TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2010 - 2015 Sinh viên thực hiện : Lê Thùy Liên
Lớp : Anh 6
Khóa : 45
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Lệ Hằng
2. Mô hình hoạt động của các công ty chứng khoán trên thị trƣờng 17
2.1. Công ty chuyên doanh chứng khoán 17
2.2. Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán 17
3. Cơ cấu tổ chức của các công ty chứng khoán 19
4.Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của công ty chứng
khoán 20
4.1. Nhóm nhân tố khách quan 20
4.1.1. Môi trường kinh tế 20
4.1.2. Môi trường chính trị pháp luật 20
4.1.3. Môi trường công nghệ 21
4.1.4. Môi trường đặc thù 21
4.2. Nhóm nhân tố chủ quan 22
4.2.1. Tiềm lực tài chính 22
4.2.2. Uy tín hoạt động 23
4.2.3. Năng lực quản trị kinh doanh 23
4.2.4. Chất lượng nguồn nhân lực 24
III. Vai trò của các công ty chứng khoán đối với thị trƣờng chứng
khoán 25
1. Vai trò làm cầu nối giữa cung – cầu chứng khoán 25
2. Vai trò góp phần điều tiết và bình ổn giá trên thị trƣờng 25
3. Vai trò cung cấp các dịch vụ cho thị trƣờng chứng khoán 26
CHƢƠNG II. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY 28
I. Sự ra đời và phát triển của các công ty chứng khoán Việt Nam 28
II. Thực trạng hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán 30
1. Kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán Việt Nam
giai đoạn 2006-2009 30
1.1. Kết quả hoạt động môi giới 30
1.2. Kết quả hoạt động tự doanh 35
1.3. Kết quả hoạt động tƣ vấn 39
3.1. Mất cân đối trong cơ cấu doanh thu 62
3.2. Coi nhẹ quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ 64
3.3. Năng lực phân tích thị trƣờng và dự báo kém 65
3.4. Môi trƣờng pháp lý cho sự phát triển của công ty chứng
khoán chƣa hoàn thiện 65
3.5. Các nguyên nhân khác 66
3.5.1. Về bản thân thị trường chứng khoán 66
3.5.2. Về các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán 66
CHƢƠNG III. GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 68
I. Định hƣớng và mục tiêu cơ bản phát triển thị trƣờng chứng khoán
Việt Nam đến 2015 68
1. Mục tiêu tổng quát 68
2. Mục tiêu cụ thể 68
II. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty
chứng khoán trong thời gian tới 69
1. Nhóm giải pháp vi mô (thuộc bản thân các doanh nghiệp) 69
1.1. Xây dựng cơ cấu doanh thu phù hợp với tình hình thị trƣờng 69
1.2. Tăng cƣờng năng lực tài chính 71
1.3. Nâng cao hiệu quản công tác quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ 72
1.4. Đổi mới công nghệ thông tin 73
1.5. Thiết kế sản phẩm mới phù hợp 73
1.6. Xây dựng hệ thống phân tích và dự báo chuyên nghiệp. 75
2. Nhóm giải pháp vĩ mô (thuộc về phía chính phủ) 77
2.1. Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của các công ty chứng
khoán 77
2.2. Giám sát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn tài chính của các Công ty chứng
khoán 78
2.3. Hoàn chỉnh cấu trúc của thị trƣờng chứng khoán 78
2.4. Tiếp tục thực hiện các biện pháp để tăng cung chứng khoán trên
Bảng 11: Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu của một số công ty chứng
khoán năm 2008-2009 54
Bảng 12 : Lợi nhuận sau thuế trên vốn điều lệ các công ty chứng khoán năm
2008- 2009 56
Bảng 13: Công nợ trên tài sản thanh khoản các công ty chứng khoán năm
2008-2009 57
Bảng 14: Các khoản phải thu trên nguồn vốn các công ty chứng khoán năm
2008-2009 58
Bảng 15: Cơ cấu doanh thu một số công ty chứng khoán 2008-2009 63
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 1. Cơ cấu hoạt động kinh doanh công ty chứng khoán 19
Biểu 2. Thị phần môi giới 2006-2007 28
Biểu 3. Giá trị giao dịch trung bình một ngày trên 2 sàn HOSE và HaSTC
năm 2008 29
Biểu 4. Doanh thu hoạt động tự doanh của một số công ty chứng khoán giai
đoạn 2004 - 2007 37
Biểu 5. Cơ cấu danh mục đầu tƣ 2008 của BVSC 38
Biểu 6. Cơ cấu danh mục đầu tƣ 2008 của SSI 38
Biểu 7. Số vụ mua bán sáp nhập năm 2007 theo ngành 42
Biểu 8. Giá trị bảo lãnh phát hành của các công ty chứng khoán năm 2007 44
Biểu 9. Chi phí hoạt động các công ty chứng khoán năm 2007-2008 50
Biểu 10. Lợi nhuận sau thuế các công ty chứng khoán năm 2007-2008 52
Biểu 11. EPS các công ty chứng khoán 2007-2008 55
Biểu 12. Cơ cấu phòng phân tích dự báo của công ty chứng khoán 65
Biểu 13. Cơ cấu phân bổ các nghiệp vụ 69
Biểu 14. Mối quan hệ của sản phẩm phân tích đối với các hoạt động kinh
doanh của công ty chứng khoán 76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CK
Chứng khoán
9.
CP
Cổ phần
10.
CSH
Chủ sở hữu
11.
CTCK
Công ty chứng khoán
12.
DPM
Mã chứng khoán của Tổng công ty cổ phần Phân bón và Hoá
chất Dầu khí
13.
DPR
Mã chứng khoán công ty cổ phần Cao su Đồng Phú
14.
DT
Doanh thu
15.
EPS
Thu nhập trên mỗi cổ phiếu
16.
FPTS
Công ty cổ phần Chứng khoán FPT
17.
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
Phát hành lần đầu ra công chúng
28.
IT
Công nghệ thông tin
29.
KBC
Mã chứng khoán của công ty cổ phần phát triển Đô thị Kinh
Bắc
30.
KCN
Khu công nghiệp
31.
KEVS
Công ty cổ phần chứng khoán KimEng Việt Nam
32.
KLS
Công ty chứng khoán Kim Long
33.
LNST
Lợi nhuận sau thuế
34.
M&A
Mua bán và sáp nhập
35.
NĐ
Nghị định
36.
NHNN
Ngân hàng Nhà nƣớc
37.
RIC
Mã chứng khoán của công ty cổ phần Quốc tế Hoàng Gia
47.
ROA
Hệ số thu nhập trên tài sản
48.
ROE
Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần
49.
SATRA
Tổng công ty Thƣơng mại Sài Gòn
50.
SBS
Công ty chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thƣơng Tín
51.
SGDCK
Sở giao dịch chứng khoán
52.
SSI
Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn
53.
TNC
Mã chứng khoán của công ty cổ phần Cao su Thống nhất
54.
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
55.
TPCP
Trái phiếu chính phủ
56.
Công ty cổ phần chứng khoán Quốc tế Việt Nam
66.
VNIndex
Chỉ số chứng khoán Việt Nam
67.
VPBS
Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng ngoài
quốc doanh
68.
VTO
Mã chứng khoán của công ty cổ phần Vận tải xăng dầu
VITACO
69.
WTO
Tổ chức thƣơng mại Thế giới
70.
XNK
Xuất nhập khẩu
71.
YTM
Lợi suất đầu tƣ 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đƣợc thành lập vào tháng 7/2000, cho đến nay thị trƣờng chứng khoán
(TTCK) Việt Nam trải qua gần 10 năm hoạt động với các giai đoạn thăng trầm, từ
lúc phát triển quá nóng sang tới giai đoạn suy thoái và hiện nay đang ở giai đoạn
Năm 2008 là một năm đầy thách thức và khó khăn đối với thị trƣờng chứng
khoán thế giới nói chung và thị trƣờng Việt Nam nói riêng. Đứng trƣớc những biến
động bất lợi của thị trƣờng chứng khoán trong năm 2008, là một chủ thể trên thị
trƣờng, hoạt động của các công ty chứng khoán cũng bị ảnh hƣởng hết sức nặng nề.
Điều này chứng tỏ trƣớc các rủi ro và biến cố của thị trƣờng, các công ty chứng
khoán Việt Nam vẫn chƣa thực sự chủ động, và còn tồn tại nhiều yếu điểm. Trƣớc
thực tiễn đó, bài khoá luận của em nhằm mục đích nghiên cứu và đánh giá đúng
thực chất về hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam trong giai
đoạn 2007-2009. Từ đó, phát hiện những thiếu sót, tìm ra những nguyên nhân gây
hạn chế trong hoạt động của các công ty chứng khoán. Đồng thời, trong bài luận
văn của mình, em xin đƣa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả
hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam trong điều kiện hội nhập.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán
Việt Nam, nên đối tƣợng nghiên cứu của bài luận văn là những vấn đề lý luận và
thực tiễn về hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam trên thị trƣờng chứng
khoán.
