1
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục ký hiệu chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Mở đầu 1
Chương 1
: TỔNG QUAN VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
3
1.1 Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước 3
1.1.1 Khái niệm và bản chất ngân sách nhà nước
3
1.1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
3
1.1.1.2 Bản chất của ngân sách nhà nước
4
1.1.2 Tổ chức hệ thống NSNN ở các nước có nền kinh tế thị trường
6
1.2 Phân cấp quản lý NSNN 7
1.2.1 Khái niệm phân cấp quản lý NSNN
7
1.2.2 Các nguyên tắc về phân cấp quản lý NSNN 9
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân cấp quản lý NSNN
10
1.2.3.1 Tổ chức hành chính nhà nước
10
35
2.2.2 Sau khi có Luật NSNN (từ năm 1997 đến nay) 37
2.2.2.1 Giai đoạn 1997-2003 37
2.2.2.1.1 Cơ sở pháp lý 37
2.2.2.1.2 Kết quả thu, chi và cân đối các cấp NSĐP ở Tỉnh BR-VT 42
2.2.2.2 Giai đoạn 2004 đến nay 45
2.2.2.2.1 Cơ sở pháp lý 45
2.2.2.2.2 Kết quả thu, chi và cân đối các cấp NSĐP ở Tỉnh BR-VT 50
2.2.3 Đánh giá chung về những thành tựu và tồn tại trong phân cấp quản lý
NSNN ở Tỉnh BRVT
54
2.2.3.1 Những thành tựu đạt được trong phân cấp quản lý NSNN
542
2.2.3.2 Những tồn tại trong phân cấp quản lý NSNN 55
Kết luận chương 2 57
Chương 3:
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN CẤP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
58
3.1 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Bà rịa – Vũng tàu
giai đoạn 2006-2010
58
3.2 Quan điểm hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN ở Tỉnh BRVT 59
3.3 Giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN ở Tỉnh BRVT 61
3.3.1 Những kiến nghị với Trung ương
61
3
DANH MỤC CÁC BẢNG 1. Bảng 2.1 Kết quả thu, chi và cân đối các cấp NSĐP ở Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
giai đoạn 1992-1996. ..................................................................................(tr 35)
2. Biểu đồ 2.1 kết quả thu ngân sách các cấp .................................................(tr 36)
3. Biểu đồ 2.2 kết quả chi NSĐP ....................................................................(tr 37)
4. Bảng 2.2 Kết quả thu, chi và cân đối ngân sách ở NSĐP Tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu giai đoạn 1997-2003.............................................................................(tr 43)
5. Biểu đồ 2.3 kết quả thu ngân sách các cấp .................................................(tr 44)
6. Biểu đồ 2.4 kết quả chi NSĐP.................................................................... (tr 45)
7. Bảng 2.3 Kết quả thu,chi và cân đối ngân sách các cấp ở Tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu giai đoạn 2004-2006 ............................................................................(tr 50)
8. Biểu đồ 2.5 kết quả thu ngân sách các cấp .................................................(tr 51)
9. Biểu đồ 2.6 kết quả chi NSĐP ....................................................................(tr 52)
LỜI MỞ ĐẦU 5
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là một vấn đề có vai trò quan trọng
trong quản lý vĩ mô nhưng nó cũng rất phức tạp, liên quan đến việc giải quyết mối
quan hệ giữa các cấp quản lý trong việc tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ NSNN.
Phân cấp quản lý NSNN có mục đích là chuyển giao trách nhiệm về quản lý
NSNN cho chính quyền cấp dưới nhằm đưa chính quyền về gần với dân, phải tạo ra
những dịch vụ công cộng thuận tiện cho dân chúng với những chi phí thấp nhất và
mang lại cho người dân cơ hội tham gia vào quá trình ra quyết sách, đồng thời nâng
cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, tạo điều kiện cho
chính quyền địa phương hoạt động độc lập hơn trong khả năng của mình. Một hệ
thống phân cấp được thiết kế tốt sẽ mang lại nhiều lợi ích trong việc đẩy mạnh tăng
trưởng và ổn định kinh tế, ngược lại việc phân cấp được tiết kế không tốt, hoặc giám
sát kém, lỏng lẻo đối với hoạt động của chính quyền cấp dưới sẽ ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế, quản lý Nhà nước và cung cấp dịch vụ.
Công cuộc đổi mới đất nước, sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và xu hướng mở cửa, hội nhập quốc tế tạo ra những tiền đề và đòi
hỏi phải đổi mới, tăng cường phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và địa
phương nhằm phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, tăng quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý, thực hiện các nhiệm
vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.Trong thực tế những năm vừa qua, nước ta
đã thực hiện tương đối tốt việc phân cấp quản lý NSNN, nhờ đó đã đóng góp phần ổn
định và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, tạo điều kiện ổn định và tăng trưởng
Vũng Tàu.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về phân cấp quản lý NSNN.
Chương 2: Thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Chương 3: Hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nuớc ở Tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu.
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước:
1.1.1 Khái niệm và bản chất NSNN.
1.1.1.1 Khái niệm NSNN.
Doanh nghiệp, Hộ gia đình và Chính phủ là ba chủ thể chính cấu thành nên nền
kinh tế - xã hội. Mỗi chủ thể đều có hoạt động thu, chi đặc trưng riêng. Tài chính
doanh nghiệp và tài chính hộ gia đình gắn chặt và phục vụ trước hết cho hoạt động
của doanh nghiệp và hộ gia đình nên chúng được xem là khâu tài chính không tập
trung, trong hệ thống tài chính của một quốc gia, chúng đóng vai trò cơ sở. Hoạt
động thu, chi của Chính phủ có tác động đến các hoạt động của kinh tế vĩ mô thông
qua thuế và các khoản chi tiêu công nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chúng được
xem là khâu tài chính tập trung gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước.
Trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ vừa hoạt động như một quan toà để xét xử
tranh chấp trong xã hội, như một cảnh sát để duy trì an ninh xã hội theo pháp luật,
như một doanh nhân để gia tăng công sản hay như một chủ gia đình khi chăm lo các
vấn đề xã hội. Do đó hoạt động tài chính của Nhà nước thật đa dạng, phạm vi hoạt
động rộng lớn và có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ nền kinh tế của đất nước.
Bộ phận quan trọng của tài chính Nhà nước là NSNN. Trong quá trình phân
1.1.1.2 Bản chất của NSNN:
Hoạt động của NSNN là hoạt động phân phối các nguồn lực tài chính của xã hội
gắn liền với việc hình thành và sử dụng quỹ NSNN. Trong quá trình đó xuất hiện
hàng loạt các quan hệ tài chính giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể
trong xã hội và chúng được thể hiện ở phần thu ,chi của NSNN. Hệ thống các quan 9
hệ tài chính này tạo nên bản chất kinh tế của NSNN, thể hiện dưới những hình thức
cụ thể sau:
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các Doanh nghiệp, phát sinh trong quá trình
hình thành thu của NSNN dưới hình thức là thuế. Trong quá trình sử dụng quỹ
NSNN, nhà nước hỗ trợ vốn, đào tạo, cho vay ưu đãi…vv cho các doanh nghiệp, chi
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế phát triển. Thông qua quan hệ kinh tế, nhà nước kiểm tra được hoạt
động của các doanh nghiệp.
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính, sự nghiệp phát sinh
trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập, thể hiện bằng việc NSNN cấp kinh
phí đảm cho hoạt động bộ máy hành chính của Nhà nước theo dự toán được cấp có
thẩm quyền phê duyệt. Ngoài các đơn vị hành chính thì các đơn vị sự nghiệp thông
qua hoạt động của mình còn có nguồn thu dưới hình thức phí, thu dịch vụ và thu
khác. Nguồn thu này một phần dùng để trang trải các chi phí trong quá trình hoạt
động, một phần làm nghĩa vụ với Nhà nước.
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư, thể hiện thông qua quan
hệ phân phối lại giữa NSNN với dân cư. Một bộ phận dân cư làm nghĩa vụ tài chính
với nhà nước thông qua các khoản thuế, phí và lệ phí..vv.., đồng thời một bộ phận
dân cư nhận từ NSNN các khoản chi trợ cấp xã hội hoặc được hưởng từ các phúc lợi
xã hội công cộng từ nguồn NSNN đầu tư.
- Quan hệ giữa NSNN với thị trường tài chính. Xuất phát từ chính sách tài
chính, tiền tệ, yêu cầu về vốn, Nhà nước có thể tham gia thị trường tài chính bằng
Hệ thống NSNN là tổng thể cấp ngân sách, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ
với nhau đã được xác định bởi sự thống nhất về cơ sở kinh tế-chính trị, bởi pháp chế
và các nguyên tắc tổ chức của Nhà nước. 11
Ở các nước có nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân sách nhà nước được tổ chức phù
hợp với hệ thống hành chính, có hai hình thức tổ chức hệ thống hành chính, đó là:
- Những nước có hệ thống hành chính liên bang thì hệ thống ngân sách gồm 3
cấp gồm:
+ Ngân sách Liên bang.
+ Ngân sách bang.
+ Ngân sách địa phương.
Đặc điểm nổi bật của hệ thống ngân sách Nhà nước Liên bang là tính độc lập
tương đối của các cấp ngân sách, ngân sách cấp dưới không thể hiện vào ngân sách
cấp trên và ngân sách cấp trên không bao gồm ngân sách cấp dưới. Mỗi cấp chính
quyền nhà nước tự lập, xét duyệt và chấp hành ngân sách của mình. Muốn biết tổng
số thu, chi của Nhà nước phải cộng ngân sách của tất cả các cấp, từ Trung ương đến
Địa phương.
- Những nước có hệ thống hành chính theo thể chế phi Liên bang thì hệ thống
ngân sách gồm 2 cấp là: NSTW và NSĐP. Đặc điểm nổi bật của hệ thống ngân sách
phi Liên bang là ngân sách cấp dưới là một bộ phận không thể tách rời của ngân sách
cấp trên; Quốc hội quyết định ngân sách trong đó có NSĐP.
Tuy nhiên dù là hệ thống ngân sách Nhà nước Liên bang hay Phi liên bang thì
vai trò chủ yếu đều thuộc về NSTW, Chính phủ thâu tóm các nguồn thu quan trọng
và đảm nhận các nhiệm vụ chi chủ yếu nhất.
1.2, Phân cấp quản lý NSNN
1.2.1, Khái niệm phân cấp quản lý NSNN
Phân cấp quản lý ngân sách là việc phân định nhiệm vụ, quyền và trách nhiệm
của các cấp chính quyền trong quản lý điều hành ngân sách. Nói cách khác, phân cấp
13
Tuy nhiên, hạn chế chủ yếu của việc phân cấp theo quan điểm này là không
phát huy được tính chủ động, sáng tạo của địa phương trong việc quản lý, khai thác
nguồn thu. Không khuyến khích địa phương chăm lo, khai thác nguồn thu nên nguồn
lực toàn xã hội tăng chậm, tính tiết kiệm, hiệu quả ít được quan tâm; đồng thời tạo ra
tính thụ động, ỷ lại của địa phương đối với trung ương.
Phân cấp theo quan điểm thứ hai bảo đảm tính độc lập của ngân sách địa
phương nhưng vẫn có thể tập trung được nguồn lực cho Nhà nước trung ương để
thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội của quốc gia. Vì ngân sách địa phương
độc lập và được phân cấp mạnh mẽ nên đã tạo ra động lực thúc đẩy các cấp chính
quyền địa phương trong khai thác, bồi dưỡng nguồn thu trên địa bàn, từ đó tạo điều
kiện cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương tăng thu; đồng thời khi ngân
sách đã là của mình sẽ có tác dụng khuyến khích các cấp trong việc sử dụng tiết
kiệm, có hiệu quả nguồn lực.
Tuy nhiên, hạn chế chủ yếu của phân cấp theo quan điểm này lại chính là khó
khăn trong việc xác định nội dung và giới hạn phân cấp: phân cấp như thế nào, phân
cấp đến đâu, không phân cấp những nguồn thu, nhiệm vụ chi nào …; mặt khác, phân
cấp theo quan điểm này cũng dễ nãy sinh tình trạng cục bộ do sự phát triển không
đồng đều, mất cân đối giữa các địa phương, các vùng lãnh thổ nếu như ngân sách
trung ương không có đủ khả năng điều chỉnh vĩ mô để chi phối, định hướng phát
triển cho ngân sách địa phương.
Phân cấp theo quan điểm thứ ba, xét về hình thức là sự dung hoà giữa quan
điểm thứ nhất và quan điểm thứ hai, nhưng về thực chất thì gần giống như quan điểm
thứ nhất vì ngân sách địa phương không độc lập (cấp trên quyết định ngân sách cấp
dưới, cấp dưới quyết định ngân sách cấp mình trên cơ sở quyết định của cấp trên) và
không được phân cấp mạnh mẽ nên không khuyến khích tính chủ động, sáng tạo của
các cấp chính quyền địa phương.
trung ở cấp liên bang và bang. Chỉ những nhiệm vụ trực tiếp gắn với người dân mới
được phân cấp cho các cấp chính quyền dưới liên bang.
