SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 12 HỌC
VÀ ÔN TẬP THI TỐT NGHIỆP
THPT MÔN NGỮ VĂN
I-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong những năm gần đây, cùng với một số môn học khác, thực trạng
Dạy - Học môn Văn được đề cập nhiều trên các phương tiện thông tin, trong
đó đặc biệt nhấn mạnh tỉ lệ học sinh yếu ở bộ môn này ngày càng cao, kéo
theo kết quả không mấy khả quan qua các kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi Đại
học, Cao đẳng.
Vì vậy, vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao kết quả học tập và ôn
thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn cho học sinh lớp 12 thật sự là vấn đề
thiết yếu và được quan tâm hàng đầu hiện nay. Có thể khẳng định, từ khi
tiến hành cải cách chương trình và sách giáo khoa bậc THPT (năm 2006)
đến nay, nhiều giáo viên đã rất nỗ lực trong việc dạy - học để mang lại cho
học sinh những phương pháp học Văn tích cực cùng với sự hỗ trợ của các
phương tiện công nghệ thông tin ngày càng hiện đại, giúp các tiết học Văn
lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
Trong các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học Văn, hầu
hết các phương pháp được đặt ra với đối tượng học sinh một cách chung
chung. Tất cả tùy thuộc vào vai trò dẫn dắt của người giáo viên trong giờ
học. Song, theo quan điểm của PGS.TS Phạm Quang Trung: "phương pháp
dạy học hiện đại không cho phép người dạy hình dung đối tượng một cách
chung chung. Phải quan tâm đến từng cá nhân học sinh, mỗi em một tính
nết, sự hiểu biết cũng khác nhau nên không thể có một đối tượng học sinh
chung chung trong giờ học được".
Trong tài liệu: "Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường
phổ thông", GS Phan Trọng Luận cũng nhấn mạnh: “Giờ học mới phải là
một kết cấu logic chặt chẽ khoa học mà uyển chuyển linh hoạt, hệ thống đơn
vị tình huống học tập được đặt ra từ bản thân tác phẩm phù hợp với sự tiếp
nhận của học sinh. Và song song tương ứng là một hệ thống việc làm, thao
tác do giáo viên dự tính tổ chức để dẫn dắt từng cá thể học sinh tự chiếm
lĩnh tác phẩm một cách hứng thú”. Như vậy, dù không phát biểu trực tiếp
song ý kiến trên cũng đã nhấn mạnh sự dẫn dắt khéo léo của giáo viên trong
giờ học Ngữ Văn sao cho phù hợp với mọi đối tượng học sinh như tác giả
Nguyễn Kế Hào đã từng nhấn mạnh: "Dạy học theo phương pháp mới phải
đảm bảo tính đồng loạt, phát huy được mọi đối tượng".
Vậy, làm thế nào để có thể phát huy được mọi đối tượng học sinh
trong quá trình dạy - học, nhất là các em học yếu môn Ngữ Văn 12 để giúp
các em đạt được kết quả khả quan trong học tập và trong kỳ thi tốt nghiệp
THPT cuối năm?
2.Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
2.1.Lập kế hoạch:
Bộ môn Ngữ Văn nằm trong nhóm 3 môn thi bắt buộc trong kỳ thi tốt
nghiệp THPT hàng năm, bao gồm: Văn, Toán và Ngoại ngữ. Đặc điểm này
đời sống để viết bài nghị luận xã hội ngắn (khoảng 400 từ) với hai dạng đề:
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hoặc nghị luận về một hiện tượng đời
sống.
B-Phần riêng (5,0 đ):
3-Đề nghị luận văn học (5,0 điểm): Vận dụng khả năng đọc – hiểu và kiến
thức văn học để viết bài nghị luận văn học, phân tích giá trị nội dung, nghệ
thuật của bài thơ, đoạn thơ hoặc một tác phẩm văn xuôi (đặt mỗi tác phẩm
trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể). Gồm:
a-Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
b-Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi.
Trong quá trình học trên lớp, học sinh cần phải được trang bị những
kiến thức cơ bản của môn học một cách đầy đủ, có hệ thống (theo Phân phối
chương trình của Bộ Giáo Dục - Đào tạo) thông qua sự hướng dẫn trực tiếp
của giáo viên.
