SKKN: Một vài kinh nghiệm nhỏ trong việc phụ đạo học sinh yếu môn Văn lớp 12 - Pdf 14




MỘT VÀI KINH NGHIỆM NHỎ TRONG VIỆC PHỤ
ĐẠO HỌC SINH YẾU MÔN VĂN LỚP 12

Người thực hiện: Phan Thị Hường
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục 1
Phương pháp dạy học bộ môn: 1
Phương pháp giáo dục 1
Lĩnh vực khác: 1

Có đính kèm:
1 Mô hình 1 Phần mềm 1 Phim ảnh 1 Hiện vật
khác Năm học: 2011-2012 BM 01-Bia SKKN



LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Sự phát triển của Giáo Dục- Đào Tạo quyết định sự tiến bộ, phồn vinh của xã
hội đúng như Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã chỉ rõ: “Giáo dục- Đào tạo là quốc sách
hàng đầu, là nhân tố phát triển kinh tế xã hội, là cơ sở để thực hiện công nghiệp hóa-
hiện đại hóa đất nước”. Vì thế, trách nhiệm của người quản lý là sự tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho các trường học nhà
trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục
tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trường, mà tiêu điểm là quá trình dạy học- giáo dục thế
hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.

Chính vì thế, trong những năm qua bộ GD và ĐT đã quán triệt chặt chẽ về việc
thực hiện “quy chế 40 và quyết định 51 sửa đổi trong việc đánh giá học lực của học
sinh và quá trình thực hiện cuộc vận động hai không với 4 nội dung: Nói không với
bệnh thành tích trong giáo dục và tiêu cực trong thi cử, nói không với vi phạm đạo
đức nhà giáo và học sinh không đạt chuẩn lên lớp do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo chỉ
đạo đã đem lại sự đánh giá thực chất về chất lượng của học sinh. Theo đó, số lượng
học sinh yếu kém có chiều hướng tăng cao so với nhiều năm trước đây. Đây là thực
trạng chung mà chúng ta phải chấp nhận và cần tìm ra những giải pháp phù hợp để cải
thiện nó trên tinh thần không chạy theo thành tích nhưng phải nâng cao chất lượng
thực của hoạt động dạy học và giáo dục.

đứng nhìn và than thở. Trái lại cần bình tĩnh, tích cực tìm ra các nguyên nhân của thực
trạng đồng thời bám sát thực tế trường mình, lớp mình để tìm ra giải pháp thích hợp
nhất.
Khi đã có giải pháp cần có kế hoạch thực hiện giải pháp đó một cách cụ thể.
Trong quá trình thực hiện cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các đối tượng
liên quan từ cá nhân học sinh, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiêm, phụ huynh học
sinh đến các tổ chức đoàn thể như hội phụ huynh học sinh, Đoàn thanh niên, Ban
Giám Hiệu…
Niềm vui của mọi nhà giáo là sự trưởng thành của học trò, phương châm giáo dục
của Đảng và nhà nước ta là bình đẳng. Vì thế trong công tác giảng dạy chúng ta cần
có sự quan tâm đúng mức đến các đối tượng học sinh khác nhau, đặc biệt là những
học sinh yếu kém nhằm tạo ra cơ hội cho các em.
Sự trưởng thành của mỗi học trò luôn luôn phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản là sự
nỗ lực của bản thân các em và sự tận tâm của quý thầy cô giáo. Các em có năng lực thì
công việc giảng dạy của chúng ta bớt phần khó nhọc, các em học yếu thì việc giảng
dạy của quý thầy cô vất vả hơn. Nhưng nếu những em học lực yếu tiến bộ thì niềm
hạnh phúc của người làm thầy cũng sẽ được nhân lên rất nhiều lần. Xuất phát từ suy
nghĩ đó, tôi đã mạnh dạn vận dụng giải pháp dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém ngay
trong lớp dạy của mình và lớp phụ đạo do nhà trường phân công để hạn chế tỷ lệ học
sinh phải yếu kém và bước đầu đã đạt được kết quả khả quan.
- Tai sao cần phụ đạo? Phụ đạo nghĩa là ngoài con đường chính thì chúng ta có
thêm con đường khác để tới đích đó. Con đường phụ này hỗ trợ, góp phần tạo thuận
lợi cho chủ thể dễ dàng đạt mục đích hơn. Từ đó ta có thể hiểu phụ đạo trong môn
Văn là ngoài việc chúng ta thực hiện con đường chính theo mục đích yêu cầu về nội
dung, phương pháp bài học cũng như thực hiện thời gian theo đúng phân phối trên lớp
học chính khóa thì còn con đường khác để hỗ trợ các em nắm vững vàng những kiến
thức còn thiếu hụt hoặc mở rộng đi sâu vào vào một phương diện nào đó của vấn đề.
Rèn luyện thêm kĩ năng làm văn nghị luận văn học hoặc nghị luận xã hội.
Nay, tôi trân trọng trình bày kinh nghiệm này cùng quý đồng nghiệp. Bản thân
tôi cũng luôn nghĩ rằng để đạt mục đích hạ thấp tỷ lệ học sinh yếu kém thì đây không

Mặc dù tâm huyết với công việc song kinh nghiệm của tôi cũng chưa nhiều.
Nhìn vào thực tế giáo dục của Nhà trường hiện nay, chúng tôi nhận thấy: Chương
trình sách giáo khoa mới của môn Văn hiện nay hay nhưng rất khó với phần đông học
sinh. Trong chương trình Ngữ văn ở nhà trường phổ thông nói chung, lớp 12 nói
riêng, lượng kiến thức khá nặng so với tiết phân phối chương trình. Điều này cũng gây
ức chế tâm lí về thời gian của giáo viên và học sinh. Mặt khác, các em phải học quá
nhiều môn, ngoài ra còn phải đi học nhiều buổi.
Tất cả những nguyên nhân đó làm cho việc tiếp thu kiến thức của học sinh không
hiệu quả, chất lượng học tập không cao đặc biệt với những môn KHXH, yêu cầu vừa
phải học thuộc bài, vừa phải có tư duy tổng hợp cao như môn văn.
II. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.1/ Xác định đối tượng.
Bất cứ con người làm việc gì cũng hướng tới đối tượng cụ thể với những mục đích
nhất định. Và đối tượng của giáo viên thì không ai ngoài khác chính là học sinh.
Nhưng tôi đang hướng tới một đối tượng đặc biệt hơn. Đó là những học sinh mà tiếp
thu bài học chậm, ý thức học tập kém, chây lười, ham chơi…Nên nội dung công việc
của tôi cũng có phần khó khăn hơn. 2.2/ Xây dựng đề cương - giáo án dạy phụ đạo.
- Xây dựng kế hoạch – đề cương dạy học cho một bài học cụ thể là thể hiện mối
tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh giúp học sinh đạt được
những mục tiêu bài học. Vì vậy, để tiến hành một tiết dạy trên lớp nói chung, tất cả
giáo viên cần chuẩn bị giáo án đầy đủ, kĩ lưỡng (cả về nội dung và phương pháp) để
hướng dẫn học sinh tiếp cận một đơn vị kiến thức cần đạt theo mục đích yêu cầu của
từng bài học. Đặc biệt, đối với đối tượng học sinh yếu kém thì việc xây dựng một đề
cương ôn tập như thế nào cho phù hợp với lực học các em là một vấn đề rất cần được
quan tâm.
- Theo tôi, để tiến hành dạy phụ đạo đạt được kết quả tốt thì trước hết mình phải
xây dựng một đề cương dựa trên chuẩn kiến thức đưa ra, nghĩa là phải xác định trọng

1. Kiến thức - Chủ đề - ý nghĩa của tác phẩm.
- Những đặc điểm cơ bản về hình tượng Sông Hương
2. Kĩ năng.
- Rèn luyện kĩ năng diễn đạt.
- Biết tích hợp giữa các nội dung bài học để làm một bài văn NLVH.
(Huy động những kiến thức và cảm xúc, trải nghiệm của bản thân để viết bài
nghị luận về một hình tượng, một đoạn văn xuôi).
III/ Chuẩn bị:
- Yêu cầu học sinh chuẩn bị phần ôn tập của từng bài theo hệ thống luận
điểm, luận cứ (đầy đủ, ngắn gọn).
- GV chuẩn bị nội dung ôn tập.
- PP: Đặt vấn đề, gợi mở, đưa giả thiết từng dạng đề và yêu cầu học sinh
vạch ra ý chính cần có trong bài…

& Lượng kiến thức tôi yêu cầu cần nắm được như sau:
AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG
(Trích) – Hoàng Phủ Ngọc Tường-
I/Tác giả.
- Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, nhà văn gắn bó mật thiết với xứ
Huế, có vốn hiểu biết trên nhiều lĩnh vực; là một trong những nhà văn chuyên viết bút
kí.
- Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ
và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn
kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí…thể hiện qua lối hành văn
hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
-Tác phẩm chính: Ngôi sao trên đỉnh Văn Lâu(1971), Rất nhiều ánh lửa(1979), Ai
đã đặt tên cho dòng sông?(1986), Hoa trái quanh tôi(1995), Ngọn núi ảo

Sông Hương thể hiện một
vóc dáng mới, đầy khao khát và lãng mạn
- Đó là “vẻ đẹp trầm mặc”, “như triết lí, như cổ thi”. Sông Hương có lúc “Mềm
như lụa”, có lúc ánh lên những phản quang nhiều màu sắc “sớm xanh, trưa vàng,
chiều tím…” Có lúc lại như “triết lí, cổ thi” “giữa đám quần sơn lô xô là giấc ngủ
nghìn thu của vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm
kiêu hãnh âm u của những lăng tầm đồ sộ toả lan”
Ä Hai bút pháp kể - tả kết hợp nhuần nhuyễn, lối hành văn lịch lãm, tài hoa đã làm
nỗi bật một Sông Hương sinh động và hấp dẫn.
c/ Đến giữa thành phố Huế, sông Hương như tìm được chính mình “vui tươi
hẳn lên…uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến…dòng sông mềm hẳn đi như
tiếng vâng không nói ra của tình yêu”. Nó đã chuyển dòng liên tục- như phô diễn tất
cả vẻ đẹp vốn có:
+ Hình dáng: “dòng sông mềm như tấm lụa”
+ Màu sắc: “ Sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”
+ Dòng chảy: “Trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ là một mặt hồ yên tĩnh”
+ Mang “ Vẻ đẹp trầm mặc” như triết lí, như cổ thi”.
Sông Hương như “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”, So sánh Sông Hương với
sông Xen và sông Đa Nuýp, tác giả đã nâng dòng sông quê hương ngang hàng với
những dòng sông đẹp nhất thế gian. Ba con sông này có điểm tương đồng là cùng
chảy vào thành phố yêu quí của nó, được thành phố ôm vào lòng, nhưng sông Hương
có điểm đặc biệt, đó là “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”à Thể hiện niềm tự
hào sâu sắc của tác giả. Và như vậy, đó là tình cảm của Sông Hương dành riêng cho
Huế hay chính là tình cảm của nhà văn đối cới sông Hương, với xứ Huế mộng mơ.
- Sông Hương “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”…là “Tứ đại cảnh”
Ä Ngòi bút của tác giả đã thực sự thăng hoa khi vẽ nên những hình ảnh đầy ấn
tượng, những cảm nhận tinh tế, những liên tưởng, so sánh đẹp đẽ đến bất ngờ, lý thú,
thể hiện tình yêu say đắm với con sông. Đó là những nét bút thật “dịu dàng, tình tứ,
đắm đuối”.


- Hoàng Phủ Ngọc Tường đã huy động vốn kiến thức tổng hợp về địa lí, văn
hóa, lịch sử,…trong và ngoài nước để miêu tả và cảm nhận những vẻ đẹp khác
nhau của dòng sông.
- Kết hợp, đan xen điểm nhìn không gian và thời gian,…
- Giọng điệu của nhân vật là giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, say đắm mà tỉnh táo,
tự tin nhưng không áp đặt, sắc sảo mà giàu cảm xúc,…
- Ngôn ngữ tài hoa, giàu hình ảnh, giàu sức gợi.
š{{{š
µ Với đối tượng học sinh trên lớp này, hầu hết là các em đã nắm được nội dung bài
học nên tôi chủ yếu hướng dẫn các em cách tích hợp các đơn vị kiến thức để làm bài
văn nghị luận văn học.
¸ Giả sử có một yêu cầu như sau: Phân tích hình tượng con Sông Hương qua bút
kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường. ¸ Vận dụng
Phần mở bài: (Giới thiệu về tác giả, nội dung tác phẩm và vấn đề nghị luận). Để
đáp ứng yêu cầu này tôi yêu cầu các em vận dụng linh hoạt hai đơn vị kiến thức cơ
bản ở mục I,II.
Phần thân bài: (Phân tích vấn đề nghị luận).
Đảm bảo các ý chính tức là phải nêu và phân tích được các luận điểm, luận cứ -
kết hợp thao tác tổng hợp để đánh giá về nội dung và nghệ thuật. Để đáp ứng yêu cầu
này tôi hướng dẫn các em vận dụng ngay phần kiến thức của mục III.
Phần kết bài: (đáng giá và nâng cao vấn đề) Vận dụng phần IV,V.
¸ Hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng thì giáo viên cần có ý thức kiểm tra, đánh
giá. Hoạt động này diễn ra thường xuyên đặc biệt là trong những bài viết theo hình
thức kiểm tra tự luận giúp các em có được một cách hành văn lưu loát và đảm bảo nội
dung trọng tâm. Đánh giá là khâu quan trọng không thể thiếu. Nó nằm ở giai đoạn
cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và là khởi điểm cho một giai đoạn tiếp theo với
yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn.

A/ Trọng tâm kiến thức, kĩ năng.
1.Kiến thức
- Nét cơ bản về tác giả
- Chủ đề - ý nghĩa của tác phẩm.
- Những đặc điểm cơ bản về hình tượng Sông Hương
2. Kĩ năng.
- Biết tích hợp giữa các nội dung bài học để làm một bài văn NLVH.
B/ Tiến trình
I/Tác giả.
- Hoàng Phủ Ngọc Tường - một trí thức yêu nước, nhà văn gắn bó mật thiết với
xứ Huế, hiểu biết trên nhiều lĩnh vực; là nhà văn chuyên viết bút kí.
- Nghệ thuât: kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị
luận sắc bén với suy tư đa chiều, lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài
hoa.
- Ai đã đặt tên cho dòng sông?(1986) là bài kí xuất sắc nhất của Hoàng Phủ Ngọc
Tường.
II. Nội dung – ý nghĩa: Vẻ đẹp của sông Hương được cảm nhận ở nhiều góc độ khác
nhau ðbộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với
dòng sông quê hương xứ Huế, đất nước.
1. Thủy trình của Hương Giang.
a/ Sông Hương ở vùng thượng nguồn.
- Có quan hệ sâu sắc với dãy trường sơn. Mang vẻ đẹp của một sức sống mãnh
liệt, hoang dại bí ẩn, sâu thẳm được so sánh “một bản trường ca của rừng già” với
nhiều tiết tấu hùng tráng và dự dội…
- Sông Hương có sức sống mãnh liệt, mang vẻ đẹp hoang dại và đầy cá tính,
được nhân hoá thành “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”
- Sông Hương có chiều sâu vẻ đẹp và nhân cách “người mẹ phù sa của một vùng
văn hóa xứ sở”
Ä Nghệ thuật: thể hiện sự tài hoa của ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường: liên
tưởng kì thú, xác đáng, ngôn từ gợi cảm.

đắm đuối”.
d/ Trước khi từ biệt Huế: SH như “người tình dịu dàng và chung thủy”. Con
sông “như nàng Kiều trong đêm tình tự, trở lại tìm Kim Trọng” để nói một lời thề
trước lúc đi xa- “Đang chếch hướng Bắc…bỗng … đột ngột đổi dòng, rẻ ngoặt sang
hướng Đông Tây để gặp lại thành phố lần cuối…” nhà văn gọi đó là “một chút lảng lơ
kín đáo của tình yêu”
¯ Sông Hương được Hoàng Phủ Ngọc Tường tiếp cận và miêu tả từ nhiều không gian
và thời gian khác nhau. Ngòi bút tài hoa của tác giả đã vẽ nên những hình ảnh đầy ấn
tượng, tinh tế, những liên tưởng, so sánh đẹp đẽ đến bất ngờ, lí thú thể hiện tình yêu
say đắm với con sông quê hương.
2. Sông Hương là dòng sông lịch sử.
- Là dòng sông biên thùy trong sách địa dư của Nguyễn Trãi.
- Dòng sông soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ.
- Sống hết mình với lịch sử bi tráng của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX.
- Chứng kiến Cách Mạng tháng tám, mùa xuân Mậu Thân 1968.
=> Khi đất nước có chiến tranh, sông Hương biết cách “tự hiến đời mình làm một
chiến công”. Sau những biến cố lịch sử, “nó trở về với cuộc sống bình thường, làm
một người con gái dịu dàng” với chiếc áo dài tím rất Huế.
3. Sông Hương là dòng sông văn hóa, thi ca.
- Gắn bó với kinh thành Huế, cái nôi của nền âm nhạc dân gian và cổ điển Huế,
gắn bó với Nguyễn Du, danh nhân văn hóa thế giới.
- Là cảm hứng sáng tác của nhiều thi nhân, nghệ sĩ: Nguyễn Du, bà Huyện Thanh
Quan, Cao Bá Quát, Tản Đà, Tố Hữu,… III. Ý nghĩa văn bản:
Thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sông Hương; bộc lộ tình
yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê
hương, với xứ Huế thân thương.
IV. Nghệ thuật.

- Đoạn 4: Lời thề gắn bó với Tây Tiến.
ð Mạch liên kết giữa các đoạn thơ là tâm trạng, cảm xúc nhớ nhung da diết của QD
về đồng đội, về những kỉ niệm một thời sống, gắn bó cùng Tây Tiến. Bài thơ chính
là hồi ức của người lính về đơn vị cũ, về những tháng ngày không thể nào quên
trong cuộc kháng chiến chống Pháp
1. Đoạn 1: Nhớ con đường hành quân Tây Tiến đã đi qua: Hành trình đầy gian
khổ mà hào hứng giữa vẻ đẹp hoang sơ hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc a. Mở đầu là tiếng gọi tha thiết.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
“Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ da diết mênh mang, rợn ngợp. Nỗi nhớ gắn với khung
cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây và những chặng hành quân gian khổ.
b. Hành trình gian khổ qua:
- Miền đất xa lạ hoang vu “Sài khao”, “Mường Lát”, “Mường Hịch”… Những
địa danh lạ tai được liệt kê gợi lên cả một miền bí ẩn. Vừa dữ dội, vừa thơ mộng trữ
tình.
- Dốc đèo hiểm trở
“ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống”…
+ Những từ láy tượng hình và cách ngắt nhịp như khắc chạm làm nỗi bật con
đường khúc khuỷu, gập ghềnh. Hình ảnh thơ gân guốc gợi cảm giác về những con dốc
gần như thẳng đứng, vút lên thật cao và đổ xuống thật sâu. Quả là “Thi trung hữu
hoạ”.
+ Đoạn thơ cũng bộc lộ nghệ thuật sử dụng từ ngữ, âm điệu tài hoa.
Câu thơ miêu tả toàn thanh trắc như mang vất vả nhọc nhằn từng bước chân
người lính trên dốc đá cheo leo… Nhưng … đã dịu lại khi được kết hợp với câu thơ
nhiều thanh bằng, để sự hoang vắng của Sài Khao, Mường Lát chợt mộng mơ

Cảnh núi rừng tây Bắc qua ngòi bút Quang Dũng hiện lên rõ nét. Ngôn ngữ tạo
hình, âm thanh phong phú… đã làm nổi bật vẽ đẹp Tây Bắc bí ẩn: hùng vĩ mà diễm
lệ, nghiệt ngã mà nên thơ, hoang dã mà ấm áp tình người. Làm nổi bật sự can trường
quả cảm và tâm hồn tuyệt đẹp của người lính Tây Tiến anh hùng. Đó là tài thơ của
nhà thơ Quang Dũng.
&? SƠ ĐỒ HÓA NỘI DUNG (Tôi trích dẫn giáo án đoạn 1) (trang bên)
š{{{š Ä Nhìn vào ví dụ trên ta thấy nội dung không mấy khác nhau nhưng ở đây tôi yêu cầu
nhẹ hơn để vẫn đảm bảo trọng tâm lại vừa sức với đối tượng học sinh. Hơn nữa, khâu
sơ đồ hóa kiến thức cho các em cũng rất quan trọng và yêu cầu học sinh phải làm

- Về nhận thức (lí tưởng, mục đích học tập….)
- Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, sống trung thực…)
- Về quan hệ gia đình (tình mẹ con, tình anh em…)
- Về quan hệ xã hội (tình đồng loại, tình thầy trò, bạn bè…)
Ø Cấu trúc triển khai bài làm
a. Mở bài.
- Giới thiệu vấn đề nghị luận.
- Dẫn đề (nếu có.)
b. Thân bài
- Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận (phần phụ) à rút ra bản chất vấn đề.
- Phân tích và chứng minh những mặt đúng của tư tưởng, đạo lí cần bàn luận.
- Bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề đang bàn luận (…)
- Bình luận:
+ Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng đạo lí (…)
+ Đề xuất phương châm sống đúng đắn.
c. Kết bài: Khẳng định chung về tư tưởng, đạo lí đã bàn ở trên, lời nhắn gửi tới mọi
người.
Ø Ví dụ cụ thể Đề: Trong tiểu thuyết “Ông già và biển cả” của Hêminh-uê, ông Xan – ti – a gô nghĩ:
“Con người có thể bị hủy diệt chứ không thể bị đánh bại”.
Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn, trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.
a. Mở bài
Trong tiểu thuyết “Ông già và biển cả” của Hêminh-uê, ông Xan – ti – a - gô nghĩ:
“Con người có thể bị hủy diệt chứ không thể bị đáng bại”. Phải chăng, suy nghĩ của
Xan – ti – a - gô muốn khẳng định: con người trong bất cứ hoàn cảnh nào, bằng ý
chí và nghị lực của mình cũng có thể chiến thắng trên hành trình thực hiện ước
mơ của mình.
b. Thân bài

người và đời sống xã hội có thể nhìn nhận ở các phương diện:
- Hiện tượng tốt: + Hiến máu nhân đạo, ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam, ủng hộ đồng bào
lũ lut…
+ Phong trào mùa hè xanh, quỹ thắp sáng ước mơ…
+ Mái ấm tình thương, ngôi nhà tình nghĩa, ngôi nhà mơ ước…
- Hiện tượng xấu
+ Ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông…
+ Bệnh thành tích, bệnh vô cảm…
+ Bệnh quay cóp trong thi cử…
+ Tình trạng bạo lực học đường, nghiện game…
Ø Cấu trúc triển khai bài làm
a. Mở bài
- Nêu rõ hiện tượng cần bàn.
- Chỉ rõ bản chất của hiện tượng đó
b. Thân bài
- Giải thích về hiện tượng đ/s được nêu ở đề bài (phần phụ) …
- PT-CM thực trạng đã nêu:
§ Nêu tình hình thực trạng (địa phương, trong nước, thế giới)
§ Hậu quả tác hại (nếu là hiện tượng xấu)/ tác dụng tích cực (nếu là hiện
tượng tốt) (đ/v cộng đồng, xã hội; đ/v cá nhân)
§ Phân tích những nguyên nhân gây ra hiện tượng (khách quan, chủ
quan)
- Phê phán, bác bỏ những quan niệm và nhận thức sai lầm…
- Đề xuất biện pháp khắc phục (nếu là hiện tượng xấu), giải pháp phát huy
(nếu là hiện tượng tốt) ( đề xuất từ phía cơ quan chức năng, cá nhân…)
c. Kết bài:
- Bày tỏ, thái độ, ý kiến về hiện tượng xã hội vừa nghị luận.

Ä Qua việc thực hiện phương pháp trên tôi lại rút ra một bài học khác cho học
sinh.
- Học sinh cần phải biết dựa vào dàn ý chung để áp dụng cho việc xây dựng bài
văn theo những đề bài cụ thể.
- Cần sử dụng đầy đủ các thao tác lập luận và sắp xếp trình tự các thao tác cho
chặt chẽ và hợp lí.
- Kiến thức về xã hội để sử dụng làm bài là không quá khó đối với học sinh.
Vì vậy, muốn làm một bài nghị luận tốt, không chỉ phụ thuộc vào phương pháp mà
bản thân phải tích lũy vốn sống, vốn hiểu biết và quan trọng hãy sống thực với mình
để có những điều tâm đắc khi bàn luận.
Phương pháp tôi nêu ra không phải là mới song điều quan trọng là phân phối chương
trình chỉ có hai tiết nên giáo viên phải luôn ý thức thực hiện song hành cả hai phương
diện để hình thành ở học sinh những kĩ năng làm văn tốt. Hình thức nghị luận xã hội
nêu trên chỉ đến lớp 12 mới học đầy đủ nhưng khi dạy lớp 11 tôi cũng đã hình thành
cho các em những bước cơ bản trong mỗi lần ôn tập. Tôi nghĩ đấy là việc cần làm để
giảm tỉ lệ học sinh yếu ở lớp 12.
2.3/ Một số vấn đề tôi quan tâm trong quá trình dạy phụ đạo.
Ban Giám hiệu nhà trường chỉ đạo cho bộ phận văn phòng thực hiện việc rà soát
số lượng học sinh yếu kém của từng lớp, từng bộ môn. Sau đó, nhà trường căn cứ vào
kết quả đó lập danh sách học phụ đạo gửi về các lớp. Đồng thời cũng phân công giáo
viên trực tiếp giảng dạy và một giáo viên hỗ trợ trong quá trình lên lớp. Khi nhận
trách nhiệm này, tôi đặc biệt chú ý vào một số vấn đề sau:
- Khâu tổ chức- quản lí lớp học phụ đạo.
Tôi quan niệm rất rõ, đã là một lớp học thì cần có một tổ chức gồm đầy đủ các
thành phần như lớp trưởng, lớp phó học tập, lớp phó lao động, thủ quĩ và tổ trưởng.
Bộ máy này hoạt động như trên lớp chính khóa.
+ Thành lập ban cán sự lớp để có sự điều hành dễ dàng hơn giữa GV và HS.
+ Phân công chỗ ngồi – ghi sơ đồ chổ ngồi dễ kiểm soát.
+ Cập nhật số điện thoại – địa chỉ gia đình để tiện liên lạc khi cần thiết.
+ Có sự thống nhất về nội qui của lớp học rõ ràng.

tưởng của cha mẹ các em. Mặt khác họ cũng là những người truyền đạt, vận động học
sinh và phụ huynh thực hiện đúng, thực hiện đầy đủ các kế hoạch hoạt động của nhà
trường. Hơn ai hết họ có điều kiện thuận lợi nhất để gần gũi, nhắc nhở và động viên,
giám sát học sinh một cách thường xuyên bằng các buổi sinh hoạt chủ nhiệm, 10 phút
đầu giờ và những cuộc gặp gỡ riêng tư khác. Với các em học sinh thì thầy cô chủ
nhiệm luôn là người có uy hơn cả. Nếu chúng ta có một đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
có năng lực, có trách nhiệm, nhiệt tình … thì việc phụ đạo học sinh yếu nói riêng, việc
thực hiện các nhiệm vụ dạy học và giáo dục của nhà trường nói chung chắc chắn đạt
kết quả cao.
Đối với tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong nhà trường: Trong trường học
Đoàn thanh niên và Hội liên hiệp thanh niên chính là những tổ chức tập hợp học sinh
một cách tốt nhất bằng nhiều hoạt động bổ ích. Ban giám hiệu các trường cần phát
huy vai trò của tổ chức này trong việc hỗ trợ nhà trường thực hiện các mục tiêu giáo
dục. Với những em học yếu thì ý thức tự giác tham gia vào những những hoạt động học tập là rất hạn chế, các em lại hay tự ti, thụ động. Vậy làm gì để cải thiện tình trạng
này? Chúng ta cần tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể dục- thể thao để lôi kéo đối
tượng này tham gia. Dần dần các em sẽ tự tin hơn, lúc đó việc động viên các em chăm
chỉ học tập chắc sẽ hiệu quả hơn.
Đối với cha mẹ học sinh: Nhà trường thông qua tổ chức Hội cha mẹ học sinh để
động viên sự hợp tác của toàn thể phụ huynh nhà trường trong việc thực hiện nhiệm
vụ dạy phụ đạo cho học sinh yếu. Đặc biệt, đối với những phụ huynh có con đang trực
tiếp phụ đạo thì cần liên lạc thường xuyên để có những biện pháp kịp thời như động
viên, khuyến khích hay nhắc nhở con mình… Hội cũng có các phần thưởng cho các
em học sinh tiến bộ, đạt thành tích tốt trong kì thi.

III. KẾT QUẢ
Trong hai năm qua, tôi nói riêng và tổ tôi nói chung đã thực hiện những giải
pháp của đề tài này góp phần vào việc nâng cao chất lượng học tập của bộ môn Văn,


Điểm
12A1(44) 12A7(39) 12A14 (44)
Trước Sau Trước

Sau Trước Sau
0-2,5 0 0 1 0 2 0
3-4,5 8 2 9 5 17 8
5-7,5 34 31 30 21 25 33
8-10 2 11 0 13 0 3
Tổng đạt điểm 5 trở lên 36 42 30 34 25 36
Tỉ lệ % 81,8% 95,5%

76,9%

87,1% 56,8% 81,8%
- Sang học kì 2, nhà trường đã phân loại học sinh yếu kém và tôi đã trực tiếp phụ đạo
một lớp (gồm những học sinh của ba lớp cơ bản 12B13, 12B14, 12B15), và tôi đã thống kê điểm của học kì II như sau (lớp phụ đạo lấy điểm từ 4.8 trở xuống và sĩ số
43):
Điểm
Trước khi thực
hiện ĐT
Sau khi thực
hiện ĐT
0-2,5 1 2
3-4,8 42 15
5-6,5 0 21


Phan Thị Hường

SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

, ngày tháng năm

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học:
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm:

Họ và tên tác giả: Đơn vị (Tổ):
Lĩnh vực:
Quản lý giáo dục 1 Phương pháp dạy học bộ môn: 1

· Lưu ý:
- Sáng kiến kinh nghiệm soạn thảo trên máy vi tính và in ra giấy khổ A4; quy định
canh lề: Trên 2,0 cm, dưới 1,5 cm, phải 3,0 cm, trái 1,5 cm; Font chữ Việt Nam UNICODE (Times
New Roman); size chữ 14.
- Tất cả biểu mẫu đóng thành tập theo thứ tự: Bìa (BM01-Bia SKKK), Lý lịch khoa
học (BM02-LLKHSKKN), Thuyết minh đề tài (BM03-TMSKKN), Phiếu nhận xét, đánh giá của
đơn vị (BM04-NXĐGSKKN).
BM04-NXĐGSKKN - Các sản phẩm gửi kèm sáng kiến kinh nghiệm như đĩa CD (không nhận đĩa mềm),
phim ảnh đóng gói trong 01 phong bì theo mẫu (BM05-SPSKKN), các mô hình gửi kèm sáng kiến
kinh nghiệm cùng với mẫu BM05-SPSKKN.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status