HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
TIỂU LUẬN
LÝ LUẬN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Đề tài: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam
GV hướng dẫn : Hạ Thu Quyên
Lớp : KH9A8
Nhóm làm đề tài : Nguyễn Thị Liễu
: Lê Thị Lanh
: Trương Hoài Thương
: Lê Thị Thắm
Tháng 10/2009
MỤC LỤC
Stt Nội dung Trang
LỜI NÓI ĐẦU 2/19
NỘI DUNG CHÍNH 3/19
I Khái quát chung về phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam 3/19
1 Một số khái niệm cơ bản 3/19
a Phân cấp là gì? 3/19
b Ngân sách nhà nước là gì? 3/19
c Thế nào là phân cấp ngân sách nhà nước? 3/19
2 Sự cần thiết và tác dụng của phân cấp ngân sách nhà nước 4/19
3 Sơ đồ phân cấp ngân sách nhà nước giữa chính phủ, chính quyền
địa phương và các tổ chức khác
5/19
II Thực trạng phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam 5/19
1 Phân cấp nguồn thu ngân sách nhà nước 5/19
2 Nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước 8/19
III Một số hạn chế và phương hướng hoàn thiện việc thu chi ngân
Từ sau những năm 1980 xu hướng phân cấp tài chính cho chính quyền địa
phương đã trở thành xu hướng chung của các nước trên thế giới. Việt Nam cũng
không ngoại lệ, xong phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam vẫn còn diễn ra chậm
chạp và còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy nhóm chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng
và giải pháp hoàn thiện phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam” để nghiên
cứu. Với mục tiêu tìm hiểu rõ hơn về thực trạng phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt
Nam và đưa ra một số phương hướng và giải pháp để làm tăng tính đồng bộ của phân
cấp, đặc biệt là phân cấp ngân sách nhà nước.
NỘI DUNG CHÍNH
I. Khái quát về phân cấp ngân sách nhà nước
1. Một số khái niệm cơ bản
a. Phân cấp là gì?
Phân cấp là một phương pháp quản lý trong đó chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn của các tổ chức trong hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp được phân
chia, phân công một cách cụ thể. Thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
theo nguyên tắc trao cho cơ quan cấp dưới nhiều quyền ra quyết định về các vấn đề
có liên quan và tăng cường sự giám sát hoạt động của các cơ quan đó thông qua hệ
thống trách nhiệm báo cáo.
b. Ngân sách nhà nước là gì?
Ngân sách nhà nước là toàn bộ khoản thu, chi của quốc gia trong dự toán đã
được cơ quan chính phủ có thẩm quyền quy định được thực hiện trong một năm để
đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của chính phủ (theo Luật Ngân sách
nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 1996).
c. Thế nào là phân cấp ngân sách nhà nước?
Phân cấp ngân sách nhà nước là trao cho chính quyền địa phương các cấp
nhiệm vụ, quyền hạn nhất định (bằng Pháp luật) về thu, chi ngân sách địa phương.
Phân cấp ngân sách nhà nước là cách thức nhằm tạo cho chính quyền địa phương
được phân cấp có chủ động, hiệu quả hơn trong việc tạo và sử dụng nguồn lực cho
các hoạt động được phân cấp (cung cấp dịch vụ, quản lý nhà nước, làm kinh tế, …).
công tác quản lý nhà nước về ngân sách một cách rõ ràng. Đối với hệ thống bộ máy
nhà nước các cấp góp phần làm lành mạnh, minh bạch nền tài chính quốc gia. Góp
phần quan trọng trong tạo môi trường đầu tư sản xuất kinh doanh dịch vụ, phát triển
nền kinh tế trong điều kiện nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
thương mại thế giới WTO, đang hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế quốc tế.
Hơn nữa trong thời điểm hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành cải
cách đổi mới tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước. Chúng ta đã thu được những
hành tựu rất có ý nghĩa. Bên cạnh đó hiện tượng vi phạm pháp luật, nạn tham nhũng,
sử dụng lãng phí ngân sách nhà nước còn khá phổ biến, bất cập, tồn tại trong công tác
quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước. Phân cấp ngân sách nhà nước là một trong
những phương thức tốt để khắc phục những biểu hiện tiêu cực trên.
Phân cấp ngân sách nhà nước cũng là yêu cầu khách quan tất yếu trong lộ trình
xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Sơ đồ phân cấp ngân sách nhà nước giữa chính phủ, chính quyền địa phương
và các tổ chức khác.
Các tổ chức
khác
Các tổ chức
khác
- Thuế
- Các khoản hỗ trợ
- Vay
- Chuyển giao
- Các nguồn khác
Chính quyền
địa phương
- Thường xuyên
- Đầu tư phát triển
- Nguồn thu được chia theo tỷ lệ giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa
phương.
Trong đó ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các
nhiệm vụ chiến lược quan trọng của quốc gia như: Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng,
kinh tế xã hội có tác động đến cả nước, hoặc nhiều địa phương; các chương trình dự
án quốc gia, các chính sách xã hội quan trọng điều phối hoạt động kinh tế vĩ mô của
đất nước, bảo đảm an toàn quốc phòng an ninh, đối ngoại và hỗ trợ địa phương chưa
cân đối được thu chi ngân sách.
Bên cạnh đó ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu đảm bảo chủ
động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh và trật
tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý của địa phương.
Việc phân cấp nguồn thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương do
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định, cấp xã được tăng cường nguồn thu, phương
tiện và cán bộ quản lý tài chính ngân sách.
Hiện nay tiềm lực tài chính quốc gia ngày càng được củng cố và tăng cường
chuyển từ thế bị động, phụ thuộc từ bên ngoài sang một nền tài chính chủ động, có
tích lũy đầu tư phát triển. Quy mô thu ngân sách nhà nước ngày càng lớn. Tổng thu
ngân sách nhà nước dự kiến thực hiện 5 năm 2001-2005 đạt khoảng 755.000 tỷ đồng
(tăng 135.000 tỷ đồng so với mục tiêu kế hoạch). Tốc độ tăng thu bình quân đạt
17,1% góp phần làm gia tăng đáng kể quy mô ngân sách.
Theo số liệu thống kê ta có:
Bảng thống kê ngân sách giai đoạn 1991-2005
Stt Năm Tổng thu (tỷ đồng)
1 1991-1995 31.794
2 1996-2000 73.988
3 2001-2005 153.934
Nguồn thu ngân sách trung ương được hưởng 100% gồm thuế XNK, thuế
GTGT và thuế tiêu thụ đặc biệt với một số hàng hóa nhập khẩu, thuế và các khoản
thu khác từ dầu khí, thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành.
theo đầu
người
(Nghìn
đồng/người)
Từ thuế
giao 100%
cho địa
phương
(Triệu
đồng)
Thuế được
phân chia
(Triệu
đồng)
Thu từ trợ
cấp (Triệu
đồng)
Thu từ trợ
cấp trên đầu
người
(Nghìn
đồng/người)
Tổng 65.822.571 53.174 15.809.86
1
14.375.16
7
34.277.544 32.899
Tối đa 7.560.202 2.095 4.607.815 2.195.020 1.798.383 1.753
Tối thiểu 422.105 443 29.231 11.941 215.737 139
Trung bình 1.079.059 852 259.178 241.560 578.320 531
nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài
1995 42% 27,6% 20,4%
1998 55,5% 23,7% 20,8%
2000 57,5% 23,8% 18,7%
2002 52,3% 28,8% 10,8%
Chi đầu tư phát triển của nhà nước bao gồm:
+ Đầu tư xây dựng cơ bản
+ Hỗ trợ phát triển kinh tế
+ Đầu tư phát triển các chương trình kinh tế khác (Trồng rừng, công nghệ
thông tin).
- Chi thường xuyên: Là quá trình phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước về
quản lý kinh tế xã hội. Mang tính chất là các khoản chi cho tiêu dùng xã hội, chi tiêu
thường xuyên để gắn liền với chức năng quản lý xã hội của nhà nước. Bao gồm các
loại chi đa dạng, chi thường xuyên có phạm vi tác động khả năng chứa đựng nhiều
mục tiêu khác nhau: từ giải quyết chế độ xã hội đến chi sự nghiệp phát triển kinh tế
với ý nghĩa đó, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi ngân sách
nhà nước.
Tỷ lệ chi thường xuyên so với tổng chi ngân sách nhà nước và so với GDP (%)
Năm Chi thường xuyên/tổng chi ngân
sách nhà nước
Chi thường xuyên/GDP
1991 67 11
1995 60,7 16,5
1997 63,2 16,8
1999 54,2 14
2001 53,1 16,2
2002 53,09 14,5
2003 62 15
KH-CN tự chủ quản lý tài chính, cụ thể là quản lý lao động và tiền lương.
+ Chi cho sự nghiệp y tế:
Tính đến cuối năm 2000 cả nước đã có trên 28.000 cơ sở y tế tư nhân hoạt
động dưới dạng phòng khám, trung tâm tư vấn y tế, … Mặc dù chủ trương xã hội hoá
y tế đã và đang triển khai nhưng quy mô tổng chi sự nghiệp y tế từ ngân sách nhà
nước vẫn không ngừng tăng lên, bình quân đạt mức tăng 13% năm.
Tình hình chi cho sự nghiệp y tế (tỷ đồng)
Năm 1991 1995 2000 2003
Tổng chi sự
nghiệp y tế
638 2.065 3.435 5.039
+ Chi cho sự nghiệp văn hoá - nghệ thuật - thể thao
Các khoản thu này nhằm nâng cáo đời sống tinh thần, trình độ thẩm mỹ cho
công chúng tạo điều kiện phát triển toàn bộ về chính trị, tư tưởng, đạo đức và sức
khoẻ cho mỗi công dân.
Trong thời gian qua với quy mô chi ngân sách nhà nước tăng lên thì khoản chi
cho sự nghiệp VH-NT-Thể thao cũng không ngừng tăng lên, với tỷ lệ bình quân tăng
13,5%. Trong đó chi cho hoạt động văn hoà và chi cho phát thanh truyền hình chiến
gần 2/3 tổng chi sự nghiệp VH-NT-Thể thao.
Chi cho Văn hoá – thông tin và phát thanh truyền hình (Đơn vị: tỷ đồng)
Năm Chi văn hoá – thông tin Chi phát thanh truyền hình
1999 737 682
2000 919 717
2001 823 580
2002 886 623
Mặt khác, chi cho thể thao cũng không ngừng tăng lên:
Năm 1991: 188 tỷ đồng
Năm 2000: 387 tỷ đồng
Năm 2001: 345 tỷ đồng
đến sử dụng tài sản công được hạn chế và tiết kiệm. Do đó tỷ trọng chi hành chính
nhà nước tuy tăng về số tuyệt đối song giảm mạnh về số tương đối.
Năm 1991-1995: Tỷ trọng bình quân chi hành chính trên tổng chi
thường xuyên đạt 18%-20%
Năm 1996→ nay: Tỷ trọng bình quân chi hành chính trên tổng chi
thường xuyên chỉ còn 9%-12%
Năm 1991 1995 2000 2002 2003
Tổng chi 1.290 6.225 8.689 7.210 7.084
Trong thời gian qua chi quản lý hành chính đã góp phần trong việc thực hiện
chức năng quản lý của nhà nước, bảo đảm thực hiện thành công các nhiệm vụ chính
trị, duy trì sự ổn định vĩ mô và vai trò quản lý kinh tế của nhà nước.
Kết quả phân cấp thu chi ngân sách tại Việt Nam
1997 1998 1999 2000 2001 2002
Dự kiến
2003
Kế
hoạch
1. Thu 65.352 70.612 78.489 90.749 103.77
3
121.71
6
141.93
0
149.320
Trong đó:
Thu ngân sách
địa phương
19.264 20.280 19.571 22.269 25.463 30.545 38.683 14.743
Tỷ lệ trong tổng
thu (%)
Chi ngân sách địa
phương
19,1 13,4 22,7 15,5 24,3 15,2 2,6 1,4
3. Tỷ lệ giữa chi
đầu tư và chi
thường xuyên
của địa phương
93,8 91,3 78,9 73,4 70,6 77,1 85,1 101,7
4. Trợ cấp bổ
sung từ ngân
sách trung ương
9.964 12.290 20.510 26.601 23.553 35.278 38.040 35.048
Tỷ lệ tăng trưởng 35,4 23,3 66,9 29,7 -11,5 49,8 7,8 -7,9
Tỷ lệ trong tổng
chi
35,5 38,6 52,5 59,0 42,0 54,6 57,4 52,2
III. Một số hạn chế và phương hướng hoàn thiện việc thu – chi ngân sách nhà
nước ở Việt Nam.
1. Một số hạn chế của thu chi ngân sách nhà nước
- Chính sách thuế thiếu ổn định, còn nhiều điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế,
bảo hộ sản xuất thông qua thuế chưa hợp lý, còn lồng ghép nhiều chính sách xã hội
nên đã ảnh hưởng nhiều tới hoạt động huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế.
- Tính bao cấp trong ngân sách nhà nước chưa được xoá bỏ triệt để. Chi tiêu ngân
sách, chi tiêu hành chính còn lãng phí, thiếu hiệu quả: chi ngân sách cho một số lĩnh
vực phục vụ nhu cầu chăm lo phát triển con người như giáo dục, y tế chưa đáp ứng
nhu cầu cần thiết.
- Tổ chức thực hiện chế độ công khai ngân sách nhà nước ở các đơn vị còn hình thức,
chưa thực hiện đúng theo các quy định phân cấp ngân sách được đẩy mạnh về mặt
khuôn khổ pháp lý. Xong việc triển khai giám sát quá trình này trên thực tế chưa
ngang tầm với yêu cầu.