-Đối với tác phẩm thơ: học sinh cần nắm vững giá trị nội dung, tư tưởng
(ý ghĩa văn bản) và những đặc sắc về nghệ thuật của đoạn thơ hoặc bài thơ.
-Đối với tác phẩm văn xuôi: học sinh cần nắm chắc tóm tắt tác phẩm; tìm
các chi tiết, sự việc, tình huống tiêu biểu để làm nổi bật giá trị nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm. Hướng dẫn học sinh cách tìm hiểu, phân tích một
nhân vật trong tác phẩm văn học.
2.2.Cách thức tiến hành:
2.2.1.Trong quá trình dạy học:
-Giáo viên thường xuyên kiểm tra bài cũ trước khi học bài mới để biết được
mức độ thu nhận và khả năng vận dụng, tái hiện kiến thức của học sinh. Chú
ý xoáy sâu trọng tâm kiến thức cơ bản của từng bài, từng phần. Từ đó, rút
kinh nghiệm kịp thời ở cả giáo viên và học sinh để có được kết quả tốt nhất.
Sau mỗi bài học, có thể đưa ra những câu hỏi và đề bài cụ thể với các dạng
đề thường gặp, hướng dẫn cách làm để các em có thể tham khảo và làm quen
dần, tránh tâm lí lạ lẫm, hoang mang khi thi. Cụ thể:
-Mục đích sáng tác và nội dung của bài nghị luận.
-Cách nhìn mới mẻ của tác giả Phạm Văn Đồng về nhà thơ Nguyễn Đình
Chiểu.
-Ý nghĩa văn bản.
Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 (Cô-phi An-
nan)
-Khái quát về tác giả Cô-phi An-nan.
-Hoàn cảnh sáng tác “Thông điệp nhân ngày thế giới
-Giá trị nội dung, tư tưởng, nghệ thuật và ý nghĩa văn bản trên.
-Nêu nhận thức về tầm q/trọng và t/chất cấp thiết của việc phòng chống
AIDS trên thế giới qua bản “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống
AIDS …” - Cô-phi An-nan.
Tây Tiến – Quang Dũng:
-Những hiểu biết về tác giả Quang Dũng.
-Hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nhan đề bài thơ “Tây Tiến”.
-Nét đặc sắc nội dung và nghệ thuật bài thơ “Tây Tiến”.
-Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ.
Đề bài tham khảo:
Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
a-Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về tác giả Quang Dũng và hoàn cảnh ra đời bài thơ
Việt Bắc (trích) - Tố Hữu:
-Giới thiệu một số nét tiêu biểu về tiểu sử tác giả Tố Hữu.
-Phong cách nghệ thuật và những chặng đường sáng tác thơ của Tố Hữu.
-Hoàn cảnh sáng tác, đặc sắc nội dung và nghệ thuật bài thơ “Việt Bắc”.
-Những biểu hiện của tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc”.
-Ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu:
Ta về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
a-Mở bài:
- Giới thiệu khái quát hoàn cảnh ra đời và nội dung bài thơ “Việt Bắc”.
- Giới thiệu vị trí đoạn trích: đoạn thơ gồm 10 câu, ghi lại nỗi nhớ của nhà
thơ và cũng là của người cán bộ kháng chiến về xuôi đối với cảnh và người
Việt Bắc (bức tranh tứ bình).
b-Thân bài:
-Mở đầu đoạn thơ là câu hỏi của người ra đi:
Ta về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
-Hai câu thơ mở đầu thể hiện rõ chủ đề đoạn thơ: đó là hoa và người Việt
Bắc. Hai hình ảnh soi chiếu vào nhau làm nổi bật vẻ đẹp của Việt Bắc.
-Đoạn thơ mang vẻ đẹp của một bức tranh tứ bình đặc sắc, đậm đà phong vị
dân tộc. Mỗi mùa có một nét đẹp riêng dào dạt sức sống: màu xanh của núi
rừng Việt Bắc; màu đỏ tươi của hoa chuối, màu trắng của hoa mơ, màu vàng
của rừng phách, màu ánh trăng xanh hòa bình …
-Con người Việt Bắc thể hiện những phẩm chất tốt đẹp: cần cù lao động,
làm chủ thiên nhiên và làm chủ cuộc đời trong lao động, kiên nhẫn, khéo
léo, tài hoa, trẻ trung, lạc quan, yêu đời, ân tình thủy chung với cách mạng
và kháng chiến.
Đất Nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa
Điềm:
-Giới thiệu khái quát về tác giả và phong cách sáng tác.
-Hoàn cảnh sáng tác, vị trí đoạn trích.
-Những phát hiện và cảm nhận mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về Đất
Nước.
-Về giá trị nội dung và nghệ thuật ý nghĩa văn bản của đoạn trích “Đất
nước”.
Đề bài tham khảo:
Phân tích đoạn thơ sau trong đoạn trích “Đất Nước” (trích Mặt đường
khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm):
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xưa mẹ thường
hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh
giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó
ngày của mỗi người.
-Có sự thành công khi kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật: chất liệu văn hóa
dân gian thể hiện tình yêu đất nước chân thật, sâu sắc.
Sóng - Xuân Quỳnh:
-Những hiểu biết của em về cuộc đời và đặc điểm thơ Xuân Quỳnh.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Sóng”.
-Đặc sắc nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:
Phân tích đoạn thơ sau (trích Sóng - Xuân Quỳnh):
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
a-Mở bài:
-Giới thiệu khái quát về tác giả và bài thơ.
-Nêu nhận định về bài thơ: mượn hình tượng sóng biển để diễn tả những
cung bậc tình cảm của người con gái trong tình yêu thể hiện rõ nét phong
cách thơ Xuân Quỳnh.
b-Thân bài:
-Đoạn trích là hai khổ đầu của bài thơ, thể hiện tâm hồn, nỗi niềm của người
con gái đang yêu về một tình yêu rộng lớn, cao đẹp.
*Khổ thứ nhất:
-Mở đầu là hình ảnh con sóng đối lập trong trạng thái: dữ dội - dịu êm; ồn
ào - lặng lẽ. Những đặc tính này của sóng cũng chính là những cung bậc tình
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
a-Mở bài:
-Giới thiệu khái quát về tác giả và bài thơ.
-Tác giả khắc họa hình ảnh Lor-ca, một con người tự do, một nghệ sĩ cách
tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật Tây Ban Nha.
b-Thân bài:
-Tiếng đàn là âm thanh được gắn kết với những cảm nhận về thị giác (bọt
nước) sức mạnh tiềm ẩn trong tiếng đàn, tiếng lòng trong thi ca của Lor-
ca.
-Lila: tiếng nhạc, cũng là tên của loài hoa tử đinh hương với sắc tím mê
hoặc.
-Lor-ca được miêu tả trên cái phông nền văn hóa đậm chất Tây Ban Nha:
một con người cô đơn trên hành trình đấu tranh nhưng đầy kiêu hãnh đến với
cái đẹp, đến với tự do, với những cách tân nghệ thuật.
-Các hình ảnh có giá trị tượng trưng cho âm nhạc, cho đất nước Tây Ban
Nha: quê hương của đàn ghita, quê hương của môn đấu bò tót gợi liên
tưởng đến đất nước Tây Ban Nha thời Lor-ca như một đấu trường lớn giữa
khát vọng cách tân nghệ thuật với nền nghệ thuật đã già cỗi; giữa khát vọng
tự do dân chủ với nền chính trị độc tài phát xít.
-Nghệ thuật:
+Thể thơ tự do, không dấu câu, không dấu hiệu mở đầu, kết thúc.
+Ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu sức gợi. Kết hợp nhuần nhuyễn tự sự và trữ
tình: giữa thơ và nhạc, giữa lãng mạn trữ tình và bi tráng … để diễn tả cảm
xúc.
+Sử dụng thành công những thủ pháp tiêu biểu của thơ siêu thực, đặc biệt
là chuỗi hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng.
+Giàu suy tư, mãnh liệt, phóng túng trong xúc cảm, ít nhiều nhuốm màu
sắc tượng trưng, siêu thực.
-Cái hút nước: có những hút nước xoáy sâu sẵn sàng lôi tuột mọi con thuyền
dám bén mảng đến tận đáy sông
-Thác nước: âm thanh gầm réo dữ tợn như một sinh thể mang tính cách dữ
tợn: “nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng”
-Thạch trận trên sông mang “diện mạo và tâm địa như một kẻ thù số một”
+Vòng vây thứ nhất: trùng vi thạch trận có bốn cửa tử, một cửa sinh
+Vòng vây thứ hai: tăng thêm nhiều cửa tử
+Vòng vây thứ ba: bên phải, bên trái đều là luồng chết
-Vẻ đẹp hung bạo, sức mạnh huyền bí của sông Đà hiện ra ở nhiều góc độ
khác nhau. Đây chính là tiềm năng lớn của dòng sông khi nó được chinh
phục.
Sông Đà – con sông Tây Bắc trữ tình:
-Đẹp trong dáng vẻ của 1 người đàn bà kiều diễm: “con sông Đà tuôn dài
nương xuân”
-Sông Đà lấp lánh sinh động với sắc nước biến đổi kỳ ảo theo mùa: mùa
xuân dòng xanh màu ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ
-Sông Đà với bãi bờ yên ả, hiền lành, nguyên sơ với cảnh ven sông lặng như
tờ Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, hồn nhiên như một nỗi niềm cổ
tích tuổi xưa
-H/ảnh trong sáng, gợi cảm lạ thường, như “lững lờ nhớ thương”, như “gặp
lại cố nhân”
Đánh giá chung: những nét độc đáo trong nghệ thuật khắc họa hình
tượng con sông Đà của Nguyễn Tuân.
-Nguyễn Tuân khám phá sự vật ở phương diện văn hóa - thẩm mỹ. Con
sông Đà là hiện thân của cái Đẹp. Đẹp trong sự dữ dội và đẹp trong vẻ nên
thơ, yên bình.
-Nguyễn Tuân tô đậm những gì thật dữ dội, phi thường, mãnh liệt, xuất
chúng nên việc miêu tả con sông Đà trong trạng thái đối lập đã tạo nên một
ấn tượng khó quên trong lòng người đọc.
-Sử dụng vốn ngôn ngữ giàu có, độc đáo, câu văn linh hoạt, biến ảo, trí
thành Huế … nhưng phải đảm bảo được các ý cơ bản trên.
Vợ chồng A Phủ (trích) - Tô Hoài:
-Những hiểu biết của em về tiểu sử, phong cách sáng tác của tác giả Tô
Hoài.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt tác phẩm Vợ chồng A Phủ.
-Đặc sắc giá trị nội dung (giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo), giá trị nghệ
thuật, ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:
Phân tích diễn biến tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong đêm
tình mùa xuân và đặc biệt trong đêm Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ (trích
“Vợ chồng A Phủ” - Tô Hoài).
a-Mở bài:
-Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và nhân vật Mị:
+“Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn rút từ tập “Truyện Tây Bắc” của Tô
Hoài. Đây là truyện ngắn có nội dung tư tưởng sâu sắc và thành công về
phương diện nghệ thuật.
+Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm thể hiện tập trung trong hình
tượng nhân vật Mị, qua diễn biến tâm lí và hành động của nhân vật Mị trong
đêm tình mùa xuân, đặc biệt trong đêm Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ.
b-Thân bài:
-Mị là cô gái người Mèo trẻ, đẹp; có đủ phẩm chất để được sống hạnh phúc.
Nhưng vì nhà nghèo, bố mẹ Mị không trả nổi món nợ tiền vay của nhà thống
lí Pá Tra nên Mị phải trở thành con dâu gạt nợ cho nhà thống lí. Ý thức được
cuộc sống tủi nhục, khát vọng sống tự do nên Mị định tự tử. Nhưng vì
thương bố, Mị lại không đành lòng chết, chấp nhận tiếp tục cuộc sống trâu
ngựa ở nhà thống lí.
Mùa xuân đến:
-Tâm trạng Mị náo nức khi những đêm tình mùa xuân đã tới. Mùa xuân tươi
đẹp đã tác động đến tâm hồn tưởng như đã khô héo của Mị.
tác giả đã thể hiện được qúa trình diễn biến tâm lý, hành động và sức sống
tiềm ẩn của Mị chân thật, sinh động, tinh tế, gây ấn tượng mạnh.
c-Kết bài:
-Nhân vật Mị thể hiện tài năng nghệ thuật và tấm lòng của nhà văn Tô Hoài.
Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn đặc sắc có giá trị hiện thực và
giá trị nhân đạo sâu sắc.
-Tác phẩm là thành tựu của văn xuôi thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đánh
dấu sự trưởng thành của tác giả về đề tài miền núi.
Vợ nhặt – Kim Lân:
-Giới thiệu khái quát về tác giả, phong cách nghệ thuật.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt tác phẩm.
-Về tình huống độc đáo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
-Giá trị nội dung (hiện thực, nhân đạo), giá trị nghệ thuật.
-Ý nghĩa nhan đề, ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:
Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống của
các nhân vật: Tràng, bà cụ Tứ và người đàn bà vợ nhặt trong truyện ngắn
“Vợ nhặt” - Kim Lân.
a-Mở bài:
-Kim Lân từng sáng tác trước cách mạng tháng Tám năm 1945, nhưng từ
sau năm 1945 ông mới thực sự có vị trí trong nền văn học Việt Nam. Ông
viết không nhiều nhưng đã đạt những thành công đáng kể, đặc biệt là những
sáng tác về đề tài nông thôn.
-Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân in trong tập “Con chó xấu xí” (1962)
là tác phẩm đặc sắc viết về nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu. Trên cái nền
tăm tối ấy, nhà văn đã miêu tả cảnh ngộ của những con người nghèo khổ ở
xóm ngụ cư với cái nhìn nhân hậu, phát hiện ở họ vẻ đẹp của tình người và
niềm hy vọng vào cuộc sống.
b-Thân bài: Phân tích cụ thể
vấn vương những tình cảm mới mẻ, cư xử với Tràng mộc mạc, chân tình;
mắng yêu khi Tràng khoe chai dầu vừa mua
-Sự trỗi dậy của niềm hy vọng: nhen nhóm, vun đắp tổ ấm hạnh phúc: cùng
mẹ chồng sắp xếp, dọn dẹp nhà cửa; thoáng nghĩ tới một sự thay đổi: kể
chuyện ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế, còn phá
kho thóc của Nhật chia cho người đói
Bà cụ Tứ:
-Nhân vật này cho thấy rõ nhất vẻ đẹp của tình người trong tác phẩm. Vẻ
đẹp đó được thể hiện qua thái độ, tình cảm của bà cụ Tứ đối với con trai và
con dâu:
+Với Tràng, bà cảm thấy tủi vì làm mẹ mà không giúp gì được cho con,
để con phải nhặt vợ trong cảnh túng đói. Trong tâm trạng của bà, sự ngạc
nhiên, buồn, vui, lo âu lẫn lộn. Tất cả đều xuất phát từ lòng thương con
(dẫn chứng).
+Với người con dâu, bà không hề rẻ rúng mà ngược lại, tỏ ra gần gũi,
chân tình, xóa đi mặc cảm ở chị (chú ý những câu nói bộc lộ tình yêu thương
của bà: “Ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng
lòng”; “cốt sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi”; “chúng mày lấy nhau
lúc này, u thương quá” ).
-Người mẹ gần đất xa trời lại là người bộc lộ niềm hy vọng mãnh liệt vào
cuộc sống. Bà động viên các con bằng kinh nghiệm sống, bằng triết lý dân
gian “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”; hướng tới ánh sáng: vui khi thấy Tràng
thắp lên ngọn đèn trong căn nhà ; thu xếp lại nhà cửa cho quang quẻ, nề
nếp với ý nghĩ cuộc đời sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá lên, bàn định về
tương lai, khơi dậy trong con cái một niềm tin, nghĩ tới việc kiếm tiền mua
đôi gà cho nó sinh sôi, nảy nở, hy vọng cuộc đời con cháu mình sẽ sáng sủa
hơn
c-Kết bài:
-Ba nhân vật trong tác phẩm “Vợ nhặt” được Kim Lân miêu tả rất sinh
động. Ngoại hình, hành động, lời nói, nhất là diễn biến nội tâm của nhân vật
bất khuất và sự nối tiếp các thế hệ cách mạng của đồng bào Tây Nguyên.
+Hình ảnh cây xà nu luôn được miêu tả trong thế song hành, tương đồng
với con người.
-Cách so sánh, chuyển hoá đặc sắc giữa cây và người:
+Vết thương của cây: nhựa ứa ra, bầm lại, đen và đặc quyện lại thành từng
cục máu lớn.
+Vết thương của con người: của Tnú - lại ứa ra giọt máu đậm, tím thâm
như nhựa xà nu.
+Vết thương của cây xà nu “chóng lành như trên một thân thể cường
tráng”.
+Cụ Mết ở trần: ngực căng như một cây xà nu lớn.
-Được miêu tả bằng nghệ thuật nhân hoá, mang ý nghĩa tượng trưng:
+ “Cả rừng xà nu … … bị thương”.
+ “Có những cây … …cục máu lớn”.
tượng trưng cho sự mất mát, đau thương uất hận của dân làng Xô Man.
+ “Trong rừng ít có … … bầu trời”.
+ “Chúng vượt lên … … che chở cho làng”.
Thể hiện sức sống mãnh liệt, tinh thần bất khuất và khát vọng tự do của
nhân dân Tây Nguyên. Cây xà nu là hình tượng nghệ thuật đặc sắc, có sức
hấp dẫn đặc biệt, tiêu biểu cho số phận và phẩm chất, sức sống bất diệt, tinh
thần đấu tranh quật cường của nhân dân Tây Nguyên vươn tới ánh sáng của
lý tưởng cách mạng. Các thế hệ cây xà nu tượng trưng cho các thế hệ nhân
dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Những đứa con trong gia đình (trích) - Nguyễn Thi:
-Những nét tiêu biểu về tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Nguyễn
Thi.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nhan đề, tóm tắt tác phẩm.
-Đặc sắc giá trị nội dung, nghệ thuật, tư tưởng chủ đạo và ý nghĩa văn bản.
Đề bài tham khảo:
c-Đánh giá:
-Vai trò, ý nghĩa hình tượng với giá trị tác phẩm: tiêu biểu cho vẻ đẹp tuổi trẻ
chống Mĩ: Việt là nhân vật xuất hiện nhiều nhất trong tác phẩm, một người
lính dũng cảm, đại diện cho lớp trẻ Việt Nam thời chống Mĩ. Họ hồn nhiên
trong cuộc sống nhưng cực kì nghiêm túc trong những suy nghĩ về truyền
thống gia đình, về “nợ nước thù nhà”. Họ sẽ là dòng chảy dài và đi xa muôn
dặm trong dòng sông truyền thống gia đình.
Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu:
-Khái quát về tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Nguyễn Minh
Châu.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nhan đề, tóm tắt tác phẩm.
-Đặc sắc giá trị nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa văn bản.
-Quan điểm của Nguyễn Minh Châu về nghệ thuật và con người.
-Những bài học có thể rút ra từ câu chuyện.
Đề bài tham khảo:
Phân tích tình huống truyện trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài
xa”.
-Xây dựng tình huống là một trong những vấn đề then chốt của nghệ thuật
truyện ngắn. Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn:
+Tình huống hành động: mọi tình tiết hướng tới hành động có tính chất
bước ngoặt của nhân vật.
+Tình huống tâm trạng: hướng tới việc khám phá diễn biến tư tưởng, tình
cảm, tâm lí của nhân vật.
+Tình huống nhận thức: hướng tới việc cắt nghĩa giây phút giác ngộ chân lí
của nhân vật.
-Tình huống trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là
tình huống nhận thức. Các tình tiết, chi tiết trong truyện: người đàn ông làng
chài đánh vợ, thái độ cam chịu đầy nhẫn nhục của người đàn bà, phản ứng
của cậu bé Phác trước hành động vũ phu của người cha, người đàn bà được
hiểu con người thì mới có những sáng tạo nghệ thuật có giá trị đích thực góp
phần cải tạo cuộc sống.
Chiếc thuyền ngoài xa là một ẩn dụ, một triết lý bằng hình ảnh.
Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích) – Lưu Quang Vũ:
-Khái quát về tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác của Lưu Quang Vũ.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt tác phẩm.
-Đặc sắc giá trị nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa văn bản.
-Ý nghĩa ẩn dụ qua các đoạn đối thoại: Trương Ba - xác hàng thịt; Trương
Ba - những người thân; Trương Ba - Đế Thích.
-Quan niệm sống mà tác giả gửi gắm qua nhân vật Trương Ba.
-Ý nghĩa triết lí và thời sự của vở kịch.
Đề bài tham khảo:
Suy nghĩ của anh/ chị về đoạn kết vở kịch: “Hồn Trương Ba, da hàng
thịt” của Lưu Quang Vũ.
a-Mở bài:
-Lưu Quang Vũ được coi là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất
của nền văn học Việt Nam hiện đại.
-Hồn Truong Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch gây được nhiều
tiếng vang nhất. Vở kịch được viết vào năm 1981 nhưng mãi đến năm 1984
mới được ra mắt công chúng;
-Màn kết của kịch đã cho thấy niềm tin mãnh liệt của Trương Ba vào cuộc
sống.
b-Thân bài:
-Khi phải sống thân thân xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba đã bị nhiễm dần
những thói xấu, bị người thân xa lánh, nên đã quyết định châm hương gọi
Đế Thích xuống và xin được trả lại thân xác cho anh hàng thịt, còn mình
chấp nhận cái chết vĩnh viễn.
-Khi Trương Ba chết hẳn, không phải ở trong tình trạng bên trong một đằng,
bên ngoài một nẻo nữa lại là lúc ông được sống trong sự gần gũi, tình
-Những đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn "Thuốc".
Số phận con người (trích) - Sô-lô-khốp:
-Nêu những nét lớn về cuộc đời và sự nghiệp văn học của M. Sô-lô-khôp.
-Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, nội dung và nghệ thuật của truyện.
-Tóm tắt truyện ngắn “Số phận con người” và nêu ý nghĩa văn bản.
-Ý nghĩa lời trữ tình ngoại đề ở cuối TP?
-Ý nghĩa tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn “Số phận con
người”.
-Đoạn văn trữ tình cuối truyện “Số phận con người” chứa đựng những suy
nghĩ gì của nhà văn về số phận con người.
Ông già và biển cả (trích) – Hê-minh-uê:
-Những hiểu biết về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Hê-minh-uê.
-Hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt nội dung và đặc sắc nghệ thuật tác phẩm: “Ông
già và biển cả”.
-Nguyên lí tảng băng trôi và ý nghĩa văn bản.
-Hình ảnh con cá kiếm và ý nghĩa biểu tượng.
-Về nguyên lý “tảng băng trôi” thể hiện trong đoạn trích.
2.2.2.Trong khi dạy tăng tiết:
-Giáo viên cần chú ý rèn kỹ năng và phương pháp làm văn cho học sinh,
tiến hành triển khai việc ôn lại những kiến thức cơ bản về kỹ năng và
phương pháp làm bài; đồng thời cho các em luyện tập các dạng đề nghị luận
xã hội và nghị luận văn học. Cụ thể:
A-NGHỊ LUẬN XÃ HỘI:
-Gồm các vấn đề đặt ra trong cuộc sống xã hội của con người hôm nay như:
môi trường, giáo dục, văn hóa, truyền thống dân tộc, hội nhập quốc tế, lối
sống, tư tưởng, cách ứng xử… của con người.
-Các loại đề thường gặp:
+Vấn đề môi trường sống của con người hiện nay.
+Nếu cuộc sống con người mà thiếu sách.
+Tự học - con đường đi tới thành đạt.
+Nghĩa là gì? Đúng, sai thế nào?
+Có tác dụng gì? Biểu hiện ra sao?
+Cần phê phán điều gì? Quan niệm nào là đúng?
+Phải làm gì? …
3-Lập dàn ý:
a-Mở bài:
-Giới thiệu vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn.
b-Thân bài:
-Giải thích vấn đề được đề cập: nghĩa đen, nghĩa bóng; giải thích các từ ngữ
quan trọng.
-Trả lời câu hỏi: vấn đề nghị luận là gì? Quan điểm của dân gian (nếu là tục
ngữ, danh ngôn); của nhà văn, nhà thơ?
-Những biểu hiện của vấn đề trong đời sống. Nguyên nhân, nguồn gốc của
tư tưởng, đạo lí đó.
-Các luồng tư tưởng, quan điểm khác nhau đối với vấn đề bàn luận. Chỉ ra
cái đúng, cái chưa đúng ở mỗi quan điểm, tư tưởng.
-Tầm quan trọng của vấn đề trong đời sống xã hội?
-Chứng minh sự đúng, sai của tư tưởng, đạo lí đó; bác bỏ những biểu hiện
sai lệch liên quan đến vấn đề bàn luận.
-Tổng hợp ý kiến, đưa ra nhận định, đánh giá của tư tưởng, đạo lí đó trong
cuộc sống.
c-Kết bài:
-Khẳng định những quan điểm, tư tưởng, tình cảm tích cực đối với vấn đề.
-Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí.
-Có thể đề xuất nhận thức mới hoặc yêu cầu hành động.
LUYỆN TẬP
Đề: Có ba điều trong cuộc đời mỗi con người nếu đi qua sẽ không lấy
lại được: thời gian, lời nói và cơ hội.
Suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến đó.
như tình yêu, hạnh phúc, tuổi trẻ … Mỗi thứ mất đi là thêm một lần chúng ta
phải tiếc nuối, đau xót. Hãy cố gắng giữ chặt và biết tận dụng chúng để cuộc
sống của chúng ta không trở nên vô nghĩa.
-Câu nói đưa đến một quan niệm thiết thực về cuộc sống: mỗi người chỉ
sống có một lần, và cuộc sống đem đến cho con người những thứ quí giá
nhưng nếu không biết tận dụng thì sẽ trôi qua vĩnh viễn, không bao giờ có
thể lấy lại được.
3-Kết bài: nêu bài học rút ra từ câu nói:
-Cần biết quý trọng thời gian vì “Thời giờ là vàng bạc”; biết sắp xếp thời
gian hợp lý để làm việc một cách khoa học, hiệu quả “Việc hôm nay chớ để
ngày mai”; biết sử dụng thời gian để thực hiện ước mơ “Thắp sáng tương lai
bằng chính hiện tại” … Tránh lối sống chỉ biết có hiện tại, không trân trọng
quá khứ, không dự định tương lai.
-Cần cẩn trọng, suy nghĩ chín chắn trước khi nói, “Lời nói ko mất tiền mua.
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Sẵn sàng dùng lời nói để bênh vực lẽ
phải, nhưng tránh những lời nói làm tổn thương người khác.
-Cơ hội có khi chỉ đến một lần trong đời, phải biết tranh thủ nắm lấy cơ hội
để làm lợi cho mình. Ví dụ: cơ hội học tập.
-Câu nói cho ta một cái nhìn đúng đắn về gía trị và bản chất cuộc sống, từ
đó khuyên con người nên biết quý trọng thời gian, lời nói, cơ hội. Từ đó cho
ta một bài học tích cực về cách sống: sống cho hiện tại, tận dụng từng phút
giây, cẩn trọng từng lời nói, nắm bắt từng cơ hội.
II-NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG:
-Là nghị luận bàn về một hiện tượng có ý nghĩa đối với đời sống xã hội.
-Nội dung: thường đề cập đến những sự kiện, vấn đề bức thiết của đời sống
xã hội có liên quan mật thiết đến đời sống hàng ngày, đặc biệt là sự sinh tồn
của con người như: vấn đề môi trường; vấn đề hòa bình, chiến tranh; cách
thể hiện tình cảm gia đình …
-Mục đích: yêu cầu người viết thể hiện những hiểu biết về vấn đề bàn luận,
+Thái độ của xã hội đối với vấn đề ấy (tích cực, tiêu cực)?
+Chú ý liên hệ tình hình thực tế xã hội, địa phương, bản thân. Từ đó, làm
nổi bật tính cấp thiết của việc phải giải quyết vấn đề.
-Nêu nguyên nhân vấn đề:
+Đưa ra các nguyên nhân nảy sinh vấn đề: nguyên nhân chủ quan, nguyên
nhân khách quan …
-Đề xuất phương hướng giải quyết:
+Từ nguyên nhân nảy sinh vấn đề, đề xuất phương hướng giải quyết: trước
mắt, lâu dài.
+Chú ý chỉ rõ những việc cần làm, cách thức thực hiện, đòi hỏi sự phối hợp
của những lực lượng liên quan.
c-Kết bài:
-Tổng hợp sự phân tích để rút ra kết luận.
-Bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó.
LUYỆN TẬP
Đề: Quan điểm của anh/ chị về xu hướng khẳng định cá tính của tuổi
trẻ học đường hiện nay.
a-Mở bài:
-Giới thiệu vấn đề: xu hướng khẳng định cá tính của tuổi trẻ học đường hiện
nay.
b-Thân bài:
-Nêu khái quát về tính tất yếu của xu hướng khẳng định cá tính của tuổi trẻ
học đường trong xã hội hiện đại: trào lưu dân chủ hóa, làn sóng công nghệ
thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân của con người hiện
đại được nâng cao, đặc biệt là giới trẻ - tầng lớp thanh niên, học sinh. Họ là
những người có ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò của cá
nhân với cộng đồng, xã hội.
-Khẳng định tính hai mặt của xu hướng này:
+Tích cực: xu hướng khẳng định cá tính giúp giới trẻ hoàn thiện nhân cách,
có nghị lực vươn lên chiếm lĩnh giá trị cuộc sống.