Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết xây dựng quy hoạch
Ngày 20/3/2003, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 311/QĐ-TTg phê
duyệt Đề án “Tổ chức thị trường trong nước, tập trung phát triển thương mại nông
thôn đến 2010”, trong đó ghi rõ “…củng cố, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và
cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ thương mại theo hướng: Tổ chức, khai thác có
hiệu quả các mạng lưới chợ; đẩy mạnh phát triển các chợ đầu mối, chợ chuyên
doanh…”. Tiếp theo đó, trong Chỉ thị số 13/2004/CT-TTg được Thủ tướng Chính
phủ ban hành ngày 31/3/2004 về thực hiện những giải pháp nhằm phát triển mạnh
thị trường trong nước trong thời gian tới đã “giao nhiệm vụ cho các Bộ, ngành và
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc phát triển kết cấu hạ
tầng thương mại”.
Quán triệt chủ trương của Chính Phủ, lãnh đạo các cấp, các ngành của tỉnh đã
tăng cường các biện pháp nhằm phát triển kết cấu hạ tầng thương mại (KCHTTM)
và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc
đầu tư phát triển hệ thống KCHTTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng và cả
nước nói chung hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết trên nhiều
phương diện khác nhau như: Đảm bảo sự phát triển của hệ thống KCHTTM một
cách tương xứng và hài hoà với sự phát triển của hoạt động thương mại, tạo nên một
diện mạo mới hiện đại và văn minh cho thị trường; đảm bảo những chuẩn mực
chung cơ bản trong phát triển của từng loại hình KCHTTM, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc quản lý đầu tư và phát triển các loại hình KCHTTM ở mỗi địa phương;
mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư nước ngoài và gia tăng đầu tư của các doanh
nghiệp trong nước vào phát triển hệ thống KCHTTM với tư cách là công cụ để thực
thi các chính sách điều tiết và bình ổn thị trường nội địa.
Ngoài ra việc xây dựng qui hoạch phát triển KCHTTM tỉnh Thái Nguyên là
cần thiết còn xuất phát từ những lý do: Các khu công nghiệp lớn và các địa danh du
lịch nổi tiếng của tỉnh rất cần hình thành hệ thống KCHTTM với cơ cấu và qui mô
đáp ứng được yêu cầu, triển vọng phát triển của các khu đô thị, các khu du lịch;
Thái Nguyên là cửa ngõ phía Nam nối vùng Việt Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh
sống xã hội.
- Là cơ sở để hoạch định các cơ chế chính sách, mô hình thương mại, dịch vụ
từng giai đoạn; đề ra các giải pháp để tổ chức, quản lý và phát triển thị trường trong
thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Nhằm đưa các hoạt động thương mại, dịch vụ trên
địa bàn tỉnh phát triển đúng luật và theo hướng văn minh, hiện đại.
4. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
- Phạm vi điều chỉnh
Mọi hoạt động đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng (KCHT), kinh
doanh thương mại, dịch vụ bao gồm: Trung tâm phân phối (TTPP); Trung tâm
thương mại (TTTM); siêu thị; chợ, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ nay đến 2020.
- Đối tượng áp dụng
+ Cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư KCHT, kinh doanh thương
mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
+ Các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển hệ thống KCHT, kinh doanh
thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
+ Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến phát triển hệ thống KCHT,
kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
5. Phương pháp lập quy hoạch
- Phương pháp điều tra, khảo sát;
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, dự báo;
- Các phương pháp khác (chuyên gia, so sánh …).
2
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
PHẦN I
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KCHTTM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1. NHỮNG YẾU TỐ TỰ NHIÊN, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ
HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KCHTTM TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1.1. Yếu tố tự nhiên
a) Vị trí địa lý, hành chính
năm.
* Địa hình: Địa hình tỉnh Thái Nguyên khá phong phú, đa dạng, có 04 nhóm
cảnh quan hình thái địa hình khác nhau:
- Nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng, kiểu đồng bằng aluvi, rìa đồng bằng
Bắc Bộ có diện tích không lớn, phân bố ở phía Nam của Tỉnh, chủ yếu thuộc 02
huyện Phú Bình và Phổ Yên với độ cao khoảng 10-15m. Kiểu địa hình đồng bằng
xen lẫn đồi núi thoải dạng bậc thềm cổ có diện tích lớn hơn, độ cao địa hình vào
khoảng 20-30m và phân bố dọc hai con sông lớn là Sông Cầu và Sông Công thuộc
huyện Phổ Yên và Phú Bình. Các kiểu đồng bằng còn lại phân bố rải rác ở độ cao
lớn hơn.
- Nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi được chia thành 03 kiểu:
3
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
+ Kiểu cảnh quan gò đồi thấp, trung bình, dạng bát úp với độ cao 50 - 70m,
phân bố ở Phú Bình, Phổ Yên.
+ Kiểu cảnh quan đồi cao đồng bằng hẹp, độ cao phổ biến từ 100 - 125m,
chủ yếu phân bố ở phía Tây Bắc của Tỉnh, kéo dài từ Đại Từ tới Định Hoá.
+ Kiểu địa hình đồi cao sườn lồi, thẳng, đỉnh nhọn, hẹp, kéo dài dạng dãy, độ
cao phổ biến từ 100 - 150m, phân bố ở phía Bắc của Tỉnh trong lưu vực Sông Cầu,
từ Đồng Hỷ, Phú Lương đến Định Hoá.
