SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU
VĂN BẢN BÚT KÍ TRONG TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1
B. THỰC TRẠNG
I. Thuận lợi
II. Khó khăn
C. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lí luận
II. Nội dung, biện pháp thực hiện
1. Chuẩn bị
Giáo viên
Học sinh
2. Thực hiện trên lớp:
7 hoạt động
3. Nhận xét
Ưu điểm
Hạn chế
4. Kiến nghị
D. KẾT LUẬN
C. KẾT LUẬN
2
vấn đề trên có thể dễ dàng tìm tư liệu trên các phương tiện thông tin.
- Học sinh có ý thức học tập tốt, chăm ngoan, tích cực tìm hiểu bài học, soạn
bài, có nhiều điều kiện thuận lợi tìm tài liệu.
- Nhà trường có cơ sở vật chất, thiết bị dạy học tốt (thư viện, máy tính, máy
chiếu, wifi, phòng học, sách giáo khoa, sách giáo viên)
II. Khó khăn
3
- Tuy nhiên, có những tác phẩm văn học là những bài học mới trong chương
trình ngữ văn nên giáo viên chưa có điều kiện tìm hiểu sâu, chưa có nhiều
kinh nghiệm, tư liệu tham khảo nhiều nên cần chọn lọc
- Sách giáo khoa khi trích dẫn tác phẩm còn lược bớt một số chi tiết, một vài
đoạn văn, chú thích không đầy đủ. đôi khi gây khó hiểu cho học sinh khi
đọc và học tác phẩm, thiếu dẫn chứng khi làm văn.
- Thời gian tìm tư liệu, đọc ngoại khóa không có trong chương trình học
chính khóa
- Một số học sinh chưa quen phương pháp học mới, nhất là tự học, làm việc
theo nhóm, thảo luận, thuyết trình, tìm tư liệu ở các nguồn sách báo,
internet…một số học sinh còn thụ động, thiếu nhiệt tình trong những giờ
ngoại khoá, thuyết trình.
- Tác phẩm bút kí thường dài, nhiều vấn đề khó, học sinh sẽ khó khăn trong
việc tiếp thu bài, học bài và làm bài kiểm tra
Từ đó, chúng tôi có một vài suy nghĩ về cách hướng dẫn học sinh đọc hiểu
tác phẩm bút kí trong chương trình trung học phổ thông để tạo sự quan
tâm, hứng thú, tích cực học tập các bài học về văn bản này.
C. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lí luận
Kế hoạch
Tìm hiểu, bổ sung bài học trong đọc ngoại khoá là giai đoạn
phát triển lôgic của học chính khoá nhằm tiếp tục tích cực hoá
hoạt động nhận thức và sáng tạo của học sinh, củng cố và mở
rộng những kiến thức văn học cơ bản, phát triển ở học sinh kĩ
năng đọc và phân tích tác phẩm văn học. Đọc ngoại khoá là
hình thức tự nghiên cứu tác phẩm văn học một cách có kế
hoạch, có định hướng của học sinh do giáo viên tổ chức, hướng
dẫn, theo dõi và kiểm tra.
Tuỳ theo điều kiện của từng địa phương, trường học, trình độ
của học sinh mà vào đầu năm học giáo viên soạn thảo kế hoạch
trong năm, giới thiệu chương trình, cung cấp danh mục các tác
phẩm cần chuẩn bị, cung cấp tư liệu, hướng dẫn địa chỉ tìm tư
liệu, phân công (hoặc cho xung phong) các cá nhân hoặc các
nhóm tìm tư liệu theo từng bài học.
Giáo viên cần lựa chọn các tác phẩm phù hợp, tập hợp theo chủ
đề, đặt ra các vấn đề cần thảo luận trong quá trình đọc, khái
quát, định hướng đề học sinh có thể tự đọc, tự tìm hiểu những
tác phẩm cùng đề tài một cách đúng đắn, nâng cao trình độ đọc
hiểu, không chỉ bổ sung kiến thức về tác giả, tác phẩm, một
giai đoạn, trào lưu văn học mà còn phát triển, điều chỉnh hứng
thú đọc của học sinh, góp phần hoàn thiện mục tiêu giáo dục
nhân văn trong nhà trường.
Thế giới bước vào kỷ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của
việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lỉnh vực.
Trong giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin đã góp phần
hiện đại hóa phương tiện dạy học, thiết bị dạy học góp phần đổi
mới phương pháp dạy học. Theo quan điểm thông tin, học là
quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và
văn bản ở nhiều góc nhìn: địa lí, lịch sử, thơ ca, âm nhạc, hội họa …
Thời gian
Linh động về thời gian tiến hành, tùy theo điều kiện của trường,
lớp mà sắp xếp thời gian cho phù hợp.
Có thể tiến hành một buổi (1 đến 2 tiết) hoặc vào tiết cuối của
ngày mà lớp chỉ học bốn tiết, hoặc buổi chiều học sinh học thể
dục 2 tiết thì kết hợp 1 - 2 tiết sau để thực hiện.
Giáo viên phối hợp với cán sự bộ môn Văn của lớp để sắp xếp
thời gian và thông báo kịp thời cho học sinh chuẩn bị.
Trường chúng tôi mỗi tuần có tăng 2 tiết nên dự kiến: 1 tiết học
sinh thuyết trình ( mỗi nhóm 15 phút), 2 tiết học chính khóa, 1
tiết luyện tập.
1.2 Học sinh
Trưởng nhóm sẽ họp nhóm phân công các thành viên tìm tư liệu,
thảo luận, trình bày sáng kiến riêng của nhóm (chuẩn bị phim hoặc
tranh ảnh minh họa, photo nhiều bản hoặc soạn để trình chiếu)
Các nhóm hoàn thành công việc được giao theo đúng thời gian quy
định của giáo viên
Giáo viên xem qua phần chuẩn bị của các nhóm và góp ý trước khi
thực hện tại lớp.
2. Thực hiện trên lớp
6
Giáo viên lên kế hoạch thực hiện trước 2- 3 tuần và thông báo cụ thể
để các nhóm chuẩn bị tư liệu, giao công việc và những câu hỏi định
hướng cho từng cá nhân hoặc từng nhóm
kí
Nhóm 2 - 3 góp ý
Giáo viên nhận xét, bổ sung:
Tác giả:
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn hiện đại tiêu
biểu của Huế, từng là giáo viên trường Quốc học Huế, bạn thân
của nhạc sĩ tài danh Trịnh Công Sơn. Ông tham gia văn nghệ giải
phóng thời chống Mĩ cùng Nguyễn Khoa Điềm. Vợ là nhà thơ
Lâm thị Mĩ Dạ quê Quảng Bình. Cả hai vợ chồng hiện nay sống ở
Huế và cùng được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học (2007).
Hoàng Phủ Ngọc Tường tự nhận là người ham chơi, ham đi, ham
học, ham kết giao bạn bè. Ông chuyên viết bút kí – tùy bút với
những tập kí đặc sắc …Nét đặc sắc trong kí của ông là có rất nhiều
7
ánh lửa (vua tùy bút Nguyễn Tuân từng ca ngợi) của tình yêu thiên
nhiên đất nước và con người Việt Nam; là ở sự kết hợp giữa trí tuệ
và trữ tình, nghị luận sắc bén và suy tư nhiều chiều, tổng hợp từ
vốn kiến thức sâu rộng; lời văn hướng nội, súc tích, trữ tình, mê
đắm và tài hoa.
Thể loại bút kí:
Đặc trưng của kí ( học sinh đã học trong Vũ trung tùy bút – Phạm
Đình Hổ; Thượng kinh kí sự - Lê Hữu Trác …)
Tính xác thực: phản ánh hiện thực khách quan
In đậm dấu ấn hình tượng tác giả (trực tiếp viết ra những gì
mình chứng kiến, quan sát)
Ngôn từ nghệ thuật chủ yếu là ngôn ngữ trực tiếp của tác
giả
Các loại kí:
Tiểu loại: kí sự, bút kí, phòng sự, hồi kí, nhật kí, Tùy
bút…ngoài đặc trưng chung cón có đặc điểm riêng.
8
Kim Long: vùng đất nổi tiếng ở Huế
Ngọc Trản: tên chữ của Hòn Chén, cồn nhỏ có hình cái chén úp, có
điện thờ thánh mẫu
Thiên Mụ: có tên chùa Linh Mụ, nổi tiếng ở Huế, được xây dựng trên
ngọn đồi tả ngạn sông Hương – Hương Trà. Chúa Nguyễn Hoàng xây
dựng 1601.
Cồn Giả Viên (bãi đất nổi trên sông Hương hướng tây nam) – cồn Hến
(bãi đất nổi trên sông Hương hướng đông bắc). 2 cồn này tạo cho kinh
thành Huế cái thế uy nghi, cân xứng “Tả thanh long. Hữu bạch hổ”
Cồn Hến: bãi đất nổi trên sông Hương, hướng đông bắc; hai cồn này
tạo cho kinh thành Huế thế uy nghi, cân xứng “Tả thanh long, Hữu
bạch hổ” (bên trái là rồng xanh, bên phải là hổ trắng)
Tứ đại cảnh: tên bản nhạc cổ tương truyền do vua Tự Đức sáng tác,
nguyên tên là Tứ đại (bốn cảnh lớn, cảnh bốn mùa…)
Bốn bề núi phủ mây phong
Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng vạn niên.
Ca dao Huế nói về vẻ đẹp mơ màng của đất cố đô, vùng thượng lưu
sông Hương, nơi có nhiều lăng tẩm của các vua triều Nguyễn
Còn non, còn nước, còn dài,
còn về, còn nhớ …
Những câu hò Huế, nói về lòng thủy chung, gắn bó với quê hương xứ
sở
Dòng sông trắng, lá cây xanh: lấy từ câu thơ trong bài Chơi Huế - Tản
Đà (1921)
Quanh thành tám cửa, sông dài bọc quanh.
Lại bao phố xá ngoài thành
Trên cầu xe ngựa, ghe mành dưới sông
Đông Ba, Gia Hội càng đông
Dịp cầu nhẹ bước, xa trông càng tình
với xứ Huế
Chuyên viết bút kí:
trí tuệ + trữ tình,
liên tưởng mạnh
mẽ, hành văn mê
đắm, tài hoa
2. Xuất xứ
Viết tại Huế 04.01.1981
Bài kí có 2 phần:
Cảnh quan thiên nhiên
của sông Hương
Dòng sông của lịch sử
và thi ca
10
2. Chia bố cục đoạn trích:
Đầu… quê hương xứ sở: Vẻ đẹp sông Hương qua cảnh sắc thiên nhiên
Trong những dòng sông … núi Kim Phụng: Sông Hương ở
thượng nguồn
Phải nhiều thế kỉ… tiếng gà: Sông Hương về đồng bằng
Từ đây …xứ sở: Sông Hương vào thành phố Huế rồi ra biển
Hiển nhiên … dòng sông: Sông Hương với lịch sử, cuộc đời và thi ca
3. Tìm hiểu văn bản
Nhóm 2 đọc bổ sung đoạn đầu văn bản đã chuẩn bị và nêu cảm
nhận
Kiều: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và
cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở.
Các nhóm khác bổ sung
Giáo viên nhận xét, bổ sung:
Cảm hứng về vẻ đẹp sông Hương từ một khu vườn cổ và kí ức về
Nguyễn Du, Truyện Kiều: hoa trái của khu vườn cổ, những kí ức
về Nguyễn Du và Truyện Kiều gợi cảm xúc về một vùng đất có vẻ
đẹp sâu lắng, thanh khiết, cổ kính…Đoạn mở đầu này có tác dung
như khúc dạo đầu của một bản đàn hay bài ca trữ tình, thơ mộng
Hoạt động 4
Tìm hiểu phần 1
1. Vẻ đẹp sông Hương qua cảnh sắc thiên nhiên
Thảo luận nhóm: 10 phút Nhóm 1: Sông Hương ở thượng nguồn – phân tích nghệ thuật
và nội dung
Nhóm 2: Sông Hương về đồng bằng – phân tích nghệ thuật và
nội dung
Nhóm 3: Sông Hương vào thành phố Huế rồi ra biển – phân
tích nghệ thuật và nội dung
Từng nhóm trình bày, tóm tắt vào bảng phụ
Sông Hương ở thượng nguồn
Nhóm 1 trình bày
- trữ tình ( dịu dàng, say
đắm)
Vẻ đẹp hoang dại, tình tứ
Nhân hóa con người có
cá tính, tâm hồn Nhìn từ cội nguồn: có mối quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn: như
một “bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu trầm bổng.
- Rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn > hùng tráng.
- Mãnh liệt vượt qua ghềnh thác > ào ạt.
- Cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực sâu > dữ dội.
- Dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi của hoa đỗ quyên
rừng > nên thơ, tình tứ, mê đắm.
Biện pháp nhân hoá: Sông Hương như “cô gái Di - gan phóng khoáng
và man dại”, với “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng” >
nữ tính, vừa dịu dàng vừa mãnh liệt hoang sơ > không chỉ ngắm nghía
“khuôn mặt kinh thành”, nhà văn còn khơi về nguồn cội để khám phá
vẻ đẹp tâm hồn thăm thẳm mà chính dòng sông cũng không muốn bộc
lộ.
Hé mở một phát hiện mới của tác giả về vẻ dẹp của Sông Hương:
Người ta hay nghe tới sông Hương gắn với Huế “dịu dàng pha lẫn
trầm tư”, êm đềm, trong trẻo nay lại biết tới phần dữ dội, mê hoặc,
khó cưỡng của dòng sông.
Sông Hương về đồng bằng
Nhóm 2 trình bày
Các nhóm khác bổ sung
b. Sông Hương về đồng bằng
16 CHÙA THIÊN MỤ
b. Sông Hương về đồng bằng
TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ
b. Sông Hương về đồng bằng
17
cổ thi” > so sánh độc đáo, giàu sức gợi > tả mặt nước phẳng lặng và
không gian bờ bãi u tịnh bằng liên tưởng tới triết học, thơ cổ > nổi
bật vẻ thâm nghiêm, bao nhiêu thăng trầm lịch sử, bao nhiêu dời đổi
của các triều đại đã tạo thành trầm tích văn hóa lặn vào vẻ đẹp ngàn
18
năm không suy xuyển của dòng nước > thấp thoáng hình ảnh một
“cái tôi” giàu suy tư.
- Khi gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ: tươi tắn và trẻ trung
Nhận xét:
• Sông Hương chảy qua nhiều địa danh khác nhau, mỗi địa danh mà
chỉ nhắc thôi ngưòi ta đã thấy bao tầng sâu văn hiến > nhiều dáng vẻ
Sông Hương được khám phá ở nhiều góc nhìn.
• Diện mạo: vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng.
• Bút pháp: kể và tả, sự liệt kê được thơ hoá bằng thụ cảm tài hoa,
tinh tế.
Sông Hương vào thành phố Huế rồi ra biển
Nhóm 3 trình bày
Các nhóm khác bổ sung
Giáo viên nhận xét, bổ sung, cho học sinh xem đoạn phim sông
Hương vào thành phố có đọc thuyết minh bài kí của Hoàng
Phủ Ngọc Tường
C. Sông Hương vào thành phố - ra biển C. Sông Hương vào thành phố - ra biển
21 C. Sông Hương vào thành phố - ra biển
C. Sông Hương vào thành phố - ra biển
Tâm trạng vui tươi gắn
bó tha thiết
Hội họa: vẻ đẹp cổ kính
của cố đô
Âm nhạc:
Điệu slow tình cảm giai
người tình dịu dàng,
thủy chung
Vẻ đẹp đa dạng,
độc đáo
c. Sông Hương vào thành phố - ra biển
Sông Hương vào thành phố Huế rồi ra biển - Giữa những biền bãi xanh biếc của ngoại ô Kim Long: Vui tươi hẳn lên >
tâm trạng của một người đi xa “tìm đúng đường về”, nao nức bồi hồi giữa bờ
bãi than thuộc của quê hương.
- Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên: uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn
Hến > làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra
của tình yêu > so sánh lạ, dùng tiếng “vâng” vốn trừu tượng, e ấp, ngập
ngừng, ý vị, thiêng liêng trên bờ môi cô gái đang yêu để tả hình dáng mềm
mại nơi cánh cung của dòng sông > cái nhìn tình từ, thống nhất, đem lại cho
người đọc những khoái cảm thẩm mĩ độc đáo.
- Liên tưởng và suy tư của nghệ sĩ:
• So sánh sông Hương với sông Xen của Paris, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét
> những tên sông đã trở thành linh hồn của thủ đô các nước, thành biểu
tượng văn hóa của quốc gia > ngầm thể hiện lòng tự hào về sông Hương và
kinh thành Huế. (Liên hệ với Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo”: đặt các
triều đại Việt Nam sánh ngang với các triều đại Trung Hoa)
• Liên tưởng khi từ khói lửa miền Nam tới Lê –nin-grát, đứng nhìn sông Nê-
va, lâu năm xa Huế:
o Sống dậy giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại: muốn hóa làm một con chim nhỏ
đứng co một chân trên con tàu thủy tinh để đi ra biển.
- Rời khỏi kinh thành, chếch về hướng chính bắc.
- Sực nhớ điều gì chưa kịp nói > đột ngột đổi dòng dể gặp lại thành phố lần
cuối
- Liên tưởng:
• Rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người ở đây > nỗi vương vấn, chút
lẳng lơ kín đáo của tình yêu
• So sánh: sông Hương, kinh thành Huế - nàng Kiều, Kim Trọng > Tấm lòng
người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở
o Có 3 so sánh bắc cầu: sông Hương trong khúc ngoặt chia tay kinh thành
Huế -Thúy Kiều trong đêm tình tự gửi lời nguyện thề cùng Kim Trọng –
người Châu Hóa mãi thủy chung với xóm làng > từ dòng chảy khác lạ của
dòng sông liên tưởng tới mối tình kín đáo, e ấp, trước sau như nhất của Kim
– Kiều, so sánh với tình yêu quê hương xứ sở của người Huế > mượn tình
cảm riêng để khái quát mối tình chung, làm cho tình yêu đất, yêu nước không
chung chung, to tát mà mềm mại, ý vị, tinh tế, mà đằm thắm, thiêng liêng,
sâu sắc.