tìm hiểu các hoạt động tín dụng trong nông thôn xã đa tốn – huyện gia lâm – hà nội - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
  
LUẬN VĂN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÌM HIỂU CÁC HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NÔNG
THÔN XÃ ĐA TỐN – HUYỆN GIA LÂM – HÀ NỘI
Tên sinh viên : Nguyễn Hữu Hoàng
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Lớp : KTB – K49
Niên khoá : 2004 – 2008
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Văn Mác
HÀ NỘI – 2008
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dụng của luận văn tốt nhgiepej đại học của
tôi là do tôi tự nghên cứu, tìm hiểu thực tế của địa phương cùng với việc tham
khảo các bài viết trến sách, báo , tạp chí, các website, các luận văn thạc sỹ và
luận văn tốt nghiệp của trường Đại học nông nghiệp I, Hà Nội.
Tôi xin cam đoan các số liệu được sử dụng trong luận văn tốt nghiệp đại
học của tôi là đúng sự thạt và chưa được sử dụng cho một công trình nghiên cứu
nào khác.
Hà nội ngày 23 tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn Hữu Hoàng
2
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, nông nghiệp là nền
móng cho sự phát triển kinh tế nói chung. Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn
đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng.

thấp. Mấy năm gần đây, khi kinh tế phát triển, một số hộ với quyết tâm làm giàu
đã chuyển sang sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, nhưng lại gặp khó khăn về
vốn và khâu tiêu thụ. Nhưng nhờ có sự phát triển của thị trường tài chính trong
nông thôn, với nhiều tổ chức tín dụng khác nhau đang hoạt động trong xã, cả tổ
chức tín dụng chính thống và không chính thống. Các tổ chức tín dụng trong xã
Đa Tốn đã góp phần giải quyết được một phần nào đó nhu cầu về vốn sản xuất
cho hộ sản xuất, giải quyết được công ăn việc làm, hạn chế được tình trạng cho
vay nặng lãi, hạn chế tệ nạn xã hội. Vốn cho vay đã tạo thêm nhiều ngành nghề
mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất
hàng hóa, công nghiệp, dịch vụ. Hoạt động tín dụng nông thôn trong xã Đa Tốn
mấy năm gầy đây đã phát triển một cách nhanh chóng và mạnh mẽ. Số lượt hộ
vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất, tăng dần qua
các năm. Mức vốn vay của các hộ trong xã cũng như là số tiền gửi của các hộ
dân vào các tổ chức tín dụng ngày một lớn. Hoạt động tín dụng trong xã đã diễn
ra một cách sôi nổi với sự kết hợp hoạt động của hai tổ chức tín dụng chính
thống và không chính thống. Các hộ nông dân xã Đa Tốn sử dụng nguồn vốn
4
ngày một hiệu quả hơn, qua đó nhiều hộ nông dân đã vươn lên làm giàu tạo diện
mạo mới cho quê hương của mình.
Một vấn đề đặt ra trong nông thôn là làm thế nào để huy động được nguồn
vốn nhàn rỗi trong dân? Vai trò, vị trí và mức độ tham gia của các tổ chức tín
dụng chính thống và không chính thống vào sự phát triển kinh tế của người dân?
Làm thế nào để các tổ chức tín dụng đáp ứng được nhu cầu cần thiết về vốn của
nông dân để phát triển kinh tế nông nghiệp?
Từ đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu các hoạt động tín
dụng trong nông thôn ở xã Đa Tốn – huyện Gia Lâm – Hà Nội”
5
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu các hoạt động tín dụng ở xã Đa Tốn huyện Gia Lâm – Hà Nội, từ

hai quan điểm sau đây được coi là tiêu biểu nhất.
Tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả. Quan
hệ vay mượn này ra đời và ngày càng mở rộng theo sự phát triển của nền sản
xuất hàng hóa.
Đây là một quan niệm hết sức khái quát nên phạm vi nghiên cứu của nó
rất rộng trong mọi lĩnh vực của hoạt động kinh tế. Tuy nhiên những quan hệ vay
mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả đều là tín dụng. Như vậy theo hình
thức đó chưa phản ánh được một cách chính xác về quan niệm này.
Theo quan điểm thứ hai thì tín dụng được biểu hiện là tổng số tiền được
gửi vào tổ chức tín dụng là quyền kiểm soát số tiền đó đã bị chuyển đổi cho đối
tượng khác có quyền kiểm soát số tiền gửi. Một tổ chức tín dụng có hai bộ phận
rõ rệt: Một bên là người vay, một bên là người cho vay. Nó cũng gồm cả giá của
sự chuyển số tiền đó, chính là lãi suất giữa người cho vay và người vay. Người
cho vay trong kinh doanh tín dụng là một cá nhân hay tổ chức, người vay trong
7
tín dụng cũng có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp có nhu cầu về tiền tệ để phát
triển sản xuất hay tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hoặc đầu tư cho tương lai.
Nhìn chung quan niệm này đã phản ánh một cách cụ thể về quan hệ tín
dụng, thông qua các đối tượng tín dụng, các tổ chức tín dụng giúp cho nhận thức
về tín dụng rõ ràng hơn. Giúp người đi vay và người cho vay được rõ ràng hơn
trong quan hệ tín dụng, do vậy quan hệ này được sử dụng phổ biến trong các lĩnh
vực kinh tế khi có nhu cầu vay mượn tín dụng
2.1.1.2. Bản chất của tín dụng
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, tín dụng đã ra đời và tồn tại
cùng với sự ra đời của nền sản xuất hàng hoá. Do đó, tín dụng là một phạm trù
kinh tế vừa là phạm trù lịch sử. Từ khi ra đời, tín dụng đã gắn liền với phương
thức sản xuất nhất định. Bản chất của tín dụng phản ánh phản hồi của quan hệ
sản xuất và do bản thân của quan hệ sản xuất quyết định.
Thật vậy, các phương thức sản xuất trước CNTB, tín dụng thể hiện quan
hệ bóc lột tàn bạo, phi kinh tế của tầng lớp cho vay nặng lãi đối với những người

- Tín dụng vốn lưu động: là những khoản vay để mua các yếu tố “đầu vào”
cho sản xuất, trang trải chi phí sản xuất, đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng
tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nuôi đại gia súc…
- Tín dụng vốn cố định: là những khoản vay để mua máy móc, thiết bị,
trồng cây lâu năm, nuôi gia súc cơ bản… Đây là những khoản vay nhằm tạo ra
tài sản cố định trong các cơ sở kinh doanh nông nghiệp.
9
Đây là cách phân loại dễ hiểu nhất vì mỗi khoản vay đều cho một loại mục đích
sử dụng. Có tác dụng phân tích lợi nhuận của những loại tín dụng hoặc từng món
nợ cũng như cung cấp các thông tin khác trong đánh giá tài chính.
c. Theo mục đích sử dụng vốn vay
- Tín dụng sản xuất, lưu thông hàng hoá: đây là những khoản vay để phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp hay trong lưu thông hàng hoá
như buôn bán dịch vụ và thương mại.
- Tín dụng tiêu dùng: là những khoản vay dùng để xây dựng nhà cửa mua
sắm…
Qua mục đích sử dụng vốn có thể đánh giá được hiệu quả của từng loại tín dụng.
d. Theo hình thức biểu hiện vốn vay
- Tín dụng bằng tiền: là những khoản vay bằng tiền.
- Tín dụng bằng hiện vật: là những khoản vay bằng hiện vật như vật tư
phục vụ sản xuất nông nghiệp, cho bảo vệ thực vật…
Phân loại theo hình thức này đa dạng hơn, thuận tiện hơn theo từng mục
đích sử dụng vốn vay, phù hợp hơn với hộ nông dân.
e. Theo chủ thể quan hệ tín dụng
- Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp
dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá.
- Tín dụng ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tổ chức
tín dụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân.
- Tín dụng Nhà nước: là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tầng lớp
dân cư hoặc với các tổ chức kinh tế – xã hội.

2.1.3. Các chức năng của tín dụng
Tín dụng có chức năng quan trọng đối với hoạt động kinh tế thể hiện ở 3
chức năng chính:
- Tập trung và phân phối lại vốn (chủ yếu là vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi
theo nguyên tắc có hoàn trả).
Đây là chức năng quan trọng nhất của tín dụng, với chức năng này tín
dụng sẽ tập trung hay huy động đại bộ phận vốn nhàn rỗi trong xã hội để phân
phối lại với hình thức cho vay để giúp phát triển kinh tế nâng cao đời sống nhân
dân. Thông qua hình thức này tín dụng đưa đại bộ phận vốn vừa giải phóng khỏi
quá trình luân chuyển vốn và tạm thời nhàn rỗi nơi này tham gia vào quá trình
luân chuyển vốn ở nơi khác, đảm bảo quá trình tái sản xuất được tiến hành liên
tục và trên cơ sở đó tăng nhanh quá trình, tăng nhanh tốc độ luân chuyển xã hội.
- Tiết kiệm chi phí phát hành tiền:
Việc sử dụng các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi tham gia ngay vào quá
trình chu chuyển xã hội sẽ làm giảm bớt khối lượng tiền mặt trong lưu thông và
do đó giảm được các chi phí phát hành tiền.
Hoạt động tín dụng diễn ra nhằm chuyển tiền nhàn rỗi từ nơi chủ vốn đến
nơi thiếu vốn. Vì vậy nó làm giảm đi cho nhà nước khoản chi phí phát hành tiền
để đảm bảo cung ứng cho nhu cầu thiếu vốn trên.
- Kiểm soát các hoạt động kinh tế:
Chức năng này chủ yếu được thể hiện trong hình thức tín dụng ngân hàng.
Thông qua các hoạt động của mình, tín dụng ngân hàng theo dõi các hoạt động
của từng đơn vị, các ngành trong nền kinh tế, từ đó có kế hoạch thực hiện các
12
vấn đề kinh tế, có kế hoạch cụ thể đối với những vấn đề đầu tư cung cấp vốn cho
quá trình sản xuất. Đồng thời thông qua những chính sách, chế độ, thể lệ, những
nguyên tắc và điều kiện cũng như các biện pháp nghiệp vụ để đôn đốc hướng
dẫn các ngành kinh tế hoạt động đúng hướng và có hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh, hướng các hoạt động kinh tế của các tổ chức, các đơn vị đi đúng mục
đích phát triển kinh tế xã hội. Với chức năng kiểm soát các hoạt động kinh tế, tín

chống lại những rủi ro có thể xảy ra: giảm xút thu nhập, thiểu khả năng thanh
toán, thiếu dự trữ sản xuất…
Tín dụng còn có thể có nhiều vai trò khác tuỳ mức độ sử dụng tín dụng
của từng doanh nghiệp, từng hộ nông dân. Điều đó phụ thuộc vào khả năng quản
lý và những điều kiện kinh doanh cụ thể của các cơ sở sản xuất.
2.2. Lãi suất tín dụng
2.2.1. Nguồn gốc lợi tức tín dụng
Vào thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, khi chế độ tư hữu ra
đời thì trong nội bộ công xã đã phân hoá thành kẻ giàu người nghèo. Khi đó, việc
điều hoà các sản phẩm thừa từ tầng lớp này sang tầng lớp khác chủ yếu bằng
hình thức cho nhau vay mượn. Lúc đầu việc cho vay chỉ mang tính chất tương
trợ giúp đỡ lẫn nhau của những người trong cùng một công xã, về sau những
người giàu có vốn tiền tệ nhàn rỗi chưa có nhu cầu tiêu dùng hay đầu tư thì họ
vẫn có thể cho vay và sử dụng vốn này tuy nhiên họ vẫn có quyền sở hữu số vốn
này. Trong đó người đi vay phải chấp nhận một khoản thoả thuận nào đó với
14
người vay đặt ra thì họ mới được vay vốn, người đi vay được sử dụng số vốn này
trong thời gian thoả thuận, tuy nhiên họ không có quyền sở hữu số vốn trên. Như
vậy trong quan hệ tín dụng, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn tách rời nhau,
do đó để đảm bảo an toàn nguồn vốn của mình, những người chủ vốn phải ràng
buộc người vay bằng những cơ chế tín dụng chặt chẽ. Người đi vay sử dụng vốn
vào mục đích sản xuất của mình, lợi nhuận được tạo ra trong quá trình sản xuất
được phân chia rõ ràng theo tỷ lệ thoả thuận giữa người đi vay và người cho vay
tương ứng với số vốn mà người cho vay đã bỏ ra và người đi vay sử dụng. Phần
lợi nhuận mà người cho vay được hưởng chính là lợi tức.
2.2.2. Khái niệm, chức năng, vai trò lãi suất tín dụng
Lãi suất có ảnh hưởng rất lớn đến từng cá nhân, đơn vị sản xuất hay doanh
nghiệp vì lãi suất ở các mức khác nhau đều dẫn đến những quyết định khác nhau
của mỗi cá nhân, đơn vị sản xuất hay doanh nghiệp.
Trong các hoạt động kinh tế, tiền lãi là chênh lệch giữa vốn tích luỹ trong