- Nhóm cảnh quan hình thái địa hình núi thấp chiếm tỉ lệ lớn, hầu như chiếm
trọn vùng Đông Bắc của Tỉnh, phân bố dọc ranh giới Thái Nguyên với các tỉnh:
Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, được cấu tạo bởi năm
loại đá chính là đá vôi, đá trầm tích biến chất, đá bazơ và siwu bazơ, đá trầm tích
phun trào và đá xâm nhập axít.
- Nhóm cảnh quan địa hình nhân tác ở Thái Nguyên chỉ có một kiểu là các
hồ chứa nhân tạo, bao gồm các hồ lớn như: Hồ Núi Cốc, Khe Lạnh, Bảo Linh, Cây
Si, Ghềnh Chè…với tổng diện tích mặt nước gần 6.000 ha.
* Địa chất
Cấu trúc địa tầng của Thái Nguyên khá phức tạp, có nhiều nguồn gốc khác
4
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình có lưu vực 3.480 km
2
bắt
nguồn từ Chợ Đồn - Bắc Kạn chảy theo hướng Bắc - Đông Nam.
Ngoài ra, Thái Nguyên có trữ lượng nước ngầm khá lớn nhưng việc khai thác
sử dụng còn hạn chế.
đ) Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại (bao
gồm cả nhóm khoáng sản kim loại, nhóm khoáng sản phi kim và nhóm vật liệu xây
dựng). Trong các loại tài nguyên khoáng sản của Thái Nguyên, có nhiều loại có vai
trò rất quan trọng phục vụ phát triển kinh tế đất nước như: Sắt, than, titan,
vonfram… Ngoài ra, trên địa bàn Tỉnh còn tìm thấy một vài nơi có kim loại quý
như: Đồng, vàng, thuỷ ngân…Tuy trữ lượng của các kim loại này không lớn nhưng
chúng lại có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế.
e) Tài nguyên rừng
Toàn tỉnh Thái Nguyên hiện có 165.106,51 ha đất lâm nghiệp (chiếm khoảng
46,62% diện tích tự nhiên). Trong đó: Diện tích rừng tự nhiên chiếm 50,42%, diện
tích rừng trồng chiếm 23,56% và diện tích rừng phòng hộ chiếm 24,04%. Hiện tại,
tài nguyên rừng ở Thái Nguyên bị suy giảm so với trước đây, một số loại gỗ quý đã
bị khai thác cạn kiệt, số lượng hệ động, thực vật bị giảm sút
1.1.2. Yếu tố chính trị
a) Thái Nguyên là nơi có các cơ sở công nghiệp Trung ương quan trọng
- Hệ thống các cơ sở luyên kim: Công ty gang thép, Công ty kim loại mầu
TN
- Hệ thống các cơ sở cơ khí khu vực Gò Đầm-Sông Công và Bãi Bông-
P.Yên
- Hệ thống các cơ sở sản xuất VLXD: Xi măng Thái Nguyên, La Hiên
- Hệ thống các cơ sở công nghiệp Quốc Phòng: Z
cấu kinh tế của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 được dự kiến là cơ
cấu kinh tế hiện đại với các ngành mũi nhọn có khả năng đột phá, có sức cạnh tranh.
Để đóng góp cho sự chuyển dịch cơ cấu của vùng, Thái Nguyên phải chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trên địa bàn một cách toàn diện, sâu sắc nhằm khai thác có hiệu quả
nhất các tiềm năng tăng trưởng và nâng cao đáng kể chất lượng tăng trưởng, phấn
đấu đưa tỷ trọng ngành Công Thương (bao gồm công nghiệp xây dựng và dịch vụ)
chiếm khoảng 90% GDP của Tỉnh vào năm 2020.
+ Đẩy nhanh quá trình đô thị hoá: Thành phố Thái Nguyên hiện được công
nhận là đô thị loại II, cần phải tiến hành đô thị hoá với tốc độ nhanh hơn nhiều trong
những năm tới để đạt ra các tiêu chí đề ra cho loại đô thị này. Đối với các huyện, thị
xã khác, cần phát triển các khu đô thị mới, các thị tứ, các trung tâm thương mại, du
lịch trong tỉnh. Dự kiến tỷ lệ đô thị hoá của tỉnh đạt khoảng 44 - 45% vào năm
2020. Bên cạnh đó, với những tài nguyên du lịch quý giá (Khu du lịch Hồ Núi Cốc-
Tam Đảo, hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà…), các di tích lịch sử văn hoá (Khu di
tích ATK, bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam, địa điểm cuộc khởi nghĩa Thái
Nguyên năm 1917, di tích lịch sử xã Tiên phong…), các công trình kiến trúc đền
Đuổm (Phú Lương), chùa Hang (Đồng Hỷ), đền Đội Cấn, chùa Phủ Liễn…(Thành
phố Thái Nguyên)…, Thái Nguyên có thể hình thành các tuyến du lịch nối các điểm
tham quan của các tỉnh lân cận như đến Cây đa Tân Trào (Tuyên Quang), Hồ Ba Bể
(Bắc Kạn), động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn)…Với tiềm năng này đã và
đang tạo cho Thái Nguyên là trung tâm du lịch sinh thái và văn hoá, lịch sử của
quốc gia trong tương lai.
1.1.3. Yếu tố xã hội
a) Giáo dục, đào tạo đại học, trung học và đào tạo nghề
- Hiện nay, Thái Nguyên đang là trung tâm nghiên cứu khoa học và giáo dục,
đào tạo của vùng trung du miền núi Bắc Bộ và cả nước có 5 trường đại học, 16
trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.
- Việc dạy nghề, bồi dưỡng kiến thức cho người lao động luôn được Tỉnh rất
chú trọng. Tuy nhiên, nhu cầu đào tạo nghề cho người lao động hiện vẫn chưa được
đáp ứng đầy đủ, số lượng công nhân kỹ thuật được đào tạo hàng năm còn ít, chưa
* Quy mô dân số: Dân số của Thái Nguyên (năm 2007) là 1.137.671 người
(mật độ 321 người/km
2
)
thuộc 8 dân tộc khác nhau. Tốc độ tăng dân số trung bình
của Thái Nguyên ở mức 0,9% /năm.
* Cơ cấu dân số: Tỷ lệ dân số nam và nữ trên địa bàn Thái Nguyên chênh
lệch không đáng kể (Năm 2007, tỉ lệ dân số nữ chiếm 50,1%, nam chiếm 49,9%), tỉ
lệ dân thành thị chiếm 22,81%, dân số hoạt động nông nghiệp chiếm 72,37%.
* Chất lượng dân số: Chất lượng dân số trên địa bàn Thái Nguyên được cải
thiện nhanh và hiện đạt mức cao hơn mức bình quân của vùng, các chỉ số về thể lực
như chiều cao, cân nặng có nhiều tiến bộ qua các năm.
* Nguồn nhân lực: Thái Nguyên hiện có nguồn nhân lực khá dồi dào. Tính đến
năm 2007, dân số trong độ tuổi lao động trên địa bàn là 745.175 người (trong đó:
Lao động đang làm việc trong các phân ngành kinh tế là 633.681 người, lực lượng
lao động có chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên chiếm 27,63%). Tuy nhiên, vẫn
có sự chênh lệch lớn về trình độ nguồn nhân lực giữa khu vực nông thôn và khu vực
thành thị.
1.1.4. Đánh giá về các yếu tố tự nhiên, xã hội có ảnh hưởng đến quá
trình phát triển KCHT thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
a) Tiềm năng, lợi thế
- Thái Nguyên có nhiều cơ sở đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho nhu cầu
của Tỉnh và của vùng trung du miền núi Bắc Bộ. Đây là lợi thế rất quan trọng để
7
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
Tỉnh đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kết cấu hạ tầng
thương mại trong giai đoạn quy hoạch, đưa nhanh khoa học - công nghệ vào sản
xuất và đời sống.
Việc Chính phủ đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và nâng cao năng lực đào tạo
- Việc thực hiện các mục tiêu phát triển của Tỉnh đang gặp khó khăn một
phần do trình độ của người lao động không đồng đều, còn thiếu nhiều lao động có
trình độ cao.
- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trên toàn địa bàn tuy đã có nhiều đổi mới
song vẫn còn nhiều bất cập ảnh hưởng đến việc phát triển kết cấu hạ tầng thương
mại của Tỉnh như: Hệ thống đường sá, cầu cống chưa đáp ứng yêu cầu của khối
lượng hàng hóa vận chuyển đang tăng nhanh, giao thông nông thôn chưa hoàn
chỉnh…
8
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
1.2. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỚNG ĐẾN CUNG CẦU HÀNG HOÁ CỦA THỊ
TRƯỜNG THÁI NGUYÊN
1.2.1. Khả năng cung ứng hàng hoá của thị trường Thái Nguyên
* Khả năng cung ứng các mặt hàng nông, lâm sản: Sản xuất nông, lâm
nghiệp tuy chiếm tỷ trọng giảm dần trong cơ cấu kinh tế nhưng vẫn là ngành
kinh tế quan trọng của Thái Nguyên. Trong những năm gần đây, sản xuất
nông, lâm nghiệp của Thái Nguyên đang từng bước chuyển hướng sang sản
xuất nông, lâm sản hàng hoá để phục vụ nhu cầu thị trường. Các sản phẩm
nông nghiệp chủ yếu của Tỉnh là: Thóc gạo, chè, lạc, đậu tương, gia súc, gia
cầm, hoa quả tươi…
Giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp của Tỉnh tăng từ 1.701 tỷ đồng
năm 2004 (theo giá so sánh 1994) lên 1.938 tỷ đồng năm 2007.
Một số vùng sản xuất nông sản, chăn nuôi hàng hoá tập trung hướng vào
các loại cây, con có sản lượng và giá trị kinh tế cao như: Rừng nguyên liệu,
chè,… Trâu, bò, lợn, gà, Sản xuất lương thực của Thái Nguyên đã đáp ứng
được mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời hình thành và phát
triển được những vùng lúa hàng hoá đặc sản: Bao thai Định Hoá Ngô, sắn,
các loại rau, đậu cũng tăng nhanh về diện tích và sản lượng.
Tỷ trọng dịch vụ nông, lâm sản trong tổng GTSX ngành nông, lâm nghiệp
của Tỉnh hiện chiếm khoảng 4% (theo giá hiện hành). Các dịch vụ cung cấp
- Công nghiệp khai khoáng, luyện kim: Gồm than, quặng sắt, chì, kẽm, thiếc,
pirit, barit, titan, đá xây dựng, sét…, phân bố ở các huyện phía Bắc thành phố Thái
Nguyên. Công nghiệp khai khoáng của địa phương chủ yếu là tận thu. Trừ thiếc được
chế biến tinh, các loại quặng khác sau khi khai thác đều được bán thô. Các thiết bị phân
tích kiểm tra tiên tiến hiện đại không có.
10
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
- Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: Cát, sỏi, xi măng, sét, đá xẻ, gạch
xây… tập trung ở Đồng Hỷ, Võ Nhai, thành phố Thái Nguyên, Phú Lương, Phổ Yên…
Ngành khai thác cát sỏi xây dựng tập trung ở khu vực Sông Cầu, Sông Công. Có 9
doanh nghiệp và 4 nhà máy xi măng lò đứng với công suất nhỏ. Có hai nhà máy sản
xuất gạch tuy-nel: Nhà máy gạch Cao Ngạn có công suất 20 triệu viên/năm và nhà máy
gạch Phổ Yên mới đưa vào vận hành có công suất thiết kế 50 triệu viên/năm.
- Công nghiệp nhẹ: Các sản phẩm chủ yếu là hàng may mặc, da giầy, giấy, tơ
tằm, bao bì, thực phẩm tươi sống, bia, nước giải khát, lắp ráp và kinh doanh xe máy…
- Công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm: Các sản phẩm chủ yếu của
ngành là chè, trái cây, bia hơi, thực phẩm đông lạnh, nước khoáng…
- Công nghiệp điện tử tin học: Gồm lắp ráp điện tử, ứng dụng công nghệ thông
tin, dịch vụ cung cấp, sửa chữa lắp đặt, bảo trì các thiết bị điện tử, tin học.
- Các ngành tiểu thủ công nghiệp: Hoạt động sản xuất TTCN của Thái Nguyên
còn nhỏ bé, tập trung chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, huyện Đồng
Hỷ và huyện Phổ Yên. Nhìn chung, quy mô sản xuất nhỏ, chủ yếu là lao động thủ công,
một số cơ sở gia công sửa chữa cơ khí sản xuất công cụ, dụng cụ có trong những thiết
bị máy móc nhưng đã lạc hậu. Các cơ sở cán thép thiết bị đầu tư chưa đồng bộ, chất
lượng sản phẩm thấp, sản lượng chiếm khoảng 1% tổng sản lượng sản xuất trên địa bàn.
Ở Thái Nguyên hoạt động của làng nghề còn yếu, một số nghề truyền thống
đang bị mai một trong khi các nghề mới chưa được phát triển rộng rãi. Trong những
năm gần đây, một số lĩnh vực sản xuất và một số nghề đã từng bước được khôi phục và
có chiều hướng phát triển như đan lát (cót, rổ rá, rọ tôm), sản xuất mía đường, chế biến
mì, bún bánh, thêu ren…
- Đối với các mặt hàng vật tư cho sản xuất như: Phân bón, thuốc trừ sâu,
xăng dầu… Đây là nhóm hàng chủ yếu do các doanh nghiệp Nhà nước cung ứng,
bán buôn và kết hợp với các doanh nghiệp tư nhân, các đại lý bán lẻ trên địa bàn
Tỉnh.
- Đối với hàng hoá là nguyên liệu đầu vào cho sản xuất công nghiệp của
tỉnh: Luồng hàng hoá là nguyên liệu đầu vào cho sản xuất công nghiệp tỉnh Thái
Nguyên hiện tại chủ yếu là nguyên, phụ liệu phục vụ cho ngành dệt may, sản xuất
thức ăn gia súc, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ…
Nhìn chung, các luồng hàng hoá vào Thái Nguyên không mang tính trung
chuyển, tái phát luồng ra khỏi địa bàn mà chủ yếu phục vụ trực tiếp cho nhu cầu
tiêu dùng của dân cư trong Tỉnh và tổ chức cung ứng trên địa bàn qua hệ thống chợ
hay các đại lý, các doanh nghiệp tư nhân.
* Kênh lưu thông hàng hoá nội tỉnh: Phần lớn hàng công nghiệp tiêu dùng
lưu thông trên địa bàn Thái Nguyên như: Vải vóc, xe đạp, xe máy, đồ điện, vật
phẩm văn hoá, nhiên liệu hoá chất…được đưa từ Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,
Đà Nẵng và các tỉnh khác trong cả nước. Nhìn chung, hàng hoá mua ngoài tỉnh có
xu hướng tăng về tổng giá trị và số lượng mặt hàng, trong đó mặt hàng công nghiệp
thực phẩm chiếm tỷ trọng cao. Ngoài các loại hàng hoá thông thường, Thái Nguyên
còn thực hiện tốt việc cung ứng hàng chính sách phục vụ nhu cầu thiết yếu của dân
cư vùng núi, vùng sâu, vùng xa trong Tỉnh như: Dầu hoả, giấy vở học sinh, muối
ăn, vải dân tộc, thuốc chữa bệnh…
* Các luồng hàng hóa ra
- Các sản phẩm nông nghiệp: Các sản phẩm nông nghiệp do Thái Nguyên
sản xuất có khả năng phát luồng ra ngoài địa bàn không nhiều, chủ yếu là thịt lợn
và một số hoa quả là đặc sản của Tỉnh. Một điều đáng quan tâm là luồng hàng nông
sản của Thái Nguyên ra khỏi địa bàn có tính chất nhỏ lẻ và phân tán, chủ yếu do tư
thương thu gom và trực tiếp đưa đến các thị trường tiêu thụ hoặc làm trung gian
cho các cơ sở, doanh nghiệp chế biến trong nước.
- Các sản phẩm công nghiệp: Các sản phẩm công nghiệp của Thái Nguyên
được phát luồng ra ngoài địa bàn bao gồm: Vật liệu xây dựng các loại, các sản
khoảng 46-47%, dịch vụ 50-51%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng số
việc làm có năng suất cao, tiêu hao ít năng lượng trên cơ sở phát triển các ngành
công nghệ cao và sản xuất các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao.
- Chủ trương phát triển khoa học và công nghệ của cả nước và vùng trọng
điểm kinh tế Bắc Bộ trong những năm tới là hình thành hệ thống các trường đại học,
Viện, Trung tâm nghiên cứu khoa học đầu ngành, gắn chặt nghiên cứu với đào tạo,
sản xuất kinh doanh mang ý nghĩa trọng điểm của cả nước; hình thành mạng lưới
thông tin khoa học và công nghệ hiện đại ở một số ngành quan trọng đủ sức đáp
ứng nhu cầu thông tin của các tổ chức nghiên cứu - triển khai, các trường đại học,
các doanh nghiệp và các cơ quan hoạch định chính sách; hình thành mạng lưới các
tổ chức tư vấn, hỗ trợ khuyến công, nông, lâm, ngư để chuyển giao công nghệ. Chủ
trương trên liên quan toàn diện, trực tiếp đến Thái Nguyên bởi vì một số đầu mối
công nghệ của cả nước và vùng trung du và miền núi Bắc Bộ tập trung ở đây. Do
vậy, Thái Nguyên phải thể hiện được vị thế của mình trong một số lĩnh vực nghiên
cứu, triển khai, truyền bá công nghệ cho cả vùng cùng với Quảng Ninh, Hải Phòng,
Hà Nội.
13
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
- Chiến lược đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát triển đô thị rải đều tại các
vùng lãnh thổ trên phạm vi cả nước một cách hiệu quả với tầm nhìn dài hạn đặt ra
cho Thái Nguyên việc thực hiện đô thị hóa nhanh chóng, chuyển các nhà máy ra xa
nội thành gắn với việc hình thành các khu đô thị vệ tinh; xây dựng các hành lang
kinh tế quan trọng dọc theo các tuyến quốc lộ 10, 18, 5 trên cơ sở phát triển hợp lý
các khu công nghiệp và các trung tâm thương mại, du lịch…
- Do khu vực Đồng bằng sông Hồng được xác định là khu vực kinh tế trọng
điểm của cả nước và là khu vực kinh tế động lực của Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ và
mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ của khu vực này đến 2010 được dự báo đạt 134,19
ngàn tỷ đồng (đạt mức tăng bình quân 10,9%/năm giai đoạn 2006-2010). Quỹ mua
dân cư của toàn khu vực dự báo sẽ đạt 397,6 ngàn tỷ đồng vào năm 2010, đạt mức
tăng 11,3 %/năm trong giai đoạn 2006-2010.
14
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
vụ phục vụ hoạt động lưu thông hàng hoá phát triển mạnh giúp thúc đẩy phát triển
sản xuất và phục vụ đời sống.
- Tham gia hoạt động thương mại trên thị trường Thái Nguyên có sự góp mặt
của các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế. Các doanh nghiệp quốc
doanh trên địa bàn đã cơ bản được sắp xếp, tổ chức lại sản xuất theo phương thức
cổ phần hoá, thích ứng dần với cơ chế thị trường, hoạt động kinh doanh đa dạng,
nắm khâu xuất, nhập khẩu, bán buôn đối với các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản
xuất và tiêu dùng như xăng dầu, điện, nước…
- Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động thương mại, dịch
vụ cũng có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, đặc biệt trong lĩnh vực bán lẻ và
dịch vụ. Hiện trên địa bàn Tỉnh đã xây dựng và đưa vào hoạt động một số trung tâm
thương mại, siêu thị, cửa hàng tự chọn, bước đầu hình thành một số cụm thương
mại, dịch vụ ở các thị trấn, thị tứ gần các trục đường giao thông, hệ thống chợ dần
được cải tạo và phát triển, các cửa hàng bán lẻ phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu
buôn bán thuận tiện của dân cư.
1.3.2. Những thách thức, bất cập trong phát triển thương mại và
KCHTTM
Trong thời gian từ nay đến 2015 và những năm tiếp theo, sự phát triển kinh tế - xã
hội nói chung và sự phát triển hoạt động thương mại nói riêng của Thái Nguyên có
nhiều lợi thế so với một số tỉnh trong vùng và cả nước nhưng cũng đang phải đứng
trước những thách thức không nhỏ. Cụ thể là:
- Kinh tế Thái Nguyên phát triển nhanh nhưng còn có biểu hiện chưa thật sự bền
vững như: Sự phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, vốn đầu tư thiếu, thừa
lao động phổ thông, thiếu lao động kỹ thuật, lao động tay nghề cao, đội ngũ cán bộ khoa
học kỹ thuật tuy đông nhưng bất hợp lý về cơ cấu, thiếu chuyên gia đầu ngành…
- Kinh tế hàng hóa trên địa bàn Tỉnh phát triển chậm, sức cạnh tranh yếu, nạn phá
rừng và khai thác cạn kiệt tài nguyên vẫn tồn tại đang là nguy c¬ nghiªm träng cho sù
ph¸t triÓn thiếu bÒn v÷ng cña nÒn kinh tÕ TØnh.
Các siêu thị, cụm thương mại, hệ thống chợ, cửa hàng, quầy hàng phát triển chưa có
quy hoạch nên tính ổn định và mức độ sử dụng còn nhiều hạn chế .
PHẦN II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI TỈNH
THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2005 - 2008
2.1. MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
PHÁT TRIỂN KCHT TM TRÊN TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2005 - 2008
2.1.1. Tăng trưởng GDP
16
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
Trong thời gian từ năm 2005 đến nay, Thái Nguyên đã đạt những thành tựu
đáng khích lệ về quy mô, tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tốc độ
tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Thái Nguyên tăng từ 9,36% năm 2005
lên 12,46% năm 2007 và năm 2008 ước đạt 12,5%. Mức tăng trưởng GDP bình
quân giai đoạn 2005 - 2008 đạt 12,03%/năm (Trong đó: Công nghiệp - xây dựng
đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 16,77%/năm; dịch vụ - thương mại tăng
bình quân 12,72%/năm và nông, lâm nghiệp tăng 4,33%/năm. GDP bình quân đầu
người của Thái Nguyên đạt 7,13 triệu đồng/người năm 2006, năm 2007 đạt 8,67
triệu đồng/người.
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2005 -2008 Đơn vị tính: %
Số
TT
Chỉ tiêu
Năm
Tăng trưởng
BQ
2005 2006 2007
Ước 2008
1
2
Nhóm ngành thương mại- dịch vụ có tỷ trọng tăng tương ứng từ 35,08% năm 2005
lên 36,20% năm 2007 và ước năm 2008 đạt khoảng 35,71%; nhóm ngành nông,
lâm nghiệp tăng tương ứng 26,21% năm 2005 lên 24,25% năm 2007 và ước năm
2008 đạt khoảng 23,52%. Các ngành kinh tế chủ lực, có lợi thế được tập trung phát
triển, một số ngành đạt bước phát triển đột phá, thị trường trong nước và quốc tế
được mở rộng, có thêm nhiều ngành sản xuất và nhiều sản phẩm mới tham gia thị
trường, tỷ lệ nội địa hoá và hàm lượng khoa học công nghệ trong sản phẩm được
nâng lên, nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao, có khả năng đứng vững trên thị
trường trong nước và quốc tế.
2.1.2. Tình hình đầu tư
Trong giai đoạn 2005 - 2008, toàn Tỉnh huy động vốn cho đầu tư phát triển được
15.693 tỷ đồng. Tỷ lệ huy động trên GDP bình quân 3 năm đạt 50,2%, trong đó,
vốn ngoài ngân sách chiếm tỉ trọng khoảng 73% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Bảng 2: Tình hình đầu tư giai đoạn 2005 - 2008 Đơn vị tính: Tỷ đồng
Số
TT
Chỉ tiêu
Năm
17
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
2005 2006 2007 Ước 2008
Tổng cộng 3.729,6 4.723 4.895,7 5.630
1. Phân theo cấp quản lý
1.1.
1.2.
Trung ương
Địa phương
1.213,9
2.515,7
1.702,6
USD, vốn thực hiện là 98,05 triệu USD). Các đối tác chủ yếu là Trung Quốc (12 dự
án), Nhật Bản (4 dự án), Đài Loan (4 dự án), Đức (3 dự án), Singapore (1 dự án) và
Canađa (1 dự án).
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2005 - 2008
Cùng với sự phát triển kinh tế, hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên ngày càng phát triển và đạt được những thành tựu đáng khích lệ.
2.2.1. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ
Theo số liệu của Sở Công Thương Thái Nguyên, tổng mức bán lẻ hàng hoá và
doanh thu dịch vụ xã hội trên địa bàn Tỉnh tăng từ 3.564,2 tỷ đồng năm 2005 lên 4.790 tỷ
đồng năm 2007 và ước đạt 6.600 tỷ đồng năm 2008. Tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ
18
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội trên địa bàn bình quân giai đoạn 2005 - 2008 đạt
khoảng 22,8%/năm. Nhu cầu hàng hoá sản xuất và tiêu dùng được đáp ứng đầy đủ, giá cả
ổn định.
Bảng 3: Tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Số
TT
Chỉ tiêu
Năm
Tốc độ tăng
trưởng BQ
2005 2006 2007
Ước
2008
TMLCBLHHXH và
doanh thu dịch vụ
3.564,2 3.980,2 4.790 6.600 22,8
đó chứng tỏ rằng: (1) Nhu cầu có khả năng thanh toán của các tầng lớp dân cư tỉnh Thái
Nguyên tăng lên đáng kể (Sức mua của dân cư tăng tỷ lệ thuận với tốc độ tăng của tổng
mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ thị trường xã hội); (2) Giá cả thị trường trong
cả thời kỳ tương đối ổn định (Chỉ số giá tiêu dùng so với tháng trước không có hiện
tượng tăng đột biến); (3) Kinh tế Thái Nguyên đã chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường,
kinh tế Nhà nước chỉ còn nắm ở một số khâu trọng yếu để điều tiết nền kinh tế vĩ mô (tỷ
trọng trong khu vực kinh tế Nhà nước giảm dần).
2.2.2. Thực trạng hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên giai đoạn 2005 - 2008
a) Đối với hoạt động xuất khẩu
- Trong những năm vừa qua, hoạt động xuất khẩu của tỉnh Thái Nguyên có
những bước phát triển mạnh cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng. Giá trị kim ngạch
xuất khẩu tăng từ 35.416 nghìn USD năm 2005 lên 67.744 nghìn USD năm 2007
(tăng 27,76% so với năm 2006) và năm 2008 ước đạt 121.051 nghìn USD. Tốc độ
tăng trưởng bình quân của kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Tỉnh giai đoạn 2005 -
2008 đạt 39,35%.
19
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Thái Nguyên giai đoạn 2005 - 2008
Đơn vị tính : nghìn USD
Số
TT
Chỉ tiêu
Năm
Tốc độ tăng
trưởng BQ
2005 2006 2007
Ước
2008
Tổng KNXK
23.000
23.756
29.267
20.089
44.655
29.249
66.594
33,05
42,53
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Thái Nguyên
Riêng khu vực kinh tế nhà nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân
2005 - 2008 đạt 55,2%/năm, con số này đối với khu vực kinh tế dân doanh đạt
31,75%/năm, đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mặc dù có tốc độ
tăng trưởng khá (33,47%/năm) song giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt được vẫn còn
nhỏ bé (8.482 triệu USD năm 2008). Xét theo góc độ cấp quản lý thì kim ngạch
xuất khẩu do địa phương quản lý chiếm ưu thế (64,9 - 69,4% tổng giá trị kim ngạch
xuất khẩu); giá trị kim ngạch xuất khẩu do Trung ương quản lý chỉ chiếm 30,6 -
35,1%; đạt 12.416 nghìn USD năm 2005 và ước đạt 29.249 nghìn USD năm 2008 (tăng
45,6% so với năm 2007).
- Cơ cấu các nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu đã được cải thiện nhất định nhờ
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng
của các nhóm, mặt hàng đã qua chế biến tăng dần, chất lượng hàng hóa xuất khẩu
đã được nâng lên đáng kể. Một số mặt hàng xuất khẩu của Thái Nguyên đã đủ sức
cạnh tranh để giữ vững và tăng nhanh thị phần trên thị trường thế giới như: Thiếc,
chè khô các loại, hàng may mặc, các sản phẩm kim khí, dụng cụ y tế, thú y, giầy đế,
đũa tre
Bảng 5: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005 - 2008
Đơn vị tính :nghìn USD
Số
TT
sản qua sơ tuyển, thiếc thỏi cũng mới xuất khẩu dạng thiếc tinh 99,95 - 99,97%
Tỷ trọng hàng xuất khẩu đã qua chế biến chưa có sự cải thiện tích cực do công nghệ
chế biến còn lạc hậu.
- Về thị trường xuất khẩu: Hiện nay, các sản phẩm may mặc của Thái Nguyên
đã và đang tiêu thụ tốt tại thị trường Hoa Kỳ, Canađa, Đức, Pháp , các mặt hàng
nông sản của Tỉnh đang được xuất khẩu sang các nước Châu Á và một số nước
Trung Đông, mặt hàng quặng đã qua chế biến chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc,
Anh , một số mặt hàng là dụng cụ y tế xuất sang thị trường Nhật Bản
b) Đối với hoạt động nhập khẩu
- Cũng như hoạt động xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu của Thái Nguyên cũng
có bước tăng trưởng khá tuy chưa ổn định. Giá trị nhập khẩu của các doanh nghiệp
trên địa bàn tăng từ 135.025 nghìn USD năm 2005 lên 180.561 nghìn USD năm 2007.
Con số này năm 2008 ước đạt 170.000 nghìn USD, trong đó chủ yếu là nhập khẩu
trực tiếp (chiếm 96,4 - 99%), lượng nhập khẩu theo hình thức uỷ thác chỉ chiếm một
lượng rất nhỏ (1-3,6%).
Bảng 6: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Thái Nguyên giai đoạn 2005 -
2008
21
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
Đơn vị tính : nghìn USD
Số
TT
Chỉ tiêu
Năm
Tốc độ
tăng
2005 2006 2007 Ước 2008
1
2
Tổng cộng
Nguyên - một trong những đô thị, trung tâm kinh tế thương mại của Tỉnh và của cả
vùng trung du miền núi Bắc Bộ - là hạt nhân. Hiện Thành Phố Thái Nguyên đang
giữ vai trò là đầu mối tập trung giao dịch buôn bán, mở đầu các kênh buôn bán vật
tư và hàng công nghiệp tiêu dùng, đồng thời là trung tâm trung chuyển, phân phối
các kênh mua bán hàng hoá nông, lâm sản, thực phẩm…
* Thị trường khu vực nông thôn miền núi, vùng cao:
- Thị trường khu vực nông thôn miền núi, vùng cao của Thái Nguyên rất rộng
lớn và đa dạng. Đây là nơi tiêu thụ hàng hoá vật tư nông nghiệp, hàng công nghiệp
tiêu dùng đồng thời là nguồn cung cấp nông sản, thực phẩm cho tiêu dùng ở thành
thị và nguyên liệu cho ngành chế biến xuất khẩu. Từ nhiều năm nay, ở khu vực
nông thôn miền núi, vùng cao của Thái Nguyên đã hình thành các cơ sở sản xuất,
chế biến hàng hoá phục vụ xuất khẩu như: Chè, hàng may mặc, nông sản thực
phẩm, quặng tinh…
- Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 38.745 cơ sở tham gia kinh
doanh thương mại dịch vụ (Trong số đó, chỉ có 12 doanh nghiệp Nhà nước (chiếm
0,031%), 572 doanh nghiệp dân doanh (HTX: 20), số hộ kinh doanh cá thể chiếm
tới 98,49% tổng số hộ kinh doanh). Trên thực tế, chủ thể kinh doanh thương mại
dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên chủ yếu vẫn là các cơ sở nhỏ lẻ, tập trung
trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ôtô, môtô, xe máy, xe có động cơ khác và
dịch vụ lưu trú, ăn uống.
22
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
- Nhiều năm qua, hệ thống doanh nghiệp kinh doanh thương mại thuộc các
thành phần kinh tế ở Thái Nguyên phát triển mạnh. 95% doanh nghiệp Nhà nước
được sắp xếp lại và chuyển đổi hình thức sở hữu thành Công ty cổ phần. Hệ thống
doanh nghiệp sau cổ phần đã năng động hơn, phương thức hoạt động được đổi mới,
quy mô hoạt động được mở rộng tạo cơ sở phát triển mạnh các kênh phân phối và
tiêu thụ hàng hóa ở trong nước.
Bảng 7: Thực trạng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2008
7
Hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ,
hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ
31 676
8
Giáo dục và đào tạo
Nghệ thuật, vui chơi, giải trí
7 139
9 Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân khác 2 1.802
10
Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội
2
95
Cộng 12 572 38.161
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Thái Nguyên
23
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
Thương mại hợp tác xã trên địa bàn Thái Nguyên tiếp tục được đổi mới,
doanh nghiệp dân doanh phát triển nhanh đã hình thành các kênh tiêu thụ hàng hóa
chủ lực, đảm bảo hoạt động thương mại gắn liền với sản xuất và dịch vụ tạo ra một
khối lượng hàng hóa lớn chiếm thị phần tiêu thụ chủ yếu tại vùng Trung du, miền
núi phía Bắc, tại các địa phương khác trong cả nước và tham gia xuất khẩu.
2.3.2. Các kênh phân phối hàng hóa truyền thống
Việc phân phối hàng hoá trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên được thực hiện chủ
yếu thông qua mạng lưới chợ. Hiện trên địa bàn tỉnh có 135 chợ các loại và đảm
nhận phân phối đến 90% lượng hàng hoá luân chuyển trên địa bàn. Mạng lưới chợ
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng, thực hiện dịch vụ phân phối hang hoá ở
tất cả các khu vực: Thành thị, nông thôn, miền núi, vùng cao.
+ Các chợ bán buôn: Tập trung chủ yếu ở Thành phố Thái Nguyên, các thị
xã, thị trấn trung tâm các huyện. Đây là các trung tâm phát luồng hàng hóa phục vụ
Quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009-2020
Chợ bán lẻ ở Thái Nguyên rất đa dạng, hàng hóa kinh doanh trên chợ khá
phong phú, nhiều cấp độ chất lượng và giá cả nhằm phù hợp với sức mua và tập
quán tiêu dùng của dân cư.
Ở khu vực đô thị của Tỉnh, các chợ bán lẻ chủ yếu cung cấp hàng thực phẩm,
hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày của dân cư.
Ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng cao, các chợ bán lẻ chủ yếu cung cấp
hàng tiêu dùng, nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp và mua bán nông sản phẩm
của địa phương.
2.3.3. Các kênh phân phối hàng hóa hiện đại
Bên cạnh sự phát triển của các kênh phân phối hàng hoá truyền thống, các
kênh phân phối hàng hoá hiện đại như: Hệ thống siêu thị (có 9), các cửa hàng tiện
ích, tự chọn… xuất hiện ngày một nhiều trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Nguồn
hàng cung ứng cho các siêu thị, cửa hàng trên có thể do các nhà đại lý độc quyền
cho các hãng nước ngoài ký hợp đồng cung ứng, hoặc các nhà bán lẻ lớn (các công
ty thương mại tổng hợp, các siêu thị, các cửa hàng bách hoá…) ký hợp đồng với các
nhà bán buôn, các nhà sản xuất để họ đảm bảo cung ứng hàng hoá thường xuyên,
hoặc các doanh nghiệp thương mại và các doanh nghiệp sản xuất ký hợp đồng sản
xuất và tiêu thụ hàng hoá với các HTX và hộ sản xuất, hoặc các nhà bán buôn lớn
ký hợp đồng đặt hàng với các doanh nghiệp, hộ sản xuất, chế biến, đồng thời cung
ứng nguyên liệu hoặc giới thiệu công nghệ, hỗ trợ vốn cho họ để sản xuất và cung
ứng các mặt hàng theo nhu cầu. Do vậy, các quan hệ liên kết để sản xuất và tiêu thụ
hàng hoá giữa các doanh nghiệp thương mại với các nhà sản xuất được thiết lập,
củng cố và phát triển.
Ngoài ra, trên thị trường tỉnh còn xuất hiện khá nhiều các dãy phố buôn bán,
tiệm tạp hoá…cũng thực hiện dịch vụ phân phối hàng hóa.
2.4. THỰC TRẠNG VỐN, LAO ĐỘNG VÀ HẠ TẦNG CƠ SỞ PHỤC VỤ PHÁT
TRIỂN THƯƠNG MẠI VÀ KCHT THƯƠNG MẠi TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
2.4.1. Thực trạng vốn kinh doanh thương mại
Kết quả điều tra cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh