TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA: KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: TIẾNG ANH
*******
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Quyên
Lớp : A13
Khoá : 41
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Hiền
HÀ NỘI 11 - 2006
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Quyên - Lớp A13K41D
1.1. HNKTQT và nội dung của HNKTQT 22
1.2. Lộ trình hội nhập của ngành tài chính, ngân hàng 24
1.2.1. Giai đoạn từ nay đến 2010 24
1.2.2. Giai đoạn 2011 đến 2020 25
1.3. Những cơ hội và thách thức đối với ngân hàng thương mại Việt Nam
khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. 26
1.3.1. Cơ hội của các NHTM Việt Nam 26
1.3.2. Thách thức đối với NHTMVN 27
2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM trong điều kiện
hội nhập 30
Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHNTVN nhằm chuẩn bị
hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới
I/ Thực trạng quy mô và hoạt động kinh doanh của NHNTVN 33
1. Thực trạng quy mô của NHNTVN 33
2. Thực trạng hoạt động kinh doanh của NHNTVN 37
2.1. Công tác huy động và quản trị vốn 39
2.2. Hoạt động tín dụng 41
2.3. Hoạt động thanh toán và kinh doanh ngoại tệ 43
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Quyên - Lớp A13K41D
2.3.1. Hoạt động thanh toán 43
2.3.2. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 45
2.4. Kết quả kinh doanh 45
II/ Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHNTVN 47
1. Thực trạng về năng lực tài chính 48
1.1. Vốn chủ sở hữu 49
1.2. Khả năng sinh lời 50
1.3. Khả năng phòng ngừa chống đỡ rủi ro 52
2. Thực trạng năng lực hoạt động 54
2.1. Năng lực huy động vốn và cho vay đầu tư. 54
Kết luận 95
Danh mục tài liệu tham khảo 97
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Quyên - Lớp A13K41D
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Thương mại đóng vai trò ngày càng tăng trong lĩnh vực tài chính thông qua
các giao dịch qua biên giới giữa các quốc gia và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khi
các hoạt động mang tính quốc tế ngày càng cao do sự gia tăng của các quan hệ
thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài thì nhu cầu về các dịch vụ tài chính cũng
tăng lên nhanh chóng, bởi vì các dịch vụ tài chính và đặc biệt là các dịch vụ ngân
hàng luôn gắn chặt với toàn bộ hoạt động của nền kinh tế và với từng lĩnh vực của
nó. Hệ thống các dịch vụ tài chính đã trở thành cột sống của các nền kinh tế hiện
đại. Việt Nam đã kết thúc vòng đàm phán với đối tác lớn nhất là Hoa Kỳ và đang
tiến tới kết thúc quá trình đàm phán gia nhập WTO- tổ chức kinh tế lớn nhất hành
tinh, trong năm nay. Quá trình đàm phán gia nhập WTO cho thấy, việc mở cửa lĩnh
vực tài chính ngân hàng là một nội dung rất quan trọng luôn được các đối tác đặt lên
đàm phán như một trong những điều kiện để mặc cả do lĩnh vực này có tính nhạy
cảm rất cao. Điều này khẳng định một thực tế khách quan là toàn cầu hoá kinh tế
luôn gắn liền với sự nới lỏng hoạt động ngân hàng và tự do thị trường tài chính.
Trong điều kiện đó, hoạt động của các ngân hàng cũng thay hình đổi dạng, chuyển
sang kinh doanh đa năng và do đó phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên nhiều
phương diện của thị trường. Bên cạnh những đối thủ cạnh tranh truyền thống trước
đây, các ngân hàng còn phải đương đầu với các định chế tài chính khác như các
công ty bảo hiểm, các quĩ đầu tư, các công ty tài chính, các tổ chức phi ngân hàng
khác.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một trong bốn ngân hàng thương mại
nhà nước lớn nhất nước ta, với kinh nghiệm truyền thống chuyên doanh đối ngoại,
NHNTVN nói riêng chủ yếu trong giai đoạn 2001- 2005.
* Phạm vi nghiên cứu: Khoá luận nghiên cứu những vấn đề cơ bản, hoặc liên
quan trực tiếp của HNKTQT tác động đến năng lực cạnh tranh của các NHTM nói
chung và NHNTVN nói riêng. Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Quyên - Lớp A13K41D
3
5. Kết cấu đề tài.
Kết cấu của khóa luận được chia thành 3 chương như sau:
Chương I: những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của ngân hàng
thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng Ngoại Thương
Việt Nam nhằm chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
NHNTVN trong bối cảnh HNKTQT.
Trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp, với những hạn chế về kiến thức,
kinh nghiệm, về thời gian và tài liệu, những nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh
tranh của NHNTVN hẳn còn có nhiều thiếu sót và chưa toàn diện. Tuy nhiên, với sự
cố gắng của mình, em mong được sự góp ý chỉ bảo tận tình của các thầy cô, và các
bạn quan tâm đến vấn đề này.
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Th.s Nguyễn Thị Hiền vì sự
hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của cô giáo trong suốt quá trình em viết khoá luận tốt
nghiệp. Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trường ĐH Ngoại
thương, các bác, các cô chú của NHNTVN, gia đình và bạn bè, những người đã tạo
điều kiện cho em hoàn thành tốt khoá luận này.
Hà Nội, tháng 11/ 2006
Nguyễn Thị Quyên
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Quyên - Lớp A13K41D
5
CHƢƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
I/ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ NHỮNG NGHIỆP VỤ KINH DOANH
CHỦ YẾU.
1. Khái niệm về NHTM.
Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa đòi hỏi phải có một tổ chức kinh
doanh đặc biệt- chuyên kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ trong quan hệ vay mượn
đó là NHTM, một tổ chức tài chính được hình thành lâu đời nhất- từ hơn 2000 năm
trước đây. Kể từ đó đến nay, công nghiệp ngân hàng đã lan rộng từ nền văn minh cổ
đại Hy Lạp và La Mã sang văn minh Bắc Âu, Tây Âu rồi trở nên nổi tiếng trên toàn
thế giới. Ngày nay, NHTM và hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng trong thể
chế tài chính của mỗi nước. NHTM là một mắt xích hết sức quan trọng của nền kinh
tế, có nhiệm vụ đáp ứng các nhu cầu khác nhau về vốn, góp phần tăng tốc độ chu
chuyển hàng hóa và tiền tệ, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển kinh
tế và ổn định xã hội.
Mỗi nước trên thế giới đều đưa ra một khái niệm riêng về NHTM, tuy nhiên
tất cả các khái niệm đều có thể hiểu ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh
vực tiền tệ với các nội dung chính là:
- Nhận tiền gửi và chi trả hộ khách hàng.
- Sử dụng số tiền của khách hàng gửi để cho vay.
Theo luật tổ chức tín dụng năm 1997 của Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thì NHTM được hiểu như sau:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
sắm các phương tiện hoạt động.
- Nhận tiền gửi các loại: Nền kinh tế càng phát triển, các khoản tiền nhàn rỗi
phát sinh trong nền kinh tế càng gia tăng và càng phong phú. Các NHTM có thể huy
động được các loại tiền gửi sau đây:
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Quyên - Lớp A13K41D
7
+ Tiền gửi không kì hạn: Loại tiền gửi này hoàn toàn theo quy tắc khả dụng,
nghĩa là người gửi có quyền gửi và rút tiền bất cứ lúc nào khi họ muốn.
+ Tiền gửi có kì hạn: Loại tiền gửi có kì hạn mà người gửi tiền và NHTM có
thỏa thuận với nhau theo những điều đã cam kết mang tính chất pháp lí. Người gửi
tiền chỉ được lĩnh tiền đầy đủ cả gốc lẫn lãi ra khi khoản tiền gửi đến hạn, nếu chưa
đến hạn chỉ được lĩnh gốc và lãi ở mức thấp hơn tùy theo ngân hàng.
+ Tiền gửi tiết kiệm: Một khoản tiền gửi dưới hình thức tiết kiệm rất đa dạng
và phổ biến trong nền kinh tế được tổ chức tín dụng huy động có hiệu quả. Tiền gửi
tiết kiệm gồm: Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn và tiền gửi tiết kiệm có kì hạn. Với
các loại tiền gửi phổ biến đó, ngân hàng thương mại đã tập trung được nguồn vốn
chủ yếu và rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mình.
- Đi vay: Bên cạnh nguồn vốn huy động nếu chưa đáp ứng được nhu cầu vay
vốn của khách hàng, hoặc ngân quỹ bị thiếu hụt do nhiều khách hàng đến rút tiền,
NHTM phải bù đắp nguồn vốn bị thiếu hụt bằng biện pháp đi vay. Tổ chức tín dụng
có thể vay ở các tổ chức tín dụng khác, vay bằng cách phát hành kì phiếu, trái phiếu
hoặc vay ở Ngân hàng Trung ương dưới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có
giá.
Nguồn vốn đi vay chiếm tỷ trọng nhỏ trong kết cấu nguồn vốn, nhưng nó giữ
một vị trí vô cùng quan trọng, vì nó đảm bảo cho tổ chức tín dụng hoạt động kinh
doanh một cách bình thường. Đối với tất cả những nguồn vốn: Vốn chủ sở hữu, vốn
tiền gửi các loại, vốn vay… NHTM phải trả một khoản lợi tức cho người sở hữu nó
theo những cam kết đã thỏa thuận.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và
dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng
đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc uỷ
nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ cho
nhau thông qua ngân hàng Trung ương và các trung tâm thanh toán. Nhiều hình
thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Quyên - Lớp A13K41D
9
không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên
toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả
của thanh toán qua ngân hàng, biến các ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán
quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
II/ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh.
Theo từ điển Tiếng Việt, cạnh tranh được hiểu là “cố gắng giành phần hơn,
phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi
ích như nhau”.
1
Theo từ điển Cornu của Pháp thì cạnh tranh được hiểu là “hành vi của doanh
nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau cung ứng hàng hoá, dịch vụ nhằm
làm thoả mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi
kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng thường xuyên”.
2
Theo từ điển Longman của Anh thì “cạnh tranh là sự nỗ lực để đạt thành công
hơn những đối thủ của mình trong kinh doanh”.
“Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng tự duy trì một cách lâu dài,
có ý thức các lợi thế của mình trên thị trường để đạt được mức lợi nhuận và thị
phần nhất định hoặc khả năng chống lại một cách thành công sức ép của các lực
lượng cạnh tranh”.
4
Hiện nay, nước ta có 6 NHTMNN, 25 NHTMCP đô thị, 8 NHTMCP nông
thôn, 4 ngân hàng liên doanh, 29 chi nhánh ngân hàng của 14 quốc gia và vùng lãnh
thổ tại Việt Nam, 15 TCTD phi ngân hàng, 46 văn phòng đại diện TCTD nước
ngoài.
5
Với một số lượng đông đảo các TCTD hoạt động tại Việt Nam thì hoạt động
cạnh tranh của các TCTD sẽ ngày càng gay gắt hơn, vì vậy các NHTM cũng gặp
phải nhiều sức ép hơn khi muốn khẳng định và nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình.
Hoạt động của ngân hàng có những điểm khác biệt so với các doanh nghiệp
khác, dẫn đến tính chất, mức độ của các công cụ cạnh tranh nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh trong ngành ngân hàng cũng có những điểm khác biệt:
- Là ngành kinh doanh chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước về các phương
diện: thành lập các ngân hàng mới; các tỷ lệ, hạn mức an toàn trong hoạt động; các
quy định về bảo vệ khách hàng; thực thi nhiệm vụ thuộc chính sách tiền tệ… Do đó
làm hạn chế mức độ khốc liệt trong cạnh tranh khi các ngân hàng không thể phát 4
Nguồn: TCNH số 44 t1/ 06 tr.44
5
Nguồn: TCNH số 16 t8/06 tr.24
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Quyên - Lớp A13K41D
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Quyên - Lớp A13K41D
12
- Cuối cùng, do sản phẩm dịch vụ ngân hàng có tính kế thừa mang tính chất
dài hạn, trong khi lại là ngành kinh doanh rủi ro lớn nên các ngân hàng phải rất chú
trọng tính bền vững trong cạnh tranh. Các chiến lược, sách lược cụ thể trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh phải nằm trong một chiến lược phát triển bền vững
tổng thể và không làm ảnh hưởng đến các nguồn lực phát triển và sức cạnh tranh
trong tương lai.
3. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM.
3.1. Năng lực tài chính.
3.1.1. Khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu của mỗi ngân hàng được hình thành do tính chất sở hữu của
ngân hàng quyết định. Theo Luật các tổ chức tín dụng (Luật số 02/ 1997/ QH10),
vốn chủ sở hữu (hay vốn tự có) gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ,
một số tài sản "nợ" khác của tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng nhà
nước. Vốn chủ sở hữu là căn cứ để tính các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động
ngân hàng. Vốn chủ sở hữu sẽ được bổ sung và tăng dần dưới hình thức: huy động
thêm vốn từ các cổ đông, Nhà nước cấp, lợi nhuận bổ sung và có thể tiến hành
đồng thời với việc trích lập dự phòng chung, đánh giá lại tài sản cố định, chứng
khoán đầu tư, phát hành trái phiếu chuyển đổi và các công cụ nợ khác theo quy định
của pháp luật.
Khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu là một trong những tiêu chí quan
trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM bởi tầm quan trọng của nó đối với
sự tăng trưởng và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng cũng như năng lực tài
chính của NHTM. Bởi quy mô vốn chủ sở hữu thể hiện những vai trò quan trọng
sau đây:
Thứ nhất: vốn chủ sở hữu của NHTM đóng vai trò sống còn trong việc duy
trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo cho ngân hàng khả năng phát triển lâu
trường cho vay kinh doanh giá trị lớn. Như vậy, quy mô vốn của một ngân hàng
càng cao thì khả năng tham gia vào thị trường càng lớn và ngược lại. Hay nói cách
khác, quy mô vốn của một ngân hàng xác định phạm vi cạnh tranh của ngân hàng
đó.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Quyên - Lớp A13K41D
14
Như vậy, để nâng cao được khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu của
mình, các NHTM trước hết cần phải hoạt động một cách có hiệu quả và làm ăn có
lãi. Từ đó sẽ tạo lòng tin và huy động thêm vốn từ các cổ đông, đồng thời có được
khoản lợi nhuận bổ sung lớn vào nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
3.1.2. Khả năng sinh lời.
Khả năng sinh lời của một ngân hàng được đo lường bởi rất nhiều chỉ tiêu dựa
trên cơ sở tài liệu được sử dụng là các báo cáo tài chính của ngân hàng như: bảng
cân đối kế toán (bảng tổng kết tài sản) thể hiện bằng số liệu bình quân, bảng báo cáo
thu nhập lãi lỗ của ngân hàng.
Chỉ tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận ròng trên vốn tự có bình quân (ROE =
Net income/ Average owner’s equity), trong đó thu nhập sau khi đã bù đắp toàn bộ
chi phí và thuế chia cho vốn chủ sở hữu: Cổ phiếu thông thường, lợi nhuận chưa
phân phối và quỹ dự trữ. Tỷ số ROE về mặt quản trị cho biết khả năng, mức độ
kiếm được lợi nhuận tính trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu đầu tư vào ngân
hàng. Sự đo lường này cũng phản ánh doanh thu, hiệu quả hoạt động đạt được. Một
ngân hàng được coi là có khả năng sinh lời cao nếu ROE cao hơn mức lợi nhuận
mong đợi (Expected return) đối với các cổ phiếu đầu tư trên thị trường đó.
Lợi nhuận ròng trên tài sản Có bình quân (ROA = Net income/ Average total
assets): hệ số này thể hiện cứ mỗi đồng tài sản sẽ đem lại bao nhiêu lợi nhuận cho
ngân hàng. Tỷ số này phản ánh năng lực quản trị của ngân hàng về sử dụng tài
chính và những nguồn vốn thực sự đem lại lợi nhuận. Điều này cho thấy một ngân
hàng lớn (thể hiện qua chỉ tiêu tổng tài sản có lớn) chưa chắc đã có khả năng sinh
Chng khoỏn di hn
10.000.000
-
-
Ti sn c nh
2.000.000
-
-
TNG CNG
100.000.000
TNG CNG
100.000.000
Bảng 2: Báo cáo thu nhập lãi lỗ của NHTM ABC năm 2005
Đơn vị: USD
1- Doanh thu (thu lãi cho vay và tiền gửi)
9.0000.000
2- Chi phí trả lãi
4.000.000
3- Thu nhập về lãi suất (1 2)
5.000.000
4- Chi phí quản lý, lao động, công cụ
3.000.000
5- Thu nhập (lợi nhuận) hoạt động tr-ớc thuế
2.000.000
6- Thuế thu nhập (34%)
680.000
7- Thu nhập (lợi nhuận sau thuế)
1.320.000
Phân tích khả năng sinh lời của NHTM ABC năm 2005:
Lợi nhuận ròng 1.320.000
Có thể nói, hoạt động ngân hàng liên quan đến việc chấp nhận rủi ro chứ
không né tránh chúng. Các ngân hàng cần đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên
mối quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt đ-ợc những lợi ích xứng
đáng với mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động hiệu quả nếu khả năng
phòng ngừa và chống đỡ rủi ro tốt, đồng thời nằm trong khả năng các nguồn lực tài
chính và năng lực tín dụng của ngân hàng.
Mức độ rủi ro thông th-ờng đ-ợc đo bằng 2 chỉ số là: Vốn tự có trên tài sản có
(VTC/ TSC) hay còn gọi là tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và tỷ lệ nợ xấu trên Tổng d- nợ:
- Về VTC/TSC: Nếu đo mức độ rủi ro theo chỉ số VTC/TSC không nhỏ hơn
8% theo thông lệ quốc tế và nh- các ngân hàng vẫn làm lâu nay thì: Chủ ngân hàng
phải đảm bảo tốc độ tăng TSC (nhiều khi do sức ép của cầu tín dụng) phải kéo theo
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Quyờn - Lp A13K41D
17
tăng VTC t-ơng ứng một cách cơ học cùng tốc độ mà không phải lúc nào việc này
cũng suôn sẻ.
Có nhiều cách tiếp cận để tính chỉ số CAR, nh-ng trong khuôn khổ của đề tài
này, CAR đ-ợc tính theo công thức của Hiệp -ớc Basel II nh- sau:
Vốn tự có (Gồm Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2)
Hệ số CAR =
Tổng tài sản "Có" quy đổi theo các loại RR
Trong đó:
+ Vốn cấp 1: bao gồm vốn điều lệ (hay vốn cổ phần ở các NHTMCP), quỹ dự
phòng tài chính, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu t- phát triển nghiệp vụ và
lợi nhuận không chia.
+ Vốn cấp 2: bao gồm giá trị tài sản đ-ợc đánh giá lại, quỹ dự phòng rủi ro
chung, trái phiếu có khả năng chuyển đổi, cổ phiếu -u đãi do tổ chức tín dụng phát
hành thoả mãn các điều kiện theo quy định và một số công cụ nợ khác.
+ Tổng tài sản "Có" đã đ-ợc quy đổi theo hệ số rủi ro (cả 3 loại rủi ro: rủi ro
cách như: chấp nhận, giảm nhẹ, loại bỏ, hay chuyển đổi rủi ro.
Khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro của một ngân hàng chính là khả
năng đảm bảo các tài sản và công nợ của ngân hàng, vị trí kinh doanh, các hoạt
động tín dụng và cung cấp dịch vụ của ngân hàng không phải gánh chịu những rủi
ro làm ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng. 3.2. Năng lực hoạt động.
3.2.1. Khả năng huy động vốn và cho vay đầu tư.
Các ngân hàng thường cạnh tranh với nhau trong việc thu hút tiền gửi từ dân
cư và các tổ chức kinh tế cũng như tài trợ cho vay tiêu dùng và sản xuất. Công cụ
chủ yếu mà các ngân hàng sử dụng để tăng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế là lãi
suất. bên cạnh công cụ lãi suất, các ngân hàng còn thực hiện rất nhiều chính sách
thu hút tiền gửi như: Tiết kiệm dự thưởng (NHĐT & PT), Quay số mở thưởng 3 chữ
A (NHNN & PTNT), Chương trình "Cùng VCB khám phá thế giới" (NHNTVN)…
Nhờ vậy, nguồn vốn huy động được không ngừng tăng lên. Đồng thời, do nhu cầu
về vốn để mở rộng sản xuất của nền kinh tế trong công cuộc công nghiệp hoá- hiện
đại hoá, dư nợ cho vay của các ngân hàng cũng tăng đáng kể, thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Tốc độ tăng trƣởng huy động vốn và dƣ nợ cho vay của hệ thống
ngân hàng Việt Nam từ 2003 đến tháng 6/2006
Đơn vị : %
Tốc độ tăng trƣởng
2003
2004
2005
6T/2006
Huy động vốn
24,1
22,8
22
thiết, không chỉ thoả mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng mà còn tạo điều kiện
thuận lợi để ngân hàng thâm nhập thị trường, mở rộng thị phần, tăng doanh số hoạt
động, thu lợi nhuận tối đa, tạo uy tín, hình ảnh và tăng sức mạnh cạnh tranh của
mình, đồng thời đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước.
Khả năng phát triển đa dạng sản phẩm dịch vụ ngân hàng có những vai trò
quan trọng chủ yếu là: Tăng thu nhập của ngân hàng; hạn chế rủi ro; tăng khả năng
cạnh tranh của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường; thúc đẩy thực hiện hiện đại
hoá công nghệ ngân hàng, cải tiến quy trình nghiệp vụ, đổi mới, nâng cao chất
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Quyên - Lớp A13K41D
20
lượng phục vụ khách hàng; góp phần hoàn thiện bộ máy tổ chức…
Khả năng phát triển sản phẩm dịch vụ của ngân hàng làm tăng khả năng cạnh
tranh của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, các ngân hàng không chỉ cạnh tranh đơn thuần về lãi suất, chi phí, phong
cách phục vụ, cải tiến quy trình… mà một yếu tố quan trọng tạo sự thành công
trong cạnh tranh đó là việc phát triển, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm
dịch vụ ngân hàng. Cung cấp cho khách hàng dịch vụ trọn gói, đáp ứng ngày một
đầy đủ hơn nhu cầu của khách hàng, là một phương án cạnh tranh hiệu quả.
3.3. Năng lực quản trị điều hành.
Năng lực quản trị điều hành thể hiện chủ yếu qua khả năng của nguồn nhân
lực và khả năng quản trị tài sản Nợ - Có.
* Nguồn nhân lực: Ngân hàng thuộc ngành kinh doanh dịch vụ, vì vậy có thể
nói, chất lượng cán bộ, nhân viên ngân hàng là một yếu tố quan trọng để kiến tạo
sức mạnh cạnh tranh của các NHTM. Nhân viên ngân hàng là người trực tiếp thực
hiện các chiến lược kinh doanh (bao gồm cả chiến lược cạnh tranh) của các NHTM
Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên giao dịch là một “hiện
hữu” chủ yếu của dịch vụ. Vì vậy, với kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn, nhân
viên ngân hàng có thể làm tăng thêm giá trị cho dịch vụ cũng như có thể làm giảm