S = s x (1+ i)
n

Trong đó:
S : Là số tiền tính theo n kỳ cho vay
s : Là lượng tiền ban đầu
i : Là lãi suất
n : Giai đoạn tính lãi
16
Đối với các hoạt động kinh tế thì lãi kép được áp dụng đối với tín dụng
trung và dài hạn. Lãi kép đòi hỏi việc tính toán tiền lãi phức tạp hơn nhiều so với
lãi đơn.
Nhìn chung trong các hoạt động của các tổ chức doanh nghiệp thì lãi suất là
một vấn đề chủ yếu mà tất cả các ngành kinh doanh đều quan tâm. Nó ảnh hưởng
mạnh mẽ đến nhịp độ chung trong sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Chính vì
vậy mà lãi suất có chức năng và vai trò quan trọng.
Trong nền kinh tế, lãi suất có chức năng phân phối. Đối với chức năng này
thì lãi suất giúp cho nền kinh tế phân bổ các khoản tiết kiệm hay nguồn vốn nhàn
rỗi vào những cách đầu tư và sủ dụng vào các mục đích khác nhau. Đối với
người tiết kiệm thì lãi suất là tiền thưởng cho việc hạn chế tiêu dùng và chờ đợi
tiêu dùng hay đầu tư vào sản xuất trong tương lai. Mức lãi suất tiết kiệm càng
cao thì càng khuyến khích được nhiều thành viên có vốn dự trữ gửi vào tiết
kiệm. Còn đối với người đi vay vốn để đầu tư vào sản xuất thì lãi suất là cái giá
phải trả cho số tiền vay để đầu tư vào sản xuất hay tiêu dùng nên mức lãi suất
càng cao thì việc đầu tư hay tiêu dùng càng ít. Chính vì vậy chức năng này của
lãi suất đảm bảo tốt cho việc huy động vốn và vay vốn diễn ra một cách bình
thường thuận lợi đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Bên cạnh đó, lãi suất còn có chức năng kiểm soát trong chính sách tiền tệ
của chính phủ. Lãi suất có vai trò trung tâm, nó được sử dụng như một công cụ
rất quan trọng để tác động lên toàn bộ nền kinh tế, kiểm soát được lượng cung

động cho vay của các tổ chức tư nhân,chơi hụi, chơi họ, mua bán chịu, bán non
sản phẩm…
2.3.2. Các hoạt động tín dụng trong nông thôn
2.3.2.1. Huy động vốn tín dụng
Đây là hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thống như NHNN &
PTNT, hệ thống QTDND… Các tổ chức này huy động vốn nhàn rỗi trong dân
với mục đích kinh doanh lấy lãi cùng với phương châm “đi vay để cho vay”.
Hoạt động này đem lại lợi ích qua giá trị thời gian của số tiền gửi (lãi suất), bên
nhận được hưởng lợi ích qua chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra.
2.3.2.2. Cho vay vốn tín dụng
Đây là hoạt động của tổ chức tín dụng (chính thống và không chính
thống). Các tổ chức này đưa ra vốn đến tay những người cần vốn và được trả
công bằng lãi suất tiền vay (đối với các tổ chức chính thống là lãi suất đầu ra),
Những người cần vốn thì có vốn để sản xuất, sinh lợi nhiều hơn là rất nhiều so
với giá mà họ phải trả khi vay tiền từ các tổ chức tín dụng (lãi suất tiền vay). Lãi
suất vay của các tổ chức tín dụng không chính thống thường cao hơn các tổ chức
tín dụng chính thống rất nhiều nhưng thủ tục cho vay đơn giản nên cả hình thức
cho vay này vẫn song song tồn tại và bổ sung cho nhau.
2.4. Những chủ trương, chính sách của nhà nước ta đối với công tác tín
dụng trong nông thôn trong những năm gần đây
Trong vùng nông thôn Việt Nam, hộ nông dân chủ yếu làm nông nghiệp.
Vì vậy, muốn phát triển kinh tế đất nước thì phải tập trung vào phát triển kinh tế
nông nghiệp nông thôn. Ngoài những chủ trương chính sách tác động trực tiếp
đến sản xuất nông nghiệp, Nhà nước ta còn ban hành các chính sách thông qua
hệ thống NHNN & PTNT nhằm tạo điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp
19
bằng quan hệ tín dụng với người sản xuất. Những năm qua, Nhà nước ta đã đề ra
những chủ trương, chính sách về việc cho các hộ nông dân vay vốn để phát triển
sản xuất.
Hoạt động ngân hàng của hệ thống ngân hàng Việt Nam chịu sự hướng

Nghị quyết liên tịch số 2308/NQLT- 1999 giữa Trung ương Hội nông dân
Việt Nam và Ngân hàng NN & PTNT ngày 9/10/1999 về tổ chức thực hiện chính
sách tín dụng ngân hàng phục vụ cho phát triển nông nghiệp nông thôn. Qua đây
hội nông dân các cấp kết hợp với Ngân hàng NN & PTNT các cấp để cho các hộ
nông dân vay vốn phát triển sản xuất, với quy định các hộ nông dân vay dưới 10
triệu đồng phải được sự bảo lãnh của Hội nông dân tại cơ sở đó và với điều kiện
người đứng tên vay là thành viên của hội thì không cần thế chấp tài sản với ngân
hàng và Hội nông dân sẽ đứng ra gánh một phần trách nhiệm cùng với Ngân
hàng NN & PTNT trong việc đầu tư và phát triển sản xuất, phát triển nông
nghiệp nông thôn trong giai đoạn hiện nay.
Quyết định số 718/2001/QĐ - NHNN ngày 29/5/2001 của Thống đốc ngân
hàng về việc thực hiện cơ chế cho vay theo lãi thoả thuận giữa tổ chức tín dụng
và khách hàng bằng ngoại tệ. Quyết định số 1627/2001/QĐ - NHNN ngày
31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc thực hiện cơ
chế lãi suất cho vay thoả thuận bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng. Cùng với các quy chế, cơ chế đã đổi mới trước đó, văn bản trên đã
tạo khung pháp lý mới thuận lợi hơn cho hoạt động tín dụng nói chung và tín
21
dụng nông thôn nói riêng làm cho hoạt động mang tính thị trường hơn. Nhờ vậy,
quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, tự quyết và chịu trách nhiệm
của ngân hàng và của khách hàng cũng như quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng được cải thiện đáng kể. Thông qua hoạt động, hệ thống ngân hàng đã cố
gắng huy động vốn và đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư, góp phần tích cực vào phát
triển kinh tế nông thôn với nhiều thành quả quan trọng. Dư nợ cho vay khu vực
này luôn chiếm khoảng 30% tổng dư nợ cho vay kinh tế. Vốn tín dụng ngân
hàng đã được sử dụng hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy nông
nghiệp nông thôn phát triển đảm bảo an ninh lương thực, từng bước tăng kim
ngạch xuất khẩu, góp phần tăng trưởng kinh tế ổn định.
Ngày 28/6/2002 có Quyết định số 687/2002/QĐ - NHNN của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước về việc công bố lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.

khích mạnh mẽ phát triển nông nghiệp bằng việc thành lập Ngân hàng cầm đồ
thế nợ bất động sản (Ngân hàng Hypoche) và những Ngân hàng công – nông
nghiệp ở địa phương. Đến nay, những tổ chức này đã được thay thế bằng các tổ
hợp tài chính nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản (AFFFC). Các tổ hợp này đã
cung cấp tiền vay cho nông nghiệp với một số lượng lớn, lãi suất thấp và dài hạn
để đầu tư cho việc hình thành vốn cố định trong hộ nông dân và các trang trại
nông nghiệp. Các AFFFC cung cấp tiền vay chủ yếu thông qua các HTX nông
23
nghiệp. Có tới 60% số dư nợ của tổ hợp này là qua ngân hàng HTX trung tâm
nông nghiệp, lâm nghiệp.
Từ đầu năm 1960, Chính phủ Nhật Bản đã có chương trình cho vay nông
nghiệp (GPALs) để tăng đầu tư cơ bản cho nông nghiệp. Nguồn vốn của những
chương trình này là từ Nhà nước và tư nhân thông qua các HTX nông nghiệp. Số
lượng GPALs ngày càng tăng qua các năm, số lượng tiền vay cũng ngày tăng
lên, từ 156 tỷ yên năm 1965 lên đến 693 tỷ yên năm 1984. Trong tổng số tiền
vay này, hơn 80% dùng cho tăng đất đai, hiện đại hoá hoạt động trang trại và cơ
giới hoá nông nghiệp. Chương trình cho vay nông nghiệp của Chính phủ Nhật
Bản hiện nay được cho là khá hoàn hảo.
2.5.1.2. Tín dụng nông nghiệp và nông thôn ở Thái Lan
Tín dụng nông nghiệp Thái Lan gồm 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn (thời gian từ 6 – 12 tháng) cung cấp tín dụng cho
những chi phí hoạt động nông nghiệp trong một vụ.
- Tín dụng trung hạn (thời gian cho vay từ trên 1 năm đến 5 năm) cung cấp
cho việc mua trang thiết bị sản xuất.
- Tín dụng dài hạn (thời gian vay từ 5 năm đến 30 năm) cung cấp cho việc
đầu tư những tài sản lớn của trang trại.
Hầu hết những tổ chức chính thống ở Thái Lan cung cấp tín dụng ngắn
hạn và trung hạn, chỉ có một số tổ chức tín dụng chính thống đã được đăng ký
với Nhà nước thì mới cung cấp tín dụng dài hạn.
Tổ chức tín dụng chính thống lớn nhất chuyên cung cấp tín dụng cho nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status