Chương 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ CHỈ THỊ SINH HỌC MÔI TRƯỜNG
I. KHÁI NIỆM VỀ CHỈ THỊ SINH HỌC MÔI TRƯỜNG
1.1 Những khái niệm về sinh vật chỉ thị
1.1.1 Khái niệm về môn học
Từ lâu các nhà khoa học thuộc các chuyên môn khác nhau đã sử dụng nhiều
loài thực vật phục vụ cho công tác chuyên môn (bản đồ địa chất, phân bố khoáng
sản, phân loại đất,…)
Khi nghiên cứu môi trường nhận thấy: những sinh vật bị các chất gây ô nhiễm
hoặc các chất tự nhiên có nhiều trong môi trường tác động, có thể biểu hiện những
dấu hiệu dễ nhận biết.
Các kiểu tác động của môi trường lên sinh vật có thể quan sát bằng mắt thường
hoặc qua một số biểu hiện sau:
• Những thay đổi về đa dạng loài, thành phần loài, nhóm ưu thế trong
quần xã.
• Tăng tỷ lệ chết trong quần thể, đặc biệt ở giai đoạn non.
• Thay đổi sinh lí, tập tính của cá thể.
• Khiếm khuyết về hình thái và tế bào của cá thể.
• Sự tích lũy các chất ô nhiễm trong các cá thể.
Việc nghiên cứu và sử dụng các sinh vật để đánh giá, kiểm soát và cải thiện môi
trường đã đạt được nhiều thành tựu trên thế giới. Tất cả các nước phát triển đã có
những nghiên cứu nhiều năm sử dụng các nhóm sinh vật để đánh giá môi trường và
hình thành nên môn học chỉ thị sinh học môi trường.
1.1.2. Khái niệm về sinh vật chỉ thị môi trường
Mỗi đối tượng sinh vật có yêu cầu nhất định về điều kiện sinh thái liên quan
đến nhu cầu dinh dưỡng, hàm lượng O2, khả năng chống chịu một hàm lượng nhất
định các yếu tố độc hại trong môi trường sống. Do đó, sự hiện diện hay không của
chúng biểu thị một tình trạng điều kiện sinh thái của môi trường sống nằm trong
hay vượt giới hạn nhu cầu và khả năng chống chịu của đối tượng sinh vật đó.
Đối tượng sinh vật: là sinh vật chỉ thị môi trường, có thể là các loài sinh vật
hoặc các tập hợp loài.
Các điều kiện sinh thái chủ yếu là các yếu tố vô sinh: Hàm lượng các chất dinh
• Cây á nhiệt đới
Nhiệt độ
Trong một phạm vi nhất định, nhiệt độ càng tăng thì càng làm tăng độ phát triển
của sinh vật.
Sinh vật có thể phản ứng với nhiệt độ bằng nhiều hình thức khác nhau.
Nước và độ ẩm
Nước có vai trò rất quan trọng đối với sinh vật. Nước tham gia vào tất cả các
hoạt động sống của sinh vật.
Phân loại theo mức độ phụ thuộc vào nước, gồm:
• Sinh vật ở nước: cá, thực vật thủy sinh,…
• Sinh vật ưa ẩm cao: lúa, cói, lác,…
• Sinh vật ưa ẩm vừa: tếch, trầu không,…
• Sinh vật ưa ẩm thấp: xương rồng, thầu dầu,…
Các chất khí
Khí quyển cung cấp O
2
và CO
2
cho sinh vật, xử lý một phần các chất ô nhiễm.
Khi thành phần, tỷ trọng các chất khí có trong khí quyển thay đổi có thể gây hại
cho sinh vật.
Thực vật có vai trò quan trọng trong xử lý các chất khí gây ô nhiễm môi trường
(CO
2
, SO
2
).
Các chất khí hòa tan (muối):
Chất khoáng có vai trò quan trọng trong cơ thể sinh vật, giúp điều hòa các quá
trình sinh hóa, áp suất thẩm thấu của dịch mô và các hoạt động chức năng khác.
xã sinh vật.
Tất cả các hoạt động kinh tế liên quan đến HST luôn chịu ảnh hưởng và tác
động vào quá trình diễn thế sinh thái.
Nguyên nhân xảy ra diễn thế sinh thái:
• Nguyên nhân bên trong: gây nên nội diễn thế nằm trong chính tổ chức
của chính HST, sự sinh sản và cạnh tranh sinh tồn của các sinh vật.
• Nguyên nhân bên ngoài: bao gồm các yếu tố từ bên ngoài tác động lên
HST làm thay đổi nó, gây nên ngoại diễn thế.
Tác động làm biến đổi của môi trường gây ảnh hưởng trên cơ thể sống có thể
quan sát:
• Những thay đổi về thành phần loài hoặc các nhóm ưu thế
• Những thay đổi về đa dạng loài
• Tăng tỷ lệ chết trong quần thể…
Do ảnh hưởng của diễn thế sinh thái mà các chỉ thị sinh học có thể sử dụng để
đánh giá tình trạng suy thoái, đặc biệt là khu cần bảo tồn.
1.1.4. Phân nhóm sinh vật chỉ thị
Dựa vào tác dụng của sinh vật chỉ thị:
• Công cụ để giải đoán môi trường là các loài SVCT mẫn cảm với điều
kiện môi trường không thích hợp, có thể sử dụng chúng làm công cụ để
nhận biết tình trạng môi trường.
• Công cụ thăm dò là những loài SVCT thích nghi đối với môi trường nhất
định, sự xuất hiện của chúng có thể dung để đo phản ứng và thích nghi
đối với sự thay đổi của môi trường.
• Công cụ khai thác là các loài SVCT có khả năng tích lũy các chất trong
mô của chúng.
• Công cụ tích lũy SH: các loài SVCT có khả năng tích lũy các hóa chất
trong mô của chúng.
• Sinh vật thử nghiệm là các sinh vật được chọn lọc để nghiên cứu trong
điều kiện thí nghiệm nhằm xác định các chất gây ô nhiễm.
1.1.5. Tính chất của sinh vật chỉ thị
loài chỉ thị đánh giá môi trường, lập bản đồ về sự ô nhiễm môi trường.
1.3. Khái niệm mở rộng về sinh vật chỉ thị
1.3.1. Sinh vật cảm ứng
SVCT có thể tiếp tục tồn tại trong môi trường ô nhiễm dù có thể biến đổi do tác
động của chất ô nhiễm.
Nhờ đặc điểm này của sinh vật cảm ứng mà có thể nhận biết về đặc điểm của
môi trường.
1.3.2. Sinh vật tích tụ
SVCT không bị biến đổi trong môi trường bị ô nhiễm do có khả năng đặc biệt
trong việc tích tụ những loại chất gây ô nhiễm nhất định trong mô với hàm lượng
cao hơn nhiều so với môi trường.
Vì vậy sinh vật tích tụ không chỉ có khả năng chỉ thị cho môi trường nhất định
mà còn dễ bị phát hiện hơn qua những phân tích hóa học.
Trong số những sinh vật loại này rêu thường được sử dụng rộng rãi nhất, tảo,
thực vật lớn cũng thường được sử dụng, cá và động vật không xương sống cũng có
thể sử dụng.
1.3.3. Sinh vật thăm dò và cảnh báo
Sinh vật thăm dò và cảnh báo là những loài sinh vật bản địa đơn lẻ, có khả năng
thể hiện phản ứng có thể đo được đối với chất ô nhiễm.
Sinh vật thăm dò và cảnh báo được sử dụng như một chỉ thị cảnh báo sớm về sự
có mặt của các chất ô nhiễm trong môi trường.
1.4. Dấu hiệu sinh học
Dấu hiệu sinh học là những thể hiện sự phản ứng của sinh vật đối với tác động
của chất ô nhiễm trong môi trường.
Có 2 loại chính:
• Dấu hiệu sinh lý- sinh hóa
• Dấu hiệu sinh thái
1.4.1. Dấu hiệu sinh lý- sinh hóa
Dấu hiệu này dễ nhận biết
Có nhiều ý nghĩa, nhất là các chỉ số liên quan tới khả năng sống sót, sự sinh
Sử dụng chỉ số đa dạng để đánh giá 3 khía cạnh của cấu trúc quần xã:
• Số lượng loài hoặc độ phong phú loài.
• Tổng lượng sinh vật (độ phong phú) của mỗi loài.
• Tính đồng nhất phân bố các cá thể giữa các loài khác nhau (tính đồng
đều).
Hiện có một số phương pháp thông dụng tính chỉ số đa dạng là: Shannon-
Weiner (H’), Simpson (D), Malgalef (DMg).
1.7. Chỉ số tương đồng
Chỉ số tương đồng là sự so sánh độ phong phú loài tại hai điểm thu mẫu khác
nhau, trong đó một điểm được xem làm đối chứng.
Có nhiều cách tính chỉ số tương đồng, nhưng thông dụng nhất phương pháp
tính: chỉ số Sorensen (C); hệ số Jaccard (J); chỉ số tương đồng quần xã Pinkham
&Pearson (P).
Sử dụng các chỉ số đa dạng và tương đồng có những ưu điểm và hạn chế nhất
định.
1.8. Chỉ thị hình thái và mô
Các thông số về hình thái, cung cấp những dấu hiệu có thể đo đạc hoặc nhìn
thấy rõ tác hại do chất gây ô nhiễm gây nên cho sinh vật.Chỉ thị hình thái và mô có
sự khác nhau giữa động vật và thực vật.
1.8.1. Đối với thực vật
Các thông số (chỉ tiêu) thường sử dụng trong chỉ thị hình thái và mô:
• Tốc độ sinh trưởng tương đối, trọng lượng, tuổi, chỉ số diện tích lá
• Sự hư hại thực vật (có thể quan sát được bằng mắt) như: lá bị vàng, bị
đốm hoặc hoại sinh (đặc biệt để quan trắc mưa axit).
Trong nhiều trường hợp, chỉ thị hình thái- mô của một số loài thực vật được sử
dụng để phát hiện sự có mặt một số chất gây ô nhiễm không khí (sự hư hại lá cây
thuốc lá là chỉ dẫn cho ô nhiễm O3).
1.8.2. Đối với động vật
Các thông số thường sử dụng trong chỉ thị hình thái và mô:
• Tuổi, kích thước, tốc độ tăng trọng, tỷ lệ sinh sản.
pháp trên đều rất tốn kém kinh phí, giới hạn về kĩ thuật và hạn chế về diện tích.
Do đó, phương pháp sử dụng thực vật để xử lý ô nhiễm KLN trong đất, nước
được quan tâm đặc biệt bởi kĩ thuật đơn giản, chi phí đầu tư rất thấp, an toàn và
thân thiện với môi trường.
III, GIÁM SÁT VÀ QUAN TRẮC SINH HỌC MÔI TRƯỜNG
3.1 Khái niệm về giám sát và quan trắc sinh học
Giám sát sinh học gồm các khảo sát khác nhau tiến hành trong cùng một thời
gian.trong đó khảo sát sinh học (điều tra sinh học) là sự kiểm kê tính các sinh vật,
các biến đổi và những quá trình xảy ra trong một môi trường đã chọn.
Quan trắc sinh gọc là việc giám sát sinh học với mục đích đặc trưng để đảm bảo
tuân thủ những giới hạn các chất gây ô nhiễm trong môi trường theo bộ tiêu chuẩn
đã được luật pháp quy định.
Mặc dù quan trắc sinh học bao gồm giám sát sinh học, tuy nhiên cần phân biệt
rõ hai khái niệm này.
3.2 Ý nghĩa của quan trắc sinh học
Nghiên cứu các phương pháp giám sát sinh học cho việc quan trắc chất lượng
môi trường có thay thế cho các phương pháp hóa học đắt tiền.
Các phương pháp quan trắc sinh học còn có thể tạo ra những ưu việt đáng kể so
với phương pháp hóa học.
Quan trắc ô nhiễm dựa vào việc thu mẫu vật để phân tích hóa học tại những
khoảng thời gian khác nhau vừa tốn tiền vừa khó thực hiện đặc biệt trong điều kiện
môi trường thay đổi (không khí hoặc dòng nước chảy), nhưng lại có thể thực hiện
bình thường bằng phương pháp quan trắc sinh học.
Nhiều chất gây ô nhiễm có thể có mặt trong môi trường nhưng không phát hiện
được phương pháp phân được), trong khi đó lại có thể phát hiện được nhờ quan trắc
sinh học.
Do các sinh vật chỉ thị của quần xã sinh vật có khả năng phản hồi với bất kỳ
chất ô nhiễm nào có trong môi trường dù ở mất rất thấp nên sự thay đổi được phát
hiện (SVCT) đều có thể là dấu hiệu báo trước cho việc lấy mẫu phân tích hóa học
đạt kết quả tốt.
dinh dưỡng…
Dễ sử dụng
giá thành rẻ,
không có yêu
cầu cao về thiết
bị và kiến thức
chuyên môn
Đòi hỏi kiến
thức của một số
chuyên gia nhất
định, sử dụng
được cục bộ
không đăc trưng
Các chỉ
thị SH
ĐV
không xương
sống cỡ lớn,
TV lớn, tảo,
địa y
Chất thải
hữu cơ, giàu
dinh dưỡng, axit
hóa, khí độc
Dễ sử dụng
giá thành rẻ,
không đòi hỏi
thiết bị chuyên
dụng
Cần kiến thức
người
Tốn thời gian,
đắt đòi hỏi thiết bị
và nguồn lực
được đào tạo
Phép
thử sinh
học
VSV,
TV lớn, ĐV
không có
xương sống,
ĐV có
xương sông
nhỏ
Chất hữu cơ,
các khí độc, chất
thải độc hại
Kết quả
nhanh, giá thành
tương đối thấp,
có khả năng
nghiên cứu đa
dạng
Cần có các
nghiên cứu quan
trắc tiếp theo
trong thực tế.
3.4. Lựa chọn sinh vật chỉ thị để quan trắc sinh học
Đầu tiên cần dựa vào tiêu chuẩn SVCT để lựa chọn cho phù hợp với những
Sự có mặt các vi sinh vật này chỉ tình trạng nước bị ô nhiễm phân, có nghĩa là
có thể có vi trùng gây bệnh và ngược lại.
Trong 3 nhóm vi sinh vật chỉ thị trên, nhóm Coliform thường được phân tích vì:
chúng là nhóm vi sinh vật quan trọng nhất trong việc đánh giá vi sinh nguồn nước
và có đầy đủ các tiêu chuẩn của loài vi sinh chỉ thị lý tưởng.
Để đánh giá mức độ ô nhiễm nước do chất thải sinh hoạt, ngoài các thông số hóa –
lý cần thiết phải quan trắc các vi sinh vật chỉ thị: feacal coliform, tổng số Coliform
và các sinh vật gây bệnh khác.
Trong trường hợp đánh giá tác động của ô nhiễm đến hệ sinh thái nước cần
quan trắc bổ sung về các sinh vật thủy sinh: động vật đáy không xương sống, thực
vật nổi.
Động vật đáy không xương sống ( ốc, hến, tôm, cua, ấu trùng, côn trùng ) :
tương đối cố định tại đáy sông, hồ chịu ảnh hưởng của sự thay đổi liên tục chất
lượng nước và chế độ thủy văn trong ngày. Thời gian phát triển khá lâu, dễ thu
mẫu, dễ phân loài. Động vật đáy không xương sống có thể chỉ thị cho ô nhiễm hữu
cơ, phú dưỡng, ô nhiễm do hóa chất độc KLN, hóa chất BVTV, hydrate dị vòng ; ô
nhiễm do dầu mỡ. Đối với môi trường không khí thường lựa chọn các loại địa y, rêu
và các thực vật hoang dã để quan trắc sinh học. Đối với môi trường đất thường sử
dụng các loài thực vật tích tụ để quan trắc sinh học.
Chương 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHỈ THỊ SINH HỌC MÔI
TRƯỜNG
I, CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT SINH HỌC
1.1. Nhóm phương pháp loài đơn lẻ
Sử dụng phản ứng của những loài đơn lẻ - loài làm chỉ thị sinh vật nhảy cảm,
sinh vật tích tụ.
a, Sử dụng loài chỉ thị:
Đánh giá tác động của chất gây ô nhiễm dựa trên sự có mặt của các loài chỉ thị
đặc trưng (Năng bộp chỉ thị đất rất chua (PH: 4 - 5) rất nhiều Al
3+
phép đô riêng rẽ nào đó).
II. Phương pháp sử dụng chỉ thị sinh học trong nghiên cứu ô nhiễm môi
trường
2.1 Sử dụng chỉ số sinh học
2.1.1 Sử dụng chỉ số sinh học trong giám sát môi trường
Shannen - Weiner sử dụng chỉ số đa dạng H’ và Margaleft sử dụng chỉ số đa
dạng (D) để đánh giá mức độ ô nhiễm hữu cơ nguồn nước.
Việc tính toán và xếp hạng chất lượng nước theo chỉ số đa dạng sinh học thể
hiện ở bảng:
Bảng đánh giá chất lượng nước theo chỉ số đa dạng sinh học.
Sử dụng hệ thống tính điểm nhóm động vật đáy cỡ lớn của tổ chức quan trắc
sinh học (BMWP) để đánh giá nhanh chất lượng nước.
Mẫu vật thu được (tại các thủy vực) được phân loại.
Dựa vào các chỉ thị tương ứng với họ (trong bảng tính điểm BMWP) để tính
điểm cho từng họ.
Cộng tất cả các điểm từ mỗi họ tại từng điểm nghiên cứu được tổng điểm số
BMWP.
Tính điểm số trung bình cho các đơn vị phân loại (ASPT: là chỉ số tương ừng
với với một mức ô nhiễm (chất lượng) nước bằng cách chia tổng số điểm (BMWP)
cho tổng số họ đã lấy để tính điểm.
2.1.2. Sử dụng chỉ số sinh học trong quan trắc môi trường
Các số liệu được sử dụng để ấn định giá trị đánh số đối với các chỉ thị sinh học
cá thể.
Tổng các giá trị đánh số của tất cả các loài chỉ thị sinh học tại mỗi điểm thu
mẫu (xác định) sẽ cho kết quả biểu thị kiểu ô nhiễm tại điểm đó.
Tổng các giá trị hoại sinh của tất cả các chỉ thị sinh học tại một điểm chia cho
tổng số các giá trị tần số gặp cho chỉ số hoại sinh hay chỉ số nhiễm bẩn tại một điểm
đó.
Chỉ số sinh học được sử dụng đầu tiên trong quan trắc môi trường là hệ hoại
sinh (dung quan trắc ô nhiễm hữu cơ trong các sông).
10 – 100 lần so với các cây trồng nông nghiệp bình thường khác).
Đặc điểm của các loài thực vật này là chỉ hấp thụ một hoặc một số kim loại đặc
trưng trong các bộ phận trong môi trường đất (chồi, cành, lá).
Vì vậy để xử lý các chất gây ô nhiễm, người ta thu hoạch và tiêu huỷ các bộ
phận tích lũy.
Cho đến 2002 đã phát hiện 420 loài có khả năng tích tụ kim loại nặng cao,
trong đó: một số là nguồn thực phẩm, nhiều thực vật lớn và nhuyễn thể, cá (môi
trường nước), địa y, rêu và thực vật có mạch (môi trường đất, không khí), rêu được
sử dụng rộng rãi trong quan trắc các kim loại nặng.
Lựa chọn sinh vật tích tụ trong nghiên cứu môi trường theo tính chất của sinh
vật chỉ thị.
Trong thực tế khó có loài đơn lẻ nào đáp ứng được đủ các tiêu chuẩn của sinh
vật chỉ thị về tích tụ, trong các chương trình giám sát ô nhiễm phải khắc phục bằng
hai cách:
Quan trắc thụ động và thu mẫu (để phân tích HH) từ nơi cư trú đặc biệt của các
sinh vật bản địa.
Quan trắc chủ động (tại nơi cư trú) các sinh vật ở các vùng không ô nhiễm.
2.3. Phép thử sinh học
Sử dụng sinh vật ở những điều kiện thí nghiệm (có đối chứng) để nghiên cứu,
đánh giá môi trường.
Nhiều phép thử sinh học đã được phát triển để sử dụng trong phòng thí nghiệm
hoặc ngoài hiện trường
Khả năng sử dụng các phép thử sinh học trong nghiên cứu vấn đề môi trường
• Xác định các tác động ngắn hạn của liều lượng lớn chất ô nhiễm (cấp
tính) đến cá thể, quần thể và quần xã.
• Xác động tác động tiềm năng của các chất gây ô nhiễm (tác động dài hạn
của những lượng thấp chất gây ô nhiễm khác nhau (mãn tính) đến cá thể,
quần thể và quần xã.
• Xác định sự đa dạng của ngưỡng độc hại (liên quan đến hiệu ứng gấy
chết toàn bộ hoặc một nửa) và giới hạn chuẩn của các chất gây ô nhiễm.
2
) các quần xã địa y trong thành phố và trong các khu công nghiệp thường rất
nghèo.
Căn cứ vào biến đổi (không tgian và thời gian) trong phân bố địa y theo khả
năng chống chịu của các loại đặc trưng có thể xây dựng bản đồ về nồng độ gây ô
nhiễm SO
2
ở cấp độ vùng và quốc gia.
Rêu, vi nấm và ve cũng đuợc sử dụng để xây dựng bản đồ ô nhiễm một số chất
khí.
2.5. Phương pháp so sánh
Hiện nay phát triển phương pháp so sánh chỉ thị sinh học môi trường đối với
các hệ thống nuớc ngọt. Trong đó xác định kiểu sinh thái đặc trưng và sử dụng các
phương pháp đặc chọn lọc nhằm so sánh những thủy vực cùng kiểu nhưng không bị
tác động.
Kết quả biểu thị ra tính tương đồng theo % của các điểm nghiên cứu, điểm số
%>90% chứng tỏ điểm đó không bị ô nhiễm
2.6 Sử dụng vi sinh vật
VSV là hợp phần quan trọng của các hệ sinh thái mà tính đa dạng và độ phong
phú của chúng bị chi phối bởi những thay đổi của các yếu tố môi trường và có thể
trở thành chỉ thị cho những kiểu ô nhiễm nhất định.
Sự có mặt của quần xã nấm nước thải là chỉ thị ô nhiễm mức độ cao. Sự có mặt của
các vi khuẩn sống trong ruột người và động vật là chỉ thị cho ô nhiễm nước thải
sinh hoạt
Sử dụng thủy tinh, cốc nhựa khử trùng khi lấy mẫu phân tích
2.7 Sử dụng các loài đặc hữu, quý hiếm
Các loài đặc hữu là các loài phân bố hẹp, thích ứng với môi trường sinh thái
nhất định. Khi các yếu tố môi trường bị xâm hại thì quần thể các loài đặc hữu bị suy
giảm số lượng cá thể hoặc không còn hiện diện ở đó- là cơ sở cho việc đánh giá
hiện trang và bảo vệ môi trường.
• pH: tính chất đất, phân hủy hữu cơ, hô hấp của thủy sinh vật, quang hợp của
thực vật
1.3 Đặc điểm hóa học của nước tự nhiên
• Các nguyên tố hóa học( dạng ion) nồng độ ppm: Cl-, Na+, SO4-2, Mg2+,
Ca2+, K+, HCO3-, Br-, Sr2+. Các nguyên tố nồng độ ppb: B, Si, F, N, P,
Mo, Zn, Fe, Cu, Mn, Ni, Al. Trong nước biển thường chứa các chất này cao
hơn nước sông hồ.
• Oxy hòa tan( DO): hình thành do không khí, quang hợp của thủy sinh vật, rất
cần thiết cho các hoạt động sống của sinh vật trong nước, biến động theo:
mùa, thời tiết, ngày đêm, độ sâu, nhiệt độ và độ mặn
• CO2 hòa tan: do hô hấp của thủy sinh vật và phân hủy chất hữu cơ, rất cần
thiết cho sự quang hợp tạo chất hữu cơ của thủy vực nhưng nồng độ >10mg/l
ức chế thủy sinh vật.
• H2S; hình thành do phân hủy protein, phản sunfat hóa yếm khí; phụ thuộc
vào: pH, nhiệt độ nước; nó rất độc cho thủy sinh vật
• CH4: hình thành do phân hủy hữu cơ yếm khí, nhiều CH4 chứng tỏ nước
nhiều hữu cơ, chất lượng kém
• NH3: N hữu cơ, phân bón; hàm lượng NH3 tăng khi pH và nhiệt độ tăng, rất
độc cho cá
• NH4+: thức ăn tự nhiên, nếu nhiều sẽ làm thực vật phù du phát triển quá mức
• NO2: nitrit hóa, phản nitrat hóa, rất độc với tôm cá
• NO3-: dinh dưỡng dễ tiêu của thực vật, thức ăn cho tôm của thủy vực, nếu
nồng độ quá cao sẽ làm tảo phát triển quá mức
• P( H2PO4-, HPO4-2 và PO4-3) dinh dưỡng của thực vật bậc cao, nguyên
sinh động vật và vi sinh vật
• Si( nham thạch): cần cho tảo khuê, động vật
• BOD: Lượng oxy cần cho quá trình hô hấp của thủy sinh vật( trong điều kiện
nhất định), xác định ở 20 độ C trong 3(BOD3) đến 5 ngày(BOD5). Nước có
mật độ sinh vật cao thì BOD càng cao, dung để đánh giá mức độ giàu dinh
dưỡng hay nhiễm bẩn của thủy vực