4. Phạm vi nghiên cứu
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trƣờng chứng khoán trong những
năm gần đây là sự tăng vọt về số lƣợng các công ty chứng khoán có mặt trên thị
trƣờng. Từ con số 55 công ty chứng khoán vào năm 2006, số lƣợng công ty chứng
khoán tính tới quý 1 năm 2010 đã tăng gần gấp đôi lên 105 công ty. Số lƣọng công
ty chứng khoán lớn vừa là một lợi thế để nâng cao tính bao quát của vấn đề nghiên
cứu, vừa là một khó khăn khi phân tích và tổng hợp số liệu. Do những khó khăn đó,
trong bài luận văn của mình, em xin đi sâu vào việc phân tích tình hình hoạt động
3
của một số công ty chứng khoán tiêu biểu. Đó là công ty cổ phần chứng khoán Sài
Gòn (SSI), công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt (BVSC), công ty TNHH chứng
khoán Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam (VCBS), công ty cổ phần chứng khoán
xuất phát từ những sự cần thiết đơn lẻ của buổi ban đầu. Vào giữa thế kỷ 15, ở tại
những thành phố trung tâm buôn bán ở phƣơng Tây, các thƣơng gia thƣờng tụ tập
tại các quán cà phê để trao đổi việc mua bán các vật phẩm hàng hoá. Lúc đầu chỉ
một nhóm nhỏ, dần dần sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế
kỷ 15, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trƣờng” với việc họ
thống nhất các quy ƣớc và dần dần các quy ƣớc đƣợc sửa đổi hoàn chỉnh thành
những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia “thị trƣờng”.
Phiên chợ riêng đầu tiên đƣợc diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình
Vanber ở Bruges Bỉ, tại đó có một bảng hiệu hình ba túi da với một chữ tiếng Pháp
là “Bourse” tức là “mậu dịch thị trƣờng” hay còn gọi là “Sở giao dịch”. Vào năm
1547, thành phố ở Bruges Bỉ mất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bị cát lấp nên
mậu dịch thị trƣờng ở đây bị sụp đổ và đƣợc chuyển qua thị trấn Auvers Bỉ. Ở đây
thị trƣờng phát triển rất nhanh và giữa thế kỷ 16 một quan chức đại thần của Anh
Quốc đã đến quan sát và về thiết lập một mậu dịch thị trƣờng tại London- Anh, nơi
mà sau này đƣợc gọi là Sở giao dịch chứng khoán London. Các mậu dịch thị trƣờng
khác cũng lần lƣợt đƣợc thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu. Sự phát triển của thị
trƣờng ngày càng phát triển cả về lƣợng và chất với số thành viên tham gia đông
đảo và với nhiều nội dung khác nhau. Vì vậy theo tính tất yếu, nó lại đƣợc phân ra
thành nhiều thị trƣờng khác nhau nhƣ: thị trƣờng giao dịch hàng hoá, thị trƣờng hối
đoái, thị trƣờng giao dịch các hợp đồng tƣơng lai và thị trƣờng chứng khoán…Mỗi
thị trƣờng lại có các đặc tính riêng, thuận lợi cho việc giao dịch của ngƣời tham gia
thị trƣờng đó. Quá trình các giao dịch chứng khoán diễn ra và hình thành một cách
tự phát cũng tƣơng tự nhƣ vậy ở Pháp, Hà Lan, các nƣớc Bắc Âu, các nƣớc Tây Âu
5
và Bắc Mỹ. Các phƣơng thức giao dịch ban đầu đƣợc diễn ra ngay cả khi ở ngoài
trời với những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thƣ ký nhận lệnh của khách hàng. Ở
Mỹ cho đến năm 1921, khu chợ này đƣợc chuyển từ ngoài trời vào trong nhà, sở
giao dịch chứng khoán chính thức đƣợc thành lập.
Ngày nay, theo sự phát triển của công nghệ khoa học kỹ thuật, các phƣơng
thấy thời gian đầu, thị trƣờng hình thành một cách tự phát, đối tƣợng tham gia chủ
yếu là các nhà đầu cơ, dần dần về sau mới có sự tham gia ngày càng đông đảo của
công chúng. Khi thị trƣờng bắt đầu xuất hiện sự trục trặc và bất ổn, chính phủ buộc
phải can thiệp bằng cách thành lập các cơ quan quản lý nhằm bảo vệ quyền lợi của
công chúng đầu tƣ và sau đó dần dần hệ thống pháp lý cũng bắt đầu đƣợc ban hành.
Kinh nghiệm đối với những thị trƣờng mới hình thành về sau này cho thấy, thị
trƣờng sau khi thiết lập chỉ có thể hoạt động có hiệu quả, ổn định và nhanh chóng
nếu có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt: hàng hoá, luật pháp, con ngƣời, bộ máy
quản lý và đặc biệt sự giám sát và quản lý nghiêm ngặt của Nhà nƣớc. Điển hình
nhƣ một số thị trƣờng chứng khoán có sự trục trặc ngay từ ban đầu nhƣ thị trƣờng
chứng khoán Thái Lan, Inđônêsia. Các thị trƣờng này hoạt động trì trệ trong một
thời gian dài do thiếu hàng hoá và không đƣợc quan tâm đúng mức. Thị trƣờng
chứng khoán Philippine cũng là một ví dụ tƣơng tự. Thị trƣờng này hoạt động kém
hiệu quả do thiếu sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của sở giao dịch chứng khoán
Makita và Manila. Thị trƣờng chứng khoán Balan, Hungari cũng gặp trục trặc do
việc chỉ đạo giá cả quá cao hoặc quá thấp…
Có thể nói, thị trƣờng chứng khoán là một định chế tài chính không thể thiếu
đƣợc trong đời sống kinh tế của những nƣớc theo cơ chế thị trƣờng và nhất là những
nƣớc đang phát triển đang cần thu hút luồng vốn lớn dài hạn cho nền kinh tế quốc
dân.
2. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
2.1. Tổ chức phát hành
Tổ chức phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trƣờng
chứng khoán. Nhà phát hành chính là ngƣời cung cấp các chứng khoán và các công
cụ thị trƣờng chứng khoán khác ra thị trƣờng. Tổ chức phát hành bao gồm:
Chính phủ và chính quyền địa phƣơng: là nhà phát hành các trái phiếu chính
phủ và trái phiếu công trình, trái phiếu chính quyền địa phƣơng.
7
Các doanh nghiệp: là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp.
8
nhận đăng ký kinh doanh. Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động của công
ty chứng khoán bao gồm:
- Có trụ sở, có trang thiết bị, thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh chứng
khoán (đối với các nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tƣ vấn đầu tƣ
chứng khoán thì không phải đáp ứng điều kiện về trang thiết bị).
- Có đủ vốn pháp định theo quy định của Chính phủ.
- Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh
doanh chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
Luật chứng khoán (2007) đã có những quy định rất cụ thể và chặt chẽ về hoạt
động của các công ty chứng khoán. Trong đó, có một số các quy định rất đáng chú ý
nhƣ sau:
- Quản lý tách biệt chứng khoán của từng nhà đầu tƣ, tách tiền và chứng khoán
của nhà đầu tƣ với tiền và chứng khoán của công ty chứng khoán.
- Ƣu tiên thực hiện của khách hàng trƣớc lệnh của công ty chứng khoán.
- Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, ngăn chặn những xung
đột lợi ích trong nội bộ công ty và trong giao dịch với ngƣời có liên quan…
2.4. Cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Hầu hết các quốc gia có thị trƣờng chứng khoán đều có cơ quan quản lý nhà
nƣớc về chứng khoán. Ở Hoa Kỳ đó là Uỷ ban chứng khoán và giao dịch chứng
khoán, ở Nhật Bản đó là Uỷ ban Giám sát chứng khoán và giao dịch chứng khoán, ở
Anh đó là Uỷ ban Đầu tƣ Chứng khoán và ở Việt Nam đó là Uỷ ban chứng khoán
Nhà nƣớc.
2.5. Các chủ thể khác trên thị trường
Ngoài tổ chức phát hành, công chứng đầu tƣ, công ty chứng khoán và cơ quan
quản lý Nhà nƣớc về thị trƣờng chứng khoán thì thị trƣờng chứng khoán còn chịu
sự điều chỉnh của một số chủ thể khác. Các chủ thể đó là: ngân hàng thƣơng mại,
công ty cho thuê tài chính, hiệp hội kinh doanh chứng khoán, tổ chức lƣu ký và
thanh toán bù trừ, và công ty đánh giá sự tín nhiệm.
Đầu tiên là ngân hàng thƣơng mại. Ngân hàng thƣơng mại có thể tham gia thị
cổ đông chính là quyền và lợi ích của ngƣời sở hữu vốn. Quyền và lợi ích của cổ
đông bao gồm quyền, lợi ích vật chất và quyền và lợi ích phi vật chất. Quyền và lợi
ích vật chất bao gồm: quyền nhận cổ tức, hƣởng giá trị gia tăng vốn từ hoạt động
10
sản xuất kinh doanh của đơn vị phát hành, nhận lại phần vốn góp khi công ty chấm
dứt hoạt động, quyền chuyển nhƣợng vốn góp…Quyền và lợi ích phi vật chất bao
gồm quyền tham gia quản lý đơn vị phát hành, quyền biểu quyết, quyền mua trƣớc
cổ phiếu của đợt phát hành bổ sung cổ phiếu…Cổ phiếu bao gồm cổ phiếu phổ
thông (còn gọi là cổ phiếu thƣờng) và cổ phiếu ƣu đãi:
Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu phổ biến đƣợc phát hành nhằm xác nhận
đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông tại công ty cổ phần, cổ tức của cổ
phiêu phổ thông phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị
phát hành. Một công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phiếu phổ thông.
Loại cổ phiếu thứ hai là cổ phiếu ƣu đãi. Cổ phiếu ƣu dãi là loại cổ phiếu xác
nhận một số quyền và lợi ích của cổ đông ở mức cao hơn so với các cổ đông phổ
thông. Tuy nhiên, họ sẽ bị hạn chế ở một số quyền và lợi ích khác. Cổ phiếu ƣu đãi
bao gồm cổ phiếu ƣu đãi cổ tức, cổ phiếu ƣu đãi biểu quyết, cổ phiếu ƣu đãi hoàn
lại.
Trong đó, cổ phiếu ƣu đãi cổ tức là cổ phiếu đƣợc trả cổ tức ở mức cao hơn so
với cổ tức của cổ phiếu phổ thông hoặc đƣợc trả với mức ổn định hàng năm.
Cổ phiếu ƣu đãi biểu quyết là cổ phiếu có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so
với cổ phiếu phổ thông. Cổ phiếu ƣu đãi chỉ phát hành cho một số đối tƣợng đặc
biệt, ngƣời nắm giữ cổ phiếu ƣu đãi không đƣợc quyền chuyển nhƣợng cho ngƣời
khác.
Cổ phiếu ƣu đãi hoàn lại là cổ phiếu đƣợc công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi
nào theo yêu cầu của ngƣời sở hữu hoặc theo các điều kiện đƣợc ghi trên cổ phiếu
của cổ phần ƣu đãi hoàn lại. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ƣu đãi hoàn lại không có
quyền biểu quyết, không có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông.
3.2. Trái phiếu (Bond)
trái phiếu doanh nghiệp.
Trái phiếu chính phủ: là công cụ vay nợ dài hạn do chính phủ phát hành nhằm
mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trính công ích, hoặc làm
công cụ điều tiết tiền tệ. Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro
thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao. Trái phiếu chính phủ
bao gồm: trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu đầu tƣ, công trái…
Trái phiếu doanh nghiệp: là các loại trái phiếu so các doanh nghiệp phát hành
12
để vay vốn dài hạn. Trái phiếu doanh nghiệp có đặc điểm là trái chủ đƣợc trả lãi
định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không đƣợc tham dự vào các quyết định của
công ty. Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu đƣợc ƣu tiên thanh toán trƣớc
các cổ phiếu. Trái phiếu doanh nghiệp bao gồm hai loại là trái phiếu có đảm bảo và
trái phiếu không đảm bảo (hay còn gọi là trái phiếu tín chấp).
3.3. Chứng khoán có thể chuyển đổi (Convertable securities)
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép ngƣời nắm
giữ nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định có thể đổi nó lấy một
hoặc một số chứng khoán loại khác.
Những loại chứng khoán có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thƣờng phổ biến là:
cổ phiếu ƣu đãi chuyển đổi và trái phiếu có thể chuyển đổi. Việc phát hành chứng
khoán có thể chuyển đổi có thể do nhiều lý do. Đối với đơn vị phát hành, phát hành
chứng khoán chuyển đổi có thể do tại thời điểm phát hành chƣa thích hợp với việc
phát hành cổ phiếu phổ thông, muốn giảm chi phí phát hành hoặc cũng có thể đơn
thuần nhằm mục đích tăng thêm tính hấp dẫn cho đợt phát hành, nhất là khi thị
trƣờng trái phiếu và cổ phiếu đang xuống giá. Đối với nhà đầu tƣ, chứng khoán có
thể chuyển đổi có sức hấp dẫn nhất định ở chỗ nó có thể kết hợp đƣợc tính an toàn
của chứng khoán có thu nhập ổn định với tính có thể đầu cơ của chứng khoán có thu
nhập thay đổi. Chứng khoán có thể chuyển đổi cho phép nhà đầu tƣ đƣợc bảo hiểm
trƣớc tình trạng lạm phát.
Tuy nhiên, những lợi ích của việc thực hiện chuyển đổi tuỳ thuộc vào giá
nhất định vào ngày xác định trƣớc trong tƣơng lai. Hợp đồng tƣơng lai hay còn gọi
là hợp đồng giao sau rất giống với hợp đồng kỳ hạn (forward). Tuy nhiên, hợp đồng
tƣơng lai đã đƣợc chuẩn hoá nên đã khắc phục đƣợc những nhƣợc điểm của hợp
đồng kỳ hạn, và thƣờng đƣợc xem là một cách thức tốt hơn để rào chắn rủi ro trong
kinh doanh.
Quyền mua cổ phần (right) hay còn gọi là đặc quyền ngắn hạn mua cổ phần
hoặc quyền mua trƣớc là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành kèm theo
đợt phát hành bổ sung cổ phiếu mới nhằm bảo đảm cho cổ đông hiện hữu quyền
mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã xác định. Quyền mua cổ phần là một
quyền chọn mua có thời hạn rất ngắn, có khi chỉ vài tuần. Quyền này phát hành khi
các công ty tăng vốn bằng cách phát hành thêm các cổ phiếu phổ thông. Quyền cho
14
phép một cổ đông mua cổ phiếu mới phát hành với mức giá đã ấn định trong một
khoảng thời gian xác định.
Chứng quyền (warrant) là loại chứng khoán đƣợc phát hành cùng với viêc phát
hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ƣu đãi, cho phép ngƣời sở hữu chứng khoán đó đƣợc
quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã đƣợc xác định
trƣớc trong một thời hạn nhất định. Chứng quyền đƣợc phát hành khi tổ chức lại các
công ty hoặc khi công ty muốn khuyến khích các nhà đầu tƣ tiềm năng mua những
trái phiếu hay cổ phiếu ƣu đãi nhƣng có những điều kiện kém thuận lợi. Để chấp
nhận những điều kiện đó, nhà đầu tƣ có đƣợc một lựa chọn đối với sự lên giá có thể
xảy ra của cổ phiếu thƣờng. Chứng quyền còn đƣợc gọi là đặc quyền dài hạn mua
cổ phần.
4. Cấu trúc và phân loại cơ bản thị trường chứng khoán
4.1. Căn cứ vào tính chất luân chuyển các nguồn vốn
Thị trƣờng chứng khoán có thể đƣợc chia thành thị trƣờng sơ cấp (primary
market) và thị trƣờng thứ cấp (secondary market).
Thị trƣờng sơ cấp là thị trƣờng mua bán các công cụ tài chính dài hạn mới
phát hành (phát hành lần đầu). Trên thị trƣờng này, vốn từ nhà đầu tƣ sẽ đƣợc
giao dịch tập trung là các Sở giao dịch.
Thị trƣờng phi tập trung là thị trƣờng giao dịch của các công cụ tài chính dài
hạn chƣa đủ điều kiện giao dịch trên thị trƣờng tập trung thông qua hệ thống điện
thoại hoặc máy tính đã nối mạng giữa các thành viên.
4.3. Căn cứ vào đối tượng giao dịch trên thị trường
Thị trƣờng chứng khoán cũng có thể đƣợc phân thành các thị trƣờng: thị
trƣờng cổ phiếu, thị trƣờng trái phiếu, thị trƣờng các công cụ chứng khoán phái
sinh, thị trƣờng tín dụng thuê mua, thị trƣờng cầm cố bất động sản.
Thị trƣờng cổ phiếu: là thị trƣờng giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao
gồm cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ƣu đãi.
Thị trƣờng trái phiếu: là thị trƣờng giao dịch và mua bán các loại trái phiếu đã
đƣợc phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đầu tƣ
và trái phiếu chính phủ.
Thị trƣờng các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trƣờng phát hành và mua
đi bán lại các chứng từ tài chính khác nhƣ quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp