Website: Email : Tel : 0918.775.368
I. PHÁT BIỂU VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, tháng 12 năm 2006, nước ta chính thức gia
nhập WTO. Sau sự kiện này, Việt Nam sẽ mở cửa hoàn toàn dịch vụ tài
chính, kế toán, kiểm toán, bảo hiểm… cho các đối tác nước ngoài. Điều
này dẫn đến một yêu cầu thực tế bức thiết là thông tin về thị trường tài
chính Việt Nam phải được minh bạch và có độ tin cậy cao. Do đó, sự bùng
nổ về cầu đối với lĩnh vực kiểm toán sẽ là điều tất yếu. Công tác kiểm toán
sẽ là một trong những chìa khóa tăng cường sự minh bạch cũng như sức
cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong hoạt động kiểm toán,
nguồn lực con người được coi như là yếu tố quyết định đối với chất lượng
dịch vụ cung cấp. Tuy nhiên điều kiện thực tế Việt Nam cho thấy: nguồn
nhân lực phục vụ cho ngành kiểm toán còn đang rất thiếu hụt cả về số
lượng lẫn chất lượng, do đó mà chất lượng dịch vụ kiểm toán cũng còn
nhiều hạn chế. Vì vậy việc xây dựng và phát huy đầy đủ sức mạnh nguồn
nhân lực cho ngành kiểm toán trở thành một vấn đề bức thiết của nền kinh
tế hiện nay.
Với những kiến thức về phương pháp luận triết học đã lĩnh hội được
từ các bài giảng triết học, em chọn đề tài “Vận dụng phương pháp luận
duy vật biện chứng trong việc xây dựng và phát huy nguồn nhân lực
cho ngành kiểm toán độc lập tại Việt Nam” để trình bày một số quan
điểm của mình về phương pháp luận triết học trong việc định hướng giải
quyết vấn đề này. Em rất mong sẽ nhận được ý kiến đánh giá của các giảng
viên để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn!
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. LUẬN CHỨNG LÝ DO NÊU VẤN ĐỀ
Căn cứ vào đâu mà lại coi vấn đề xây dựng và phát triển nguồn nhân
lực cho ngành kiểm toán là một trong những vấn đề bức thiết của yêu cầu
phát triển kinh tế hiện nay? Điều này xuất phát từ đòi hỏi khách quan của
nền kinh tế đối với hoạt động kiểm toán cũng như trong chính khả năng
đặt ra yêu cầu khách quan đối với nguồn nhân lực kiểm toán là phải đủ về
số lượng, cao về chất lượng và trình độ chuyên môn cũng như giàu về kinh
nghiệm thực hành.
2. Thực trạng nguồn nhân lực kiểm toán
Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động của ngành kiểm toán cho thấy
nguồn nhân lực của ngành vẫn còn thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng
Về số lượng, nhân lực ngành kiểm toán đang ở tình trạng thiếu hụt
trầm trọng. Hiện nay, cả nước chỉ có gần 1.000 kiểm toán viên có chứng
chỉ hành nghề. Con số này quá ít ỏi trước sự bùng nổ của nhu cầu kiểm
toán. Hơn nữa, tiêu chuẩn để được cấp chứng chỉ hành nghề kiểm toán là
rất cao như phải có bằng đại học chuyên ngành, rồi 5 năm kinh nghiệm và
phải trải qua 8 môn thi rất khó khăn Do vậy tính đến nay số lượng kiểm
toán viên chuyên nghiệp ở Việt Nam còn rất thấp so với yêu cầu của nền
kinh tế.
Bên cạnh đó, số lượng nhân lực của ngành luôn biến động xáo trộn
vì đây là một trong những nghề luôn phải đối mặt với những thách thức
pháp lý. Áp lực công việc, đặc biệt trong mùa kiểm toán, làm cho các kiểm
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
toán viên căng thẳng quá mức thường xuyên, khiến họ dễ dàng bỏ nghề
hoặc chuyển sang các lĩnh vực khác. Một số kiểm toán viên sau khi đã có
chứng chỉ kiểm toán quốc tế lại chuyển công tác hay định cư ở nước ngoài.
Tình trạng chảy máu chất xám thường xuyên diễn ra trong ngành làm cho
nguồn nhân lực về kiểm toán lại càng trở nên thiếu hụt hơn so với yêu cầu
của nền kinh tế.
Về chất lượng, số lượng kiểm toán viên đạt trình độ chuẩn Việt Nam và
quốc tế còn rất thấp. Theo Hiệp hội kế toán công chứng Anh (ACCA), hiện
Việt Nam chỉ có gần 1.000 kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề, trong khi
nhu cầu kiểm toán ngày càng tăng. Trong khi đó, chứng chỉ kiểm toán viên
của Việt Nam còn chưa được công nhận rộng rãi và con số trên 200 kiểm toán
3. Một số nguyên nhân của tình hình trên
Như đã trình bày, yêu cầu khách quan của nền kinh tế đặt ra cho lao
động ngành kiểm toán càng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng.
Song với tình hình thực tế hiện nay thì nhân lực của ngành mới chỉ đáp ứng
được một phần rất nhỏ những yêu cầu đó. Thực trạng này có thể bắt nguồn
từ các nguyên nhân sau:
- Kiểm toán độc lập tại Việt Nam mới ra đời trong kinh tế thị trường
còn rất non trẻ và chưa hề có một cơ sở gì làm nền tảng mà hoàn toàn phải
tự thân vận động. Do đó mà vấn đề đầu tư vào nguồn nhân lực cũng còn
nhiều hạn chế
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Thời kỳ mới chuyển đổi sang kinh tế thị trường vẫn còn tồn tại
những quan điểm chưa đúng về vai trò của kiểm toán độc lập. Các doanh
nghiệp Việt Nam vẫn còn tư tưởng “chuộng” kiểm toán và thanh tra Nhà
nước. Vì thế lao động trong ngành kiểm toán độc lập vẫn chưa được đánh
giá đúng mức
- Khung pháp lý chưa hoàn chỉnh. Mặc dù trong thời gian gần đây,
hệ thống các văn bản pháp luật về kiểm toán, kế toán đã được đổi mới và
ban hành khá đầy đủ, bao gồm Luật Kế toán, các nghị định, các chuẩn mực
kế toán, kiểm toán dần phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, chúng ta
vẫn còn một khoảng cách khá xa so với thế giới. Các văn bản vẫn mang
nặng tính chất hành chính và chưa tạo ra được sự đồng bộ, thống nhất cũng
như chưa xây dựng được chính sách bồi dưỡng đào tạo và đãi ngộ thỏa
đáng cho kiểm toán viên để giữ chân họ lại trước yêu cầu và áp lực công
việc quá cao.
- Một điểm cần lưu ý là các doanh nghiệp Việt Nam nói chung vẫn
chưa nhận thức đầy đủ vai trò và tầm quan trọng của công việc kiểm toán.
Một số chắc phải đến khi vấp ngã mới thấy tầm quan trọng của kiểm toán,
kế toán. Đơn cử như việc thị trường chứng khoán vừa qua đã nóng lên. Một
giải pháp đưa ra mới chỉ là giải pháp nhỏ lẻ, tình thế, hoặc đôi khi là giải
pháp rất chung chung và không mấy hiệu quả. Việc xem xét đánh giá về
nguồn nhân lực và yêu cầu tình hình mới chỉ xem xét ở hiện tượng mà chưa
rút ra được bản chất và các mối liên hệ cơ bản; mới chỉ dừng lại ở các hình
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thức thể hiện mà chưa đi sâu tìm hiểu nội dung yêu cầu; chưa nhận thức
được đâu là cái chung đặc thù của ngành, đâu là cái riêng của từng loại
hình hoạt động; mới chỉ nhìn nhận thực tế mà chưa truy tìm tận gốc nguyên
nhân tạo ra kết quả đó; mới chỉ nhìn thấy hiện thực mà chưa đánh giá được
đúng đắn khả năng và tiềm lực trong tương lai…Đôi khi xem xét theo kiểu
bình quân, cào bằng vai trò của nguồn nhân lực với các yếu tố khác. Kết
quả là các giải pháp đề ra không thực sự hữu hiệu đối với việc phát huy sức
mạnh nguồn nhân lực.
Khi đánh giá vai trò kiểm toán nói chung, kiểm toán độc lập nói
riêng, đặc biệt là nguồn nhân lực kiểm toán còn phiến diện, cục bộ, mới chỉ
nhìn đến một mặt một góc độ nhất định chứ chưa xét đến tất cả các mối
liên hệ tác động qua lại giữa kiểm toán độc lập với các doanh nghiệp và
quan hệ giữa hỗ trợ giữa kiểm toán nhà nước và kiểm toán độc lập. Vẫn
còn coi trọng kiểm toán nhà nước và chưa có đánh giá đúng đắn về vai trò
to lớn của kiểm toán độc lập với sự an ninh và lành mạnh của nền tài chính
quốc gia. Do đó nguồn nhân lực mới chỉ được ưu tiên cho khu vực kiểm
toán nhà nước còn kiểm toán độc lập thì vẫn rất yếu ớt vì chưa được đầu tư
nhiều. Điều này làm hạn chế số lượng và chất lượng nhân lực ngành kiểm
toán độc lập.
Trong giai đoạn trước đây có những lúc chưa nhìn nhận đầy đủ về
vai trò nguồn lực con người, chưa coi đó là một nguồn tài nguyên quý giá
của quốc gia, mà chỉ coi trọng các nguồn lực vật chất, nên chưa phát huy
được sức mạnh và vai trò to lớn của nguồn lực con người. Từ sau quá trình
đổi mới, nhận thức đã có sự biến chuyển theo chiều hướng tích cực, đã
Định hướng giải quyết vấn đề nhân lực ít nhiều còn dựa trên kinh
nghiệm chủ quan mà chưa căn cứ vào thực tế khách quan của chính ngành
kiểm toán độc lập. Có thể nói, việc giải quyết vấn đề chưa xuất phát từ hai
thực tế khách quan đối lập nhau: một bên là đòi hỏi ngày càng cao của thị
trường đối với chất lượng và số lượng nhân lực, một bên là năng lực thực tế
nguồn nhân lực còn hạn chế của ngành. Do vậy các biện pháp đưa ra chưa
thực sự có tác động lớn tới việc bồi dững nguồn nhân lực. Các doanh
nghiệp còn chưa linh động trước những biến đổi phức tạp của thực tế để đề
ra chính sách chiêu mộ, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ hợp lý nên
vẫn chưa giữ chân được đội ngũ kiểm toán viên có trình độ cao.
3. Nhận thức và xây dựng phương pháp giải quyết chưa đảm
bảo nguyên tắc phát triển
Khi đánh giá thực tế mà xa rời nguyên tắc phát triển tức là đã nhìn
nhận sự vật hiện tượng trong trạng thái cô lập và đứng yên. Như thế giải
pháp đưa ra sẽ không tính đến các tình huống có thể xảy ra nên không thể
đưa ra được các điều chỉnh thích hợp phù hợp với tình hình mới. Thực tiễn
công tác đào tạo và phát triển nhân lực ngành kiểm toán cho thấy, do không
dự đoán trước được xu hướng phát triển và vai trò ngày càng to lớn của
hoạt động kiểm toán trong tiến trình hội nhập nên nước ta đã bị chậm hẳn
so với thế giới, chất lượng và số lượng kiểm toán viên cũng còn khoảng
cách rất xa mới đáp ứng kịp nhu cầu thị trường. Hơn nữa các biện pháp để
huy động và phát triển nguồn nhân lực vẫn chưa thực sự có hiệu quả do
chưa dự đoán được xu hướng phát triển, chưa thấy được những mâu thuẫn
và động lực cũng như cách thức phát triển của các loại hình doanh nghiệp
kiểm toán. Do đó một số biện pháp đưa ra mới chỉ mang tính tình thế chứ
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chưa có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Ví dụ như việc các công ty giữ chân
nhân viên bằng cách tăng lương hiện nay và chính sách ràng buộc nhân
viên. Nhìn bề ngoài thì có vẻ như lương tăng lên vùn vụt mỗi năm, song
Giải pháp cho vấn đề nguồn nhân lực kiểm toán hiện nay là phải xây
dựng và phát triển nguồn lực này một cách bền vững cả chất lượng lẫn số
lượng. Theo cách hiểu như vậy thì cần có cách tiếp cận đúng đắn, đó là
tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của phương pháp luận duy vật biện chứng,
bao gồm nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát
triển, nguyên tắc lịch sử-cụ thể và nguyên tắc thống nhất giữa nhận thức và
thực tiễn
1.1. Nguyên tắc khách quan trong nhận thức
Nguyên tắc này yêu cầu khi nhìn nhận đánh giá sự vật hiện tượng
phải xuất phát từ thực tế khách quan của chính bản thân sự vật hiện tượng
đó để rút ra kết luận về bản chất, nội dung bên trong, các mối liên hệ phổ
biến… của sự vật hiện tượng đó nhằm có giải pháp cải tạo phù hợp. Khi
xem xét vấn đề nguồn nhân lực ngành kiểm toán độc lập cần xuất phát từ
chính thực trạng nhân lực còn rất thiếu hụt hiện nay của các công ty kiểm
toán độc lập tại Việt Nam, nhận thức được những ưu điểm, hạn chế của
nguồn nhân lực cũng như những yêu cầu bức thiết mà thực tế khách quan
đang đặt ra đối với nguồn lao động trình độ cao này. Cần tránh việc nhận
thức theo ý kiến chủ quan sẽ phạm phải sai lầm duy ý chí trong nhận thức
và đưa ra giải pháp cụ thể cho vấn đề này.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2. Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc toàn diện yêu cầu việc nhận thức bản chất sự vật hiện
tượng phải đặt trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố, các mặt,
các thuộc tính khác nhau trong chỉnh thể sự vật và với các sự vật khác. Qua
đó phải nắm được các mặt, các mối liên hệ chủ yếu, bản chất của sự vật
hiện tượng, tránh nhận thức sai lệch xuyên tạc bản chất sự vật hiện tượng.
Như vậy, nguyên tắc này cho phép chúng ta tính đến mọi khả năng phát
triển của ngành kiểm toán và mọi yêu cầu đối với nguồn nhân lực. Nguyên
tắc này còn yêu cầu phải xem xét vấn đề nhân lực kiểm toán trong mối
việc đánh giá về quy mô, tính chất nguồn nhân lực kiểm toán độc lập phải
được cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử nhất định với những điều kiện về
không gian thời gian xác định. Trong mỗi giai đoạn cần biết phân tích tình
hình cụ thể để thấy điểm mạnh, điểm yếu, những đặc trưng cơ bản của
nguồn lực lao động so với yêu cầu phát triển của tình hình mới và trình độ
chung trên thế giới. Từ đó mới có thể đánh giá được việc phát huy nguồn
lực lao động đã tương xứng với tiềm năng, trình độ phát triển của nền kinh
tế hay chưa, đã đáp ứng yêu cầu khách quan hay chưa… Trên cơ sở đó mà
có các chính sách bồi dưỡng đào tạo nhân lực hiệu quả hơn
1.5. Nguyên tắc thông nhất giữa nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc này dựa trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa lý luận
và thực tiễn. Thực tiễn là cơ sở xây dựng nhận thức lý luận đồng thời là cơ
sở để kiểm tra và bổ sung cho tính đúng đắn của nhận thức lý luận, còn lý
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
luận đúng đắn đã được kiểm chứng qua thực tiễn sẽ quay trở lại chỉ đạo
hoạt động thực tiễn để đạt được hiệu quả cao. Trong quá trình đề ra giải
pháp cho vấn đề nhân lực kiểm toán độc lập tại nước ta cần chú trọng áp
dụng nguyên tắc này đề nhận thức lý luận không trở thành lý thuyết suông
mà là người dẫn đường thông minh cho mọi vấn đề.
2. Một số giải pháp cụ thể cho tình hình nhân lực kiểm toán
độc lập nước ta
Với những nguyên tắc phương pháp luận nêu trên, em xin đề xuất
một số giải pháp cụ thể như sau:
• Chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo chuyên môn
Việc đầu tiên là phải chú trọng đến công tác giáo dục đào tạo đại học
và chuyên sâu, hoàn thiện cải cách nội dung giáo dục để đáp ứng yêu cầu
phát triển trong tình hình mới, phát huy tính sáng tạo của sinh viên học
viên, nâng cao khả năng thực hành trước khi đi làm. Phải tạo lập được môi
trường giáo dục đào tạo lành mạnh, trong sạch, tránh tình trạng chạy đua
cho thuê chứng chỉ kiểm toán viên, hoặc một kiểm toán viên đăng ký hành
nghề cho nhiều công ty kiểm toán cùng một lúc.
• Nâng cao vai trò hướng dẫn của các hội nghề nghiệp
Tại các nước phát triển, hội nghề nghiệp là cơ quan ban hành hệ
thống Chuẩn mực Kiểm toán, cấp chứng chỉ hành nghề của KTV. Đồng
thời hội nghề nghiệp cũng là cơ quan bảo vệ quyền lợi và cơ hội phát triển
cho kiểm toán viên độc lập. Tuy nhiên tại Việt nam, hội nghề nghiệp kế
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
toán kiểm toán vẫn chưa thực sự có vai trò quan trọng và ảnh hưởng sâu
sắc đến sự phát triển của thị trường kiểm toán. Để hội nghề nghiệp thực sự
giữ vai trò chủ yếu trong sự phát triển của kiểm toán độc lập cần thực hiện:
- Hoạch định chiến lược xây dựng phát triển hội trở thành một tổ
chức nghề nghiệp theo một lộ trình phù hợp với chiến lược hội nhập, nhấn
mạnh trên các mặt: thành lập các uỷ ban chuyên môn (uỷ ban chuẩn mực
kiểm toán, uỷ ban kiểm tra chất lượng kiển toán, uỷ ban kỷ luật… ) để giúp
hội trong quản lý nghề nghiệp về kế toán kiểm toán; thành lập các trung
tâm đào tạo, chuyên gia kế toán kiểm toán.
- Tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động của hội nghề nghiệp
kế toán kiểm toán. Cần tổ chức bộ máy chuyên trách, mở rộng các mối
quan hệ quốc tế, xây dựng chương trình làm việc thường xuyên, chủ động
với Chính phủ và Bộ Tài chính trong việc phát triển nghề nghiệp và các
dịch vụ kế toán kiểm toán như: Xây dựng chiến lược phát triển số lượng và
chất lượng đội ngũ kiểm toán viên đảm bảo uy tín, tính độc lập cao…
• Chính sách của các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp cần có chính sách chiêu mộ, đào tạo, sử dụng và
khoản đãi hiền tài hợp lý. Dù đang thiếu nhân viên nhưng tuyển dụng
không thể ồ ạt vô căn cứ mà phải dựa trên các tiêu chuẩn cụ thể của ngành
nghề. Việc bố trí sử dụng lao động phải đảm bảo thời gian tái sản xuất sức
lao động, đảm bảo sức khỏe cho kiểm toán viên. Bên cạnh đó cần có chính