+ Đơn giản hoá các trình tự thủ tục về hành chính thuế, đặc biệt là vấn đề hoàn thuế
và quyết toán thuế nhằm tiết kiệm thời gian chi phí cho đối tượng nộp và cơ quan
thuế.
- Hoàn thiện chính sách thuế trực thu theo hướng (đảm bảo điều tiết một cách hợp lý
thu nhập của cá nhân, và pháp nhân vào ngân sách nhà nước, đặc biệt chủ nghĩa xã
hội và khuyến khích làm giàu).
+ Mở rộng đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá
nhân, đưa nó vào sác thuế chính.
+ Từng bước hạ thuế suất để đảm giảm mức thu nhằm khuyến khích phát triển sản
xuất kinh doanh và nỗ lực lao động cũng như đảm bảo phù hợp với trào lưu trên thế
giới giảm thuế.
+ Đơn giản hoá trình tự thủ tục kê khai, thu nộp quyết toán thuế, đặc biệt đối với thuế
thu nhập cá nhân.
- Hoàn thiện chính sách thuế tài sản theo hướng (đảm bảo khuyến khích sử dụng tiết
kiệm, có kết quả TNTN và tài sản đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách địa
phương).
+ Đối với đối tượng chịu thuế: Quy định bao quát các loại thuế.
+ Căn cứ tính thuế: Quy định thống nhất theo giá thị trường.
+ Về thuế suất: cần quy định thuế suất hợp lý ở mức thấp để khuyến khích các đối
tượng tự nguyện nộp thuế cho ngân sách nhà nước. Thông qua đó góp phần mở rộng
đối tượng nộp thuế tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước (phân cấp cho
ngân sách địa phương).
+ Về quản lý thuế: để đảm bảo quản lý các loại thuế tài sản một cách chặt chẽ, có
hiệu quả, cần gắn liền công tác quản lý thuế với quản lý hành chính, phân cấp quản lý
cho chính quyền địa phương.
- Hoàn thiện chính sách phí và lệ phí theo hướng đảm bảo khuyến khích sử dụng tiết
kiệm, có hiệu quả các loại tài sản, dịch vụ công và đảm bảo một phần kinh phí cho
công tác quản lý và vận hành các loại hình dịch vụ này.
- Việc cải các chính sách phí, lệ phí cần tập trung vào
- Hoàn thiện phân cấp tài chính về nhiệm vụ chi, đổi mới quản lí ngân sách theo
thông lệ quốc tế.
KẾT LUẬN
Qua phân tích và nghiên cứu thực trạng phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt
Nam. Chúng tôi đã thấy được vai trò to lớn mà phân cấp ngân sách nhà nước đem lại,
phát huy được sự quản lý của tổ chức trong việc động viên, phân phối và sử dụng
hiệu quả các nguồn lực tài chính quốc gia, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, làm tiền đề quan trọng thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
Bên cạnh đó, hoạt động phân cấp ngân sách nhà nước còn bộc lộ một số bất
cập, yếu kém, tồn tại trong việc huy động và phân bổ nguồn lực tài chónh cho tăng
trưởng, đặc biệt là vấn đề sử dụng một cách hiệu quả nguồn lực tài chính để đảm bảo
chất lượng tăng trưởng.
Vì vậy để hạn chế tới mức thấp nhất những bất cập trên dòi hỏi phải có sự chỉ
đạo chặt chẽ thường xuyên và kịp thời, hoàn thiện Luật phân cấp ngân sách nhà nước.
Thực hiện bước đột phá về phân cấp ngân sách nhà nước trên cơ sở tính lồng
ghép nhiều cấp của ngân sách nhà nước để đảm bảo quyền tư chủ, nâng cao trách
nhiệm của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp. Tăng cường phân cấp về
phân quyền hạn và trách nhiệm cho các cấp chính quyền địa phương và đơn vị về
ngân sách theo mức độ và khả năng quản lý, phù hợp với từng cấp ngân sách. Tăng
số địa phương tự cân đối được ngân sách và có đóng góp cho ngân sách nhà nước.
Cho phép ngân sách cấp tỉnh được huy động nguồn lực từ trong nước.
Phân cấp như vậy mới biến các chủ trương, chính sách tài chính vào hoạt động
thực tế của đời sống và mới phát huy được vai trò của tài chính là một công cụ quan
trọng thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững ở nước ta. Là cơ sở đảm bảo cho nền
kinh tế nước ta sẽ hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế thế giới.TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam (Thực trạng và giải pháp) của GS.TS Dương