Đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản trị doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại nhà nước - Pdf 14

ĐỔI MỚI, HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC
TS. Nguyễn Thị Thanh Hương
*1. Vai trò của Ngân hàng thương mại Nhà nước trên thị trường
tài chính
Theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2009 của
Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, Ngân hàng
thương mại Nhà nước (NHTM NN) bao gồm ngân hàng thương mại do Nhà
nước sở hữu 100% vốn điều lệ và ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà
nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
NHTM NN có vai trò quyết định trong việc định hướng xã hội chủ
nghĩa và khắc phục những yếu kém, hạn chế của thị trường tài chính hoạt
động theo cơ chế thị trường, trong điều kiện nền kinh tế mở, hội nhập kinh tế
quốc tế. NHTM NN là công cụ quan trọng để Nhà nước định hướng cho sự
vận động của thị trường tài chính nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ
trong từng thời kỳ, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để phát huy vai
trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Các
NHTM NN không chỉ là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế về lĩnh vực
tiền tệ, ngân hàng, mà còn là những nhà tài trợ vốn lớn, những nhà cung ứng
dịch vụ ngân hàng hàng đầu cho hầu hết các doanh nghiệp sản xuất trong quá
trình phát triển, hội nhập kinh tế thế giới và khu vực. Trong điều kiện khủng
hoảng tài chính toàn cầu, chúng ta còn nhận thấy, các NHTM NN sẽ là công
cụ quan trọng để đảm bảo ổn định thị trường tài chính, củng cố niềm tin của
người gửi tiền vào hệ thống tài chính, và điều tiết kinh tế vĩ mô.

*
Tạp chí Ngân hàng
Tuy nhiên, để phát huy được vai trò của mình trên thị trường tài chính,

Đảm bảo chỉ tiêu an toàn vốn
Không tăng trưởng thì không
giữ/ mở rộng được thị phần
phục vụ khách hàng
Không có lợi nhuận sẽ
không có nguồn vốn
mở rộng kinh doanh và
không đảm bảo lợi ích
cho cổ đông
Rủi ro cao, không đáp ứng được
yêu cầu của hoạt động an toàn,
bền vững
Lợi nhuận Tăng trưởng
2. Thực trạng chất lượng quản trị tại các NHTM NN hiện nay
Từ đầu năm 2001, các NHTM NN đã xây dựng chiến lược phát triển
tới năm 2010: hoạt động đa năng, kết hợp bán buôn với bán lẻ; đa dạng hóa
dịch vụ ngân hàng, với mục tiêu trở thành các NHTM hàng đầu tại Việt Nam
và phấn đấu trở thành ngân hàng quốc tế trong khu vực. Ban lãnh đạo các
NHTM NN đã cụ thể hóa chiến lược phát triển nói trên trong “
Đề án Tái cơ
cấu ngân hàng…”
và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Mục tiêu cơ
bản của Đề án tái cơ cấu NHTM NN bao gồm:
(i) Nâng cao năng lực tài
chính; (ii) Mở rộng hoạt động kinh doanh; (iii) Hiện đại hóa công nghệ và
phát triển sản phẩm mới; (iv) Xây dựng mô thức quản lý hiện đại, đặc biệt là
trong công tác quản trị rủi ro và kiểm tra, kiểm toán nội bộ.
Theo đó, trong
hơn 10 năm qua, các NHTM NN đã phát triển mạnh mẽ, tiếp tục giữ vai trò
chủ đạo trên thị trường tài chính Việt Nam
Một số thành công của các NHTM NN cần được ghi nhận:
- Đa số các NHTM NN là những NHTM hoạt động và tăng trưởng tốt,
thuộc nhóm các NHTM Việt Nam hàng đầu, có hệ số an toàn vốn trên: 9%
(xem bảng 2)
, điển hình là ba ngân hàng VCB; VietinBank; BIDV. Bảng 2: Một số chỉ tiêu hoạt động của các NNHTM NN và 03 NHTMCP lớn
Vốn chủ sở
hữu

Vốn điều lệ

Tổng tài sản

Huy động vốn
TT 1

Tổng dư nợ TT 1

Nợ xấu

Năm
2010
Năm
2011
Năm
2010

toàn
HT
(%)
so
với
toàn
HT
(%)
so
với
toàn
HT
(%)
so
với
toàn
HT
(%)
so
với
toàn
HT
(+-)
so
với
toàn
HT
(%) so
với toàn
HT

44.54 51.28 51.65 49.54 47.75
Khối
TCTD cổ
phần
47.0
3
44.2
2
49.6
1
46.3
9
44.2
5
45.3
0
44.2
6
44.18 35.32 35.11 27.19 27.91
Khối NH
có yếu tố
nước ngoài
14.5
4
20.1
3
14.7
0
20.9
2

64
2,78 2,06 20,50 19,93 7,03 9,67
BIDV
0,68 0,85 10,03 13,0 2,32 2,41 24,46 11,68 8,14 9,89
Vietinbank
1,03 1,21 19,02 19,29 0,66 0,74 50,91 27,85 7,44 9,50
NHNO&PTN
T
0,55 0,69 8,54 10,54 2,66 5,24 11,39 7,12 6,09 7,90
NHPTNĐBS
CL
0,16 0,18 2,52 2,68 1,94 2,32 29,10 -7,61 13,39 16,04
ACB
1,15 1,24 18,66 24,92 0,34 0,86 18,20 36,80 10,33 9,24
STB
1,36 1,44 14,15 14,28 0,52 0,56 43,36 -1,16 9,97 11,66
Eximbank
1,36 1,66 12,13 18,71 1,42 1,61 98,48 40,1 17,79 12,53
Nguồn: Báo cáo tài chính của các ngân hàng và tự tính toán của tác giả;
Báo cáo tài chính năm 2011 chưa có xác nhận của kiểm toán độc lập- Về cơ bản, các NHTM NN thực hiện thành công hiện đại hóa ngân
hàng, phát triển được những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mới, tiện ích đáp
ứng nhu cầu của thị trường;
- Chiến lược kinh doanh và các quy trình, cẩm nang nghiệp vụ đã được
đổi mới, hoàn thiện và từng bước tiếp cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Trong
đó, có 2 NHTM NN đã được NHNN chấp thuận không phải hạch toán trên tài
khoản tổng hợp cấp 3 về phân loại Nợ trên cơ sở những NHTM NN này có hệ
thống Xếp hạng tín dụng nội bộ và/ hoặc hệ thống thông tin quản lý tín dụng

nhìn chung đạt yêu cầu và có những tiến bộ đáng kể từ khi thực hiện chương
trình tái cơ cấu ngân hàng (
từ năm 2001
). Tuy nhiên, hiệu quả và chất lượng
quản trị của NHTM NN còn tồn tại một số hạn chế, chưa tương xứng với
tiềm năng, nguồn lực ngân hàng có được, thể hiện qua những tổn thất từ
những rủi ro tài chính trong kinh doanh ngoại hối, hoạt động tín dụng hoặc
rủi ro hoạt động; thể hiện ở kết quả hoạt động chưa cao. Hệ thống kiểm soát
và kiểm toán nội bộ chưa mạnh, chưa triển khai đầy đủ theo các quy định tại
Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN và 37/2006/QĐ-NHNN về kiểm soát nội
bộ, kiểm toán nội bộ đối với các ngân hàng thương mại. Hầu hết các NHTM
NN chưa tổ chức hoặc tổ chức không hoàn chỉnh kế toán quản trị. Trong khi
đó, nếu không có các thông tin kế toán quản trị hỗ trợ, ngân hàng có thể gặp
rủi ro trong việc phân bổ sai các nguồn lực. Đồng thời, việc tuân thủ nghiêm
minh khuôn khổ pháp luật Nhà nước và chính sách, quy định nội bộ của
ngân hàng trong hoạt động cũng còn nhiều vấn đề cần phải thảo luận. Theo
kết quả kiểm toán các NHTM NN mà Kiểm toán Nhà nước công bố năm
2009 thì:
“... hoạt động cho vay tại các NHTM NN còn một số hạn chế. Đó
là, cho vay vượt nhu cầu vốn của khách hàng, cho vay không đúng đối
tượng, phân loại nợ mang tính chủ quan, các chi nhánh ngân hàng căn cứ kế
hoạch tài chính, quỹ tiền lương được duyệt để điều chỉnh nhóm nợ và trích
lập dự phòng rủi ro tín dụng, dẫn đến trích lập dự phòng rủi ro không chính
xác
” (
Nguồn:

Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 24/07/2009
). Trong năm
2009, 2010, 2011, mức độ rủi ro tín dụng và rủi ro tác nghiệp ở các NHTM

Những nguyên tắc cơ bản quản trị doanh nghiệp bao gồm:
(1) Tôn trọng quyền của cổ đông và tạo điều kiện để cổ đông thực
hiện quyền này;
(2) Hiểu rõ và tôn trọng nghĩa vụ của mình đối với các bên liên quan:

Cơ quan quản lý Nhà nước; Đối tác kinh doanh; Người lao động;
(3) Đảm bảo vai trò và trách nhiệm của HĐQT: Vị thế tổ chức, trách
nhiệm, trình độ và kỹ năng của thành viên HĐQT…;
(4) Xây dựng, đảm bảo thực hiện tốt các chuẩn mực hành vi đạo đức:
Nêu rõ những hành vi cần làm; những hành vi không được làm; tăng cường
trách nhiệm vì lợi ích của doanh nghiệp,…;
(5) Đảm bảo tính minh bạch và công bố thông tin: Thông tin về tình
hình tài chính, hoạt động, sở hữu và quản trị của doanh nghiệp.
Việc thực hiện quản trị doanh nghiệp thông qua cơ chế bên trong và
cơ chế bên ngoài.
Cơ chế bên trong
- tức là cơ chế do bản thân mỗi doanh
nghiệp thiết lập theo các quy định của pháp luật, bao gồm các thành phần
như: Cơ cấu quản trị (
cơ cấu, số lượng của HĐQT, phân định chức năng
nhiệm vụ giữa HĐQT và Ban điều hành…
); Cơ chế khuyến khích với Ban
điều hành và các cấp điều hành trong doanh nghiệp; Kiểm soát và kiểm toán
nội bộ.
Cơ chế bên ngoài
bao gồm các biện pháp và chính sách của các cơ
quan quản lý Nhà nước; Hoạt động quản lý, kiểm soát của cơ quan quản lý
Nhà nước; Hoạt động của các doanh nghiệp kiểm toán bên ngoài; Giám sát
của cổ đông; Giám sát của thị trường như đối tác kinh doanh, người đầu
tư,…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status