu, nhất là thị trưởng Mỹ, EU và Nhật Bản sẽ dẫn đến
đơn hàng may sẽ giảm 20% trong quí 1 và 15% trong quí 2; thị trường sợi
giá bán tiếp tục thấp do giá vật liệu thấp và cạnh tranh gay gắt; các doanh
nghiệp phân phối, ngoài sức mua giảm còn chịu áp lực cạnh tranh trực tiếp
của việc mở cửa thị trường bán lẻ tại Việt Nam.
Nói tóm lại kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam giai
đoạn 2007-2008 tăng khá mạnh so với những năm trước. Đều này đã làm
16
cho mặt hàng dệt may có ưu thế trong những mặt hàng xuất khẩu có kim
ngạch lớn của Việt Nam và đã có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển
kinh tế của Việt Nam. Kỳ vọng của năm 2009 và thời gian sắp tới mặt hàng
dệt may của Việt Nam sẽ có kim ngạch xuất khẩu cao hơn và đạt được một
con ấn tượng.
2. Biến động giá cả hàng dệt may xuất khẩu.
Trong giai đoạn 2007-2008 vừa qua , tình hình xuất khẩu hàng dệt
may ở nước ta đã có những biến động đáng kể về mặt giá cả .Điều này đã
có 1 tác động lớn và đặt ra nhiều thách thức cũng như khó khăn đối với
hoạt động xuất khẩu này.
Theo thống kê của thế giới, các sản phẩm dệt may của VN vào Mỹ
đang bán với giá bình quân 3,8 USD/m2 (giá bình quân của các nước bán
vào Mỹ là 1,7 USD/m2), như vậy sản phẩm dệt may của VN không lo về
quy định chống bán phá giá. Tuy nhiên, cái khó hiện nay của ngành dệt
may trong nước là phụ thuộc quá nhiều vào một vài thị trường như Mỹ
(chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu), EU (17%), Nhật (8%)... nên dễ bị
tác động khi các thị trường trên gặp sự cố. Đặc biệt là vừa qua tình hình
khủng hoảng trên toàn thế giới cũng đã gây ảnh hưởng khá lớn đến hoạt
động xuất khẩu dệt may của nước ta. Giới chuyên môn trong ngành dệt
Từ quý II-2008, tỷ giá đồng USD tăng vọt, đồng thời giá nguyên liệu
nhập khẩu như bông, xơ, phụ liệu, hóa chất thuốc nhuộm... tăng mạnh làm
cho giá thành sản phẩm sợi vải tăng đột biến đã làm cho sản phẩm của
doanh nghiệp không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trong
nước, sản phẩm làm ra bị tồn kho. Nhiều doanh nghiệp cần USD để trả nợ
ngân hàng hoặc đến hạn thanh toán L/C phải mua USD của ngân hàng bán
ra với giá cao hơn nhiều so với tỷ giá niêm yết của ngân hàng. Phó Tổng
Giám đốc Lê Tiến Trường lấy dẫn chứng, khi tỷ giá ngân hàng niêm yết là
16.250 đồng/USD nhưng thực chất doanh nghiệp phải mua với giá 17.500-
19.500 đồng/USD. Như vậy doanh nghiệp cần đồng USD để thanh toán
đều phải mua bằng với giá tại thị trường tự do, làm cho doanh nghiệp phát
sinh khoản chênh lệch tỷ giá khá lớn...
Lãi suất cho vay tăng cao ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các
doanh nghiệp dệt may có nhu cầu vay vốn lưu động, nhiều dự án đầu tư bị
chậm tiến độ. Nhiều trường hợp doanh nghiệp đã ký hợp đồng mở L/C
bằng USD để nhập khẩu nguyên phụ liệu với mức lãi suất 7%/năm, khi
hàng về nhận nợ, ngân hàng thương mại cắt ngang lãi suất chuyển nhận nợ
bằng VNÐ với mức lãi suất từ 14 đến 18%/năm, gây bất bình đẳng trong
quan hệ tín dụng. Mặt khác, khi lãi suất cho vay VNÐ tăng lên 21%/năm,
dẫn đến giá thành sản phẩm tăng cao, không có khả năng tiêu thụ sản
phẩm, nhiều dự án đang trong quá trình thực hiện không có khả năng đầu
tư tiếp.
3. Thị trường hàng dệt may xuất khẩu.
Trong năm 2008 xuất khẩu hàng dệt may những tháng đầu năm đã đạt
được sự gia tăng ở hầu hết các thị trường chính, trong đó xuất khẩu vào
một số thị trường tăng cao như Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraine, Brazil,
Achentina. Cụ thể như sau:
- Đối với Thổ Nhĩ Kỳ: Theo số liệu thống kê của cơ quan Hải quan,
trong tháng 8 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị
19