Thông thường đối với nhiều quốc gia (không phân biệt tổ chức nhà nước theo
mô hình liên bang hay phi liên bang) nếu càng có nhiều cấp hành chính thì việc phân
cấp quản lý ngân sách cho từng cấp chính quyền cũng phải phân định ra nhiều thang
bậc-tức là phải chia xẻ nguồn thu, nhiện vụ chi cũng như thẩm quyền cho mỗi cấp.
Tuy nhiên, cũng không nhất thiết mỗi cấp chính quyền là mỗi cấp ngân sách, vì
việc phân cấp quản lý ngân sách cho các cấp chính quyền địa phương còn tuỳ thuộc
mức độ phi tập trung quyền lực của nhà nước Trung ương, nên trong một số trường
hợp, tuy vẫn có nhiều cấp chính quyền nhưng không phải cấp chính quyền nào cũng
được nhà nước Trung ương phân cấp quản lý ngân sách. Ngược lại cũng có trường
hợp số cấp chính quyền ít hơn số cấp ngân sách như ở Cộng Hòa Liên Bang Đức,
Cộng Hòa Pháp.
1.2.3.2, Phân cấp quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước:
Phân cấp quản lý kinh tế - xã hội là cơ sở tiền đề quan trọng để phân cấp quản lý ngân
sách vì mỗi cấp chính quyền đều có chức năng, nhiệm vụ nhất định về quản lý kinh tế - xã
hội và để các cấp chính quyền thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo
luật định thì nhất thiết phải có các nguồn lực tương ứng đảm bảo.
NSNN không chỉ là cơ sở vật chất để các cấp chính quyền thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời nó cũng chịu ảnh hưởng, tác động trở lại của
hiệu quả hoạt động quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước (tác động đến thu, chi ngân
sách). Vì vậy, việc phân cấp quản lý ngân sách phù hợp với các nhiệm vụ quản lý
kinh tế - xã hội có ý nghĩa rất quan trọng, vừa đảm bảo cho các cấp chính quyền có
nguồn lực để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội; mặt khác, cũng có tác
động tích cực trong việc quản lý và khai thác các nguồn lực trên địa bàn. 16
Phân cấp quản lý kinh tế - xã hội là cơ sở, tiền đề để phân cấp quản lý ngân
sách nhưng phân cấp quản lý NSNN (thông qua việc xác nhận, huy động nguồn lực,
những thách thức giống nhau hết sức to lớn mà nhiều khi chính những thách thức này
nếu không được giải quyết thỏa đáng có thể dẫn đến sụp đổ cả quốc gia. Có nhiều
thách thức đặt ra cần giải quyết, trong đó không thể không kể đến 2 thách thức lớn.
Thách thức thứ nhất là phân cấp có khả năng làm nảy sinh mất công bằng, bình
đẳng giữa các địa phương hay nói cách khác sự chênh lệch về cơ sở hạ tầng cũng như
khả năng cung ứng các dịch vụ xã hội, nhất là các dịch vụ y tế, giáo dục… cho nhân
dân giữa các địa phương có nguy cơ ngày càng tăng.
Thách thức thứ hai là phân cấp có khả năng dẫn đến các địa phương vì lợi ích
cục bộ mà bỏ qua lợi ích quốc gia, địa phương phát triển kinh tế - xã hội một cách
“vô chính phủ”, không bám sát, tôn trọng định hướng chung cũng như những cân đối
lớn, những mục tiêu ưu tiên của quốc gia.
1.3 Kinh nghiệm phân cấp quản lý NSNN ở một số nước trên thế giới:
1.3.1 Phân cấp quản lý ngân sách ở Cộng Hòa Pháp:
►Về tổ chức hành chính:
Nước Cộng hòa Pháp là Quốc gia theo thể chế Nhà nước thống nhất, có 26
vùng, 100tỉnh và 36.500xã. Trong từng cấp hành chính nói trên đều có cơ quan
quyền lực do dân bầu và cơ quan hành chính Nhà nước.
Cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội (Hạ viện), ở các cấp địa phương là
HĐND, các cơ quan này đều do dân bầu và là cấp có thẩm quyền quyết định ngân
sách. Quốc hội quyết định phân bổ NSTW, HĐND quyết định phân bổ ngân sách
trong từng đơn vị hành chính địa phương. 18
Cơ quan hành chính của Quốc gia là Chính phủ, ở các cấp địa phương là UBND
(Tòa thị chính). Về mặt ngân sách, cơ quan hành chính các cấp có nhiệm vụ xây
dựng dự toán và tổ chức thực hiện ngân sách đã được Quốc hội (HĐND) quyết định.
►Về hệ thống ngân sách và phân cấp ngân sách:
Các cấp chính quyền đều có ngân sách để thực hiện một số nhiệm vụ được phân
định theo Pháp luật. Vì vậy, hệ thống ngân sách của Pháp bao gồm:
Chi đào tạo ngành nghề, đầu tư xây dựng và bảo dưỡng trường cấp III; trả lãi
tiền vay đầu tư; chi đảm bảo hoạt động của bộ máy do vùng quản lý và các hoạt động
thường xuyên khác; chi giải quyết việc làm; phòng chống các tệ nạn xã hội; quy
hoạch trong phạm vi vùng.
+ Ngân sách Tỉnh:
Các hoạt động xã hội ( trợ giúp trẻ em, nguời có tuổi, người tàn tật, trợ giúp
thuốc men), khai thác cảng biển (cảng thương mại và cảng đánh cá), chở học sinh đi
học, quy hoạch nông thôn, đầu tư xây dựng và bảo dưỡng trường phổ thông trung
học; trả lãi tiền vay đầu tư; Chi đảm bảo hoạt động của bộ máy do tỉnh quản lý và
các hoạt động thường xuyên khác.
+ Ngân sách xã:
Chi đảm bảo các công việc khai sinh, khai tử, hộ khẩu, xử lý rác thải, nước thải,
môi trường, đường xá của xã, vệ sinh dịch tễ, thư viện; trả lãi tiền vay đầu tư; Chi đảm
bảo hoạt động của bộ máy do xã quản lý và các hoạt động thường xuyên khác.
► Về nguồn thu:
Để đảm bảo thực hiện được các nhiệm vụ chi trên, nhìn chung từng cấp ngân
sách đều có các khoản thu từ thuế và thu tiền vay để đầu tư. Ngoài ra ngân sách các
cấp chính quyền địa phương còn được bổ sung từ NSTW. 20
* Ngân sách trung ương:
- Các khỏan thuế ( NSTW hưởng 100%)
+ Thuế giá trị gia tăng;
+ Thuế doanh nghiệp;
+ Thuế thu nhập ( thu nhập cá nhân và thu nhập công ty);
- Vay để đầu tư.
* Ngân sách các cấp chính quyền địa phương:
- Thu từ thuế ( chiếm khỏan 60% tổng thu NSĐP)
+ Thuế nhà ở;
được bổ sung để thực hiện một số mục tiêu, bổ sung từ Cộng đồng chung Châu Âu.
- Vay để đầu tư:
Trong trường hợp có nhu cầu đầu tư mà các nguồn thu từ thuế và trợ cấp không đủ
đáp ứng, các địa phương được quyền vay từ mọi đối tượng kể cả vay nước ngoài để đầu
tư. Việc vay này không bị ràng buộc bởi bất cứ điều kiện nào, trừ trường hợp phát hành
trái phiếu ra nước ngoài thì phải xin phép Chính Phủ và không được vay khoản này để
trả nợ khoản vay kia. Khi địa phương vay Nhà nước không đứng ra bảo lãnh.
► Cân đối ngân sách địa phương:
Ngân sách các cấp chính quyền địa phương của Cộng hòa Pháp được cân đối
theo nguyên tắc: Tổng số chi phải nhỏ hơn hoặc bằng tổng số thu ( bao gồm cả thu
tiền vay và bổ sung từ NSTW)
Khi lập và quyết định dự toán NSĐP phải xem xét cân đối giữa chi thường
xuyên và nguồn đảm bảo chi thường xuyên, chi đầu tư và nguồn đảm bảo chi đầu tư.
- Nguồn để đảm bảo chi thường xuyên là các khoản thu từ thuế, trợ cấp cân đối.
- Nguồn đảm bảo chi đầu tư là phần hỗ trợ mua thiết bị xây dựng các công trình
của địa phương và nguồn cấp lại 1 phần thuế giá trị gia tăng trên địa bàn địa phương. 22
- Trường hợp tiết kiệm được chi thường xuyên thì nguồn tương ứng sẽ được
chuyển sang chi đầu tư.
Trong quá trình chấp hành ngân sách, nếu có biến động phải thực hiện điều
chỉnh để ngân sách luôn được cân đối.
Nhận xét:
Nhìn chung việc quản lý ngân sách và phân cấp quản lý ngân sách ở Cộng hòa
Pháp có nhiều ưu điểm:
Về phân cấp ngân sách, các cấp ngân sách hoàn toàn tự chủ về ngân sách của
mình, điều đó tạo động lực quan trọng thúc đẩy tất cả các địa phương có trách nhiệm
quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính của địa phương.
Mặc dù địa phương được tự chủ về ngân sách nhưng Nhà nước Trung ương vẫn
2
với dân số khoảng 82,1triệu người, về hành chính được phân thành
3 cấp: Cấp liên bang, cấp bang (16 bang), cấp địa phương (xã, thành phố). Trong đó
cấp Liên bang và Bang là cấp nhà nước (được ban hành Hiến pháp và Luật). Trong
mỗi cấp hành chính đều có cơ quan pháp luật và cơ quan hành pháp.
Cơ quan lập pháp ở Bang và Liên Bang là Quốc hội, ở địa phương là HĐND.
Cơ quan hành pháp ở Bang và Liên Bang là Chính Phủ. Ở địa phương là UBND.
Về thẩm quyền, Quốc hội Liên bang ban hành các Luật có phạm vi điều chỉnh
trên toàn bộ Liên Bang, các Bang ban hành các Luật có phạm vi điều chỉnh trong
Bang (có gắn với sự điều chỉnh các Luật của Liên Bang); HĐND địa phương ban
hành các nghị quyết trong phạm vi địa phương.
Về ngân sách, Quốc hội ( HĐND) là cơ quan quyết định phê chuẩn ngân sách
còn Chính phủ (UBND) là cơ quan lập, trình các phương án ngân sách để Quốc hội
(HĐND) quyết định và tổ chức thực hiện, điều hành ngân sách theo các quyết định
của Quốc Hội (HĐND). Để sử dụng kinh phí tiết kiệm và có hiệu quả, Quốc hội 24
(HĐND) còn quyết định cả những vấn đề về quy hoạch giao thông, đô thị và nhân sự
của từng Bộ, cơ quan.
Ngoài 3 cấp hành chính trên ở Đức còn có cấp liên xã và liên vùng, đây là cấp
trung gian để xử lý các nhiệm vụ vượt quá phạm vi và khả năng của xã (giải quyết
các nhiệm vụ chi của một xã, một liên xã không thể giải quyết được). Hiến pháp Liên
bang có quy định những điều kiện để thành lập liên xã, liên vùng.
Để đại diện quyền lợi cho các địa phương, ở Đức còn có các tổ chức hội như
hội liên xã. Về mặt pháp lý các hội trên hoạt động như một tổ chức tư nhân và giống
như chiếc cầu nối giữa các cơ quan của Chính phủ và địa phương. Kinh phí của hội
do các xã thành viên đóng góp. Trước khi Chính phủ đưa ra những chính sách có liên
quan đến địa phương thì đều có thông báo và tham khảo ý kiến của hội. Hội thảo
luận với các địa phương và thông báo kết quả trở lại cho Chính phủ. Trong một số
người dân, tùy theo từng nhiệm vụ cụ thể do cấp bang và cấp địa phương đảm nhận:
- Liên bang đảm nhận một số nhiệm vụ chi như Quốc phòng, an ninh, ngoại
giao, bộ máy Liên bang,… hỗ trợ cho các Bang.
- Bang đảm nhận các nhiệm vụ hệ thống hạ tầng xã hội, trợ giúp xã hội ( thất
nghiệp), cảnh sát trật tự, đào tạo các trường Đại học, trả lương cho giáo viên, hệ
thống giáo dục, chi bộ máy nhân sự Bang,… hỗ trợ cho các địa phương.
- Địa phương ( xã) thực hiện các nhiệm vụ còn lại gắn với thực tế quyền lợi của
người dân ở địa phương như chăm lo cơ sở vật chất cho giáo dục, các công trình công
cộng thoát nước, công viên, nghĩa trang, chi hoạt động của bộ máy xã.
* Phân định nguồn thu:
Để thực hiện các nhiệm vụ chi được quy định như trên, ngân sách các cấp đều
có nguồn thu như: