Thực trạng vấn đề lãi suất tiền gửi của ngân hàng thương mại ở Việt Nam - Pdf 14

LỜI NÓI ĐẦU
Lãi suất là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp đa dạng và phức
tạp.Tính tổng hợp và phức tạp cuả lãi suất xuất phát từ khái niệm:”lãi suất không có gì
khác hơn là một giá cả -giá thuê vốn”.
Lãi suất là một khái niệm luôn phát triển ,nó luôn gắn với một nền kinh tế ở một
thời điểm lịch sử.Lãi suất có tác động rất lớn đến nền kinh tế của đất nước,và nó là một
công cụ trong phát triển kinh tế và đồng thời lại là một công cụ kìm hãm của chính sự
phát triển ấy,tuỳ thuộc vào việc khôn ngoan hay yếu kém trong việc sử dụng chúng.
Đối với nước ta,lãi suất luôn được coi là một trong những vấn đề rất được quan
tâm hiện nay. Đặc biệt trong thời gian gần đây vấn đề về lãi suất tiền gửi gân hàng được
quan tâm rất nhiều.
Tiền gửi ngân hàng là một trong những nguồn vốn cơ bản,quan trọng của ngân
hàng thương mại.Nguồn vốn này chính là nền tảng cho sự phát triển của ngân hàng ,
đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng.Hiện
nay ,hầu hết ngân hàng đều phải đối mặt với sự cạnh tranh thu hút khách hàng về mình
trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi.
Lãi suất tiền gửi có tác động rất nhiều đến hiệu quả của hoạt động huy động tiền
gửi. Mặt khác lãi suất này có tính quyết định đối với việc mở rộng nguồn vốn vốn,chất
lượng của nguồn vốn.Chính vì vậy ngân hàng cần có một chính sách về lãi suất tiền gửi
phù hợp với một mặt để có thể thu hút và duy trì sự ổn định trong lượng tiền gửi của
khách hàng ,mặt khác ổn định thu nhập của ngân hàng.
Chính vì vậy em chọn đề tài “Thực trạng vấn đề lãi suất tiền gửi của ngân
hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2006 đến 2012” nhằm hiểu rõ hơn về lãi suất
tiền gửi là như thế nào, những nhân tố cấu thành nên lãi suất tiền gửi cũng như những tác
động của nó tới ngân hàng cũng như nên kinh tế …
MỤC LỤC
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ LÃI SUẤT TIỀN GỬI CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Các loại lãi suất tiền gửi của ngân hàng
1.1.1 Lãi suất tiền gửi giao dịch(tiền gửi thanh toán):
1.1.2 Lãi suất tiền gửi phi giao dịch(tiền gửi có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm)

nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng.Một mặt ngân hàng phải trả một mức lãi suất đủ lớn để
có thể thu hút và duy trì sự ổn định trong lượng tiền gửi của khách hàng.Mặt khác ,ngân
hàng phải cố gắng hạn chế việc trả lãi suất cao,bởi điều này sẽ làm giảm mức thu nhập
tiềm năng của ngân hàng.
Ngân hàng thường phải lựa chọn giữa hai mục tiêu tăng trưởng và khả năng sinh
lời.Trả lãi suất cao hơn cho các khoản tiền gửi và các nguồn vốn giúp cho ngân hàng tăng
trưởng nhanh hơn,nhưng chiến lược cạnh tranh này khiến cho lợi nhuận của ngân hàng
suy giảm nghiêm trọng. Quy mô của tiền gửi chủ yếu dựa vào quy mô các khoản cho vay
và đầu tư.
Huy động vốn là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của ngân hàng, bởi vì để
có tiền cho vay và kinh doanh các lĩnh vực khác,ngân hàng không chỉ dựa vào nguồn vốn
điều lệ của mình(vốn chủ sở hữu) mà còn phỉa huy động vốn trên thị trường. Hiện nay
các ngân hàng có những phương thức huy động chủ yếu bao gồm những loại tiền gửi sau:
1.1.1 Lãi suất tiền gửi giao dịch(tiền gửi thanh toán):
* Khái niệm:
Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng
giữ và thanh toán hộ.
* Phân loại
+Tài khoản tiền gửi thanh toán dùng cho các doanh nghiệp: không được
hưởng lãi trực tiếp,mà người gửi chỉ hưởng lãi gián tiếp thông qua các dịch vụ thanh toán
miễn phí của ngân hàng .
+Tài khoản tiền gửi thanh toán dùng cho cá nhân: được ngân hàng trả
lãi,nhưng lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này thường thấp hơn lãi suất tiền gửi định kỳ.
1.1.2 Lãi suất tiền gửi phi giao dịch(tiền gửi có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm)
*.Khái niệm:
Tiền gửi giao dịch là loại tiền gửi có định hướng tiết kiệm,gửi tiền dự
phòng có hưởng lãi,không thể dùng thường xuyên vào mục đích thanh toán.
*Phân loại:
+Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp,các tổ chức xã hội
Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp,các tổ chức xã hội sẽ được chi

gốc là mệnh giá và phần lãi mà khách hàng được hưởng.
* Phát hành dưới hình thức chiết khấu :Người mua kỳ phiếu trả tiền theo mệnh
giá trừ đi số tiền chiết khấu và khi đến hạn thanh toán ,ngân hàng sẽ trả theo đúng mệnh
giá.
1.2 Phương thức định giá lãi suất tiền gửi của ngân hàng
Lãi suất tiền gửi nhìn chung được định giá thấp hơn lãi suất cho vay.Lãi suất
tiền gửi được định giá dựa vào tỷ lệ chênh lệch bình quân, đã được tính toán trong quá
khứ giữa lãi suất bình quân đầu vào đảm bảo sao cho ngân hàng trang trẩi được chi phí
lãi,các chi phí phi lãi và có lợi nhuận.Tỷ lệ chênh lệch này được tính toán dựa vào lãi suất
tiền gửi trong quá khứ kết hợp với yếu tố cạnh tranh ,tỷ lệ phí bảo hiểm tiền gửi ,tỷ lệ giự
trữ bắt buộc và tỷ lệ chi phí quản lý vốn huy động.
Lãi suất tiền gửi có tính đến các yếu tố lạm phát ,yếu tố về thời gian gửi tiền
của khách hàng…
Thời gian gần đây ,các ngân hàng đã duy trì được mối tương quan giữa lãi suất
tiền gửi với tỷ lệ lạm phát phù hợp ,lãi suất tiền gửi được xây dựng dựa trên nền tảng là
đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền thể hiện qua lãi suất tiền gửi lớn hơn tỷ lệ lạm phát.
1.3 Các nhân tố cấu thành lãi suất tiền gửi của ngân hàng
Nhân tố thời gian của lãi suất:gồm
+ Giá trị của quyền sử dụng tiền trong khoảng thời gian nhất định.
Giá trị của quyền sử dụng tiền trong thời gian nhất định là lợi tức mà người
vay phải trả do sử dụng quyền sử dụng tiền tệ của người cho vay trong điều kiện không
lạm phát và rủi ro.Vì ngân hàng đi vay để cho vay nên trong yếu tố này bao gồm:phần trả
lãi phải trả cho người kí thác ,chi phí quản lý ,chi phí tiền lương ,chi phí chuyển đổi…
Các khoản chi phí này phải thay đổi theo thời hạn tiền kí thác và tuỳ theo loại tín dụng
cấp cho khách hàng vay.
+Tỷ lệ lạm phát dự tính.
Lạm phát là kẻ thù của lãi suất.Lạm phát sẽ làm bay hơi một cách vô hình lãi
suất của các loại tài sản mà ngân hàng và nhân dân có được.
Tỷ lệ lạm phát dự tính là phần mà ngân hàng mong muốn bù đắp nếu lạm phát
diễn ra.Trong cơ cấu lãi suất,nếu không tính đến yếu tố này,ngân hàng dẽ gặp bất

thì lượng tiền dành cho tiết kiệm có thể càng lớn, đặc biệt là khi thu nhập bình quân đầu
người đã đạt đến một mức độ nhất định thì tỷ lệ tiết kiệm không phải tăng lên theo tương
quan tỷ lệ với sự gia tăng của thu nhập mà tăng với một tỷ lệ lớn hơn so với thu nhập do
nhu cầu thiết yếu lúc này được thoả mãn hoàn toàn và lượng tiền dư ra sẽ tăng nhanh.
Tuy nhiên, lượng tiền tiết kiệm có được gửi vào NHTM hay không còn phụ thuộc vào
tâm lý tiêu dùng các dân cư. Họ có thể đem gửi Ngân hàng, giữ tiền mặt, vàng, ngoại tệ
hoặc mua các tài sản khác.
Bên cạnh nguồn tiết kiệm từ dân cư thì nguồn tiết kiệm từ các tổ chức kinh tế- xã
hội cũng rất quan trọng. NHTM có thể huy động nguồn vốn này thông qua nghiệp vụ
phát hành trái phiếu. Do đó để NHTM thực hiện tổ chức năng trung gian tài chính, phục
vụ đầu tư phát triển thì đòi hỏi các tổ chức, cá nhân và cả nhà nước phải có chính sách
tiết kiệm hợp lý và coi tiết kiệm là quốc sách hàng đầu.
- Chính sách của Nhà nước:
Đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của
các NHTM. Bởi vì khi Nhà nước khuyến khích việc mở rộng huy động vốn thì sẽ có các
chính sách văn bản hướng dẫn cụ thể. Từ đó, các NHTM sẽ có các căn cứ pháp lý để thực
hiện nghiệp vụ này một cách thuận lợi hơn. Ngược lại, khi Nhà nước không khuyến khích
thì tất yếu công tác này sẽ rất khó có khả năng tồn tại và phát triển.
Hiện nay, Nhà nước ta đã thấy được sự cần thiết của việc huy động vốn và đã ban
hành các văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm khuyến khích các NHTM ngày càng mở rộng
huy động vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.
- Nhu cầu vốn của nền kinh tế:
Nền kinh tế đòi hỏi nhiều vốn cho đầu tư phát triển, ngoài vốn ngắn hạn còn rất
nhiều vốn. Song tự bản thân nó không thể đáp ứng đủ lượng vốn cần thiết, NHTM với vai
trò là cầu nối giữa người thiếu vốn và người thừa vốn đã góp phần cung cấp một nguồn
vốn lớn cho phát triển kinh tế. ở nước ta, thị trường chứng khoán mở ở dạng sơ khai do
đó việc đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM vẫn chiếm
vị trí quan trọng và cấp thiết.
- Cơ cấu dân cư và vị trí địa lý:
ở những địa điểm dân cư đông đúc, các thành phố lớn có nhiều doanh nghiệp hoạt

ngân hàng. Tuy nhiên, lãi suất và tính tiện ích cũng như thanh khoản của trái phiếu ngân
hàng cũng được các tổ chức này đặc biệt quan tâm.
- Chính sách sản phẩm:
Đa dạng hoá sản phẩm trong lĩnh vực ngân hàng đã khó, đa dạng hoá các hình
thức huy động vốn lại càng nan giải hơn. Tuy nhiên, các NHTM đã cho ra đời nhiều sản
phẩm vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính hiện đại như: Tiền gửi tiết kiệm, kỳ
phiếu, trái phiếu, với sự phong phú về kỳ hạn, mệnh giá và chủng loại. Qua đó từng
bước đã thu hút được nhiều khác hàng hưởng ứng. Một NHTM có sự đa dạng trong
nghiệp vụ huy động vốn trong nền kinh tế, thoả mãn được nhu cầu của người gửi tiền;
một sản phẩm phù hợp sẽ làm họ quan tâm và thúc dục họ gửi tiền vào ngân hàng hơn là
tìm kiếm các hình thức đầu tư khác. Vì vậy đa dạng hoá sản phẩm, đặc biệt là trong huy
động vốn có thể coi là” cuộc chạy đua” không có đích cuối cùng của các NHTM hiện
nay.
- Công tác cân đối vốn của Ngân hàng:
Một chiến lược huy động vốn đúng đắn phù hợp với kế hoạch sử dụng vốn trong
cùng thời kỳ, sẽ tạo điều kiện cho các NHTM đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và
tăng trưởng nguồn vốn đó chính là công tác cân đối vốn của Ngân hàng. Trong quá trình
đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển tình hình công tác cân đối vốn có vai trò hết
sức quan trọng đối với bất cứ NHTM nào. Thông qua cân đối vốn, NHTM sẽ biết được
thực trạng và có những dự đoán nhu cầu biến động vốn trong tương lai. Từ đó có thể đưa
ra chính sách huy động thích hợp về số lượng cũng như là về loại tiền và kỳ hạn huy
động. Qua đó sẽ nâng cao tính chủ động của NHTM trong công tác huy động vốn.
- Chính sách quảng cáo:
Chính sách quảng cáo đóng vai trò quan trọng đối với tất cả các ngành trong thời
đại ngày nay, trong đó không loại trừ ngành Ngân hàng. Để tạo được hình ảnh đẹp trong
con mắt khách hàng thì NHTM cần phải thực hiện đồng bộ nhiều yếu tố. Trong đó không
chỉ chú trọng đến các hình thức quảng cáo như: Quảng cáo trên tạp chí, Panô, láp phích,
Internet, mà còn cần có sự kết hợp với các chính sách như: Chính sách khách hàng,
chính sách sản phẩm, Việc tuyền truyền, quảng cáo để mọi tầng lớp dân cư hiểu biết về
các thông tin là rất cần thiết. Trên cơ sở hiểu biết công tác huy động của Ngân hàng thì

(tháng 11/2010), 14% (tháng 12/2010) và cuối cùng là chế tài hóa đồng
thuận theo Thông tư số 02/NHNN/2011 ngày 3/3/2011, các ngân hàng
thông báo mức lãi suất trong giới hạn của đồng thuận song song với việc áp
dụng một mức lãi suất thực chênh lệch khoảng 2 - 3% cho khách hàng gửi
tiền. Bên cạnh đó, các ngân hàng áp dụng cùng một mức lãi suất cho các kỳ
hạn khác nhau, đặc biệt, cho kỳ hạn từ 6 tháng trở xuống, cá biệt, có thể áp
dụng cho cả kỳ hạn 12 tháng làm cho đường cong lãi suất trở nên nằm
ngang. Nếu loại bỏ phần bù rủi ro tính lỏng ứng với kỳ hạn thì thực chất
đường cong lãi suất ngân hàng luôn có xu hướng dốc xuống từ năm 2009
đến nay, đặc biệt từ đầu năm 2010 tới nay (Hình 1). Trong thực tế, với
những kỳ vọng về lạm phát, mức độ căng thẳng thanh khoản và nhu cầu vốn
cho phục hồi và tăng trưởng thì đường cong lãi suất của Việt Nam không thể
có xu hướng này trong thời gian qua. Nếu nhìn mức độ dịch chuyển vị trí
của đường cong lãi suất từ năm 2009 đến năm 2011 có thể thấy rõ xu hướng
này (Bảng 1&2)
Hình 1: Đường cong lãi suất tiền gửi danh nghĩa khối NHTMNN và khối NHTMCP
class="bi x0 ye9 w2 h6"
Xu hướng đường cong lãi suất dốc xuống thường thể hiện sự dự báo
của thị trường về chính sách tiền tệ nới lỏng trong tương lai kèm theo kỳ
vọng lãi suất thị trường sẽ giảm xuống so với hiện tại. Phản ánh này đúng
với hai điều kiện: (i) Có tồn tại các thị trường với những thời hạn ngắn,
trung và dài hạn, đồng thời, có sự di chuyển vốn giữa các công cụ nợ thời
hạn khác nhau; (ii) Các thông tin điều tiết thị trường là minh bạch và được
cam kết thực hiện. Thiếu điều này, sẽ không thể hình thành kỳ vọng của thị
trường - được coi là yếu tố quyết định tới hình dạng đường cong lãi suất.
Nếu nhìn vào các điều kiện này, khó có thể kết luận rằng đường cong lãi
suất ngân hàng của Việt Nam thời gian qua có xu hướng nằm ngang như đã
được mô tả. Trước hết, tỷ trọng các khoản tiền gửi trung và dài hạn là rất nhỏ (các
khoản vốn gửi thời hạn từ 2 năm trở lên trong hệ thống ngân hàng chỉ chiếm
khoảng 10% tổng số dư tiền gửi). Tới 90% các khoản tiền gửi có kỳ hạn

trong thời gian tới trước khi các chính sách giải phóng nguồn ngoại tệ (vì thế, mà nới
nguồn cung nội tệ) phát huy hiệu quả. Diễn biến này làm cho đường cong lãi suất ngân
hàng có xu hướng dốc lên. Tình trạng này xuất phát từ độ chênh lệch giữa tốc độ tăng
trưởng dư nợ tín dụng và tốc độ tăng trưởng huy động vốn và từ chênh lệch thời lượng
của bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại (NHTM). Nguyên do không chỉ
trực tiếp từ chênh lệch kỳ hạn các khoản tiền gửi và cho vay mà còn gián tiếp từ chất
lượng tín dụng thấp kéo theo tình trạng gia hạn nợ, giãn nợ hoặc nợ xấu làm tăng
“duration gap” của bảng cân đối. Trong thực tế, vấn đề này đôi khi đến từ các NHTM cổ
phần nhỏ vốn gặp khó khăn trong huy động vốn, buộc phải sử dụng công cụ duy nhất là
lãi suất và các phương tiện khuyến mãi để hấp dẫn người gửi tiền. Để ngăn cản luồng vốn
di chuyển, các ngân hàng lớn cũng buộc phải tăng lãi suất huy động. Kết quả là trào lưu
tăng lãi suất xảy ra không hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu vốn mà từ nhu cầu giữ khách
hàng. Thực trạng di chuyển vốn của khách hàng một cách dễ dàng từ ngân hàng này sang
ngân hàng khác phản ánh tình trạng không có sự khác biệt đáng kể về chất lượng, loại
dịch vụ và sản phẩm cũng như văn hóa phục vụ khách hàng giữa các ngân hàng. Tình
trạng thông tin thiếu minh bạch không cho phép khách hàng đánh giá mức độ rủi ro của
ngân hàng và vì thế, khách hàng có xu hướng kỳ vọng mức lãi suất như nhau cho các
ngân hàng khác nhau về mức rủi ro. Nhấn mạnh những lý do này để thấy rằng áp lực về
lãi suất không chỉ xuất phát từ nhu cầu vốn cho sản xuất, tiêu dùng mà còn đến từ các yếu
tố liên quan đến tình trạng độc canh tín dụng, công cụ cạnh tranh thiếu đa dạng và những
vấn đề liên quan đến khả năng thu hồi vốn.
Xét riêng nhu cầu tín dụng. Mặc dù, NHNN cam kết và có các động thái khá rõ nét để
duy trì mức tăng trưởng dư nợ tín dụng tối đa 20% cho năm 2011, đồng thời, với kiểm
soát chặt các khoản tín dụng phi sản xuất nhưng động lực gia tăng nhu cầu tín dụng là rất
mạnh. Trước hết, đặc điểm tăng trưởng nhờ vốn trong điều kiện hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư thấp làm cho nền kinh tế luôn khát vốn. Ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái
kèm theo làn sóng khủng hoảng nợ công làm cho các dòng vốn từ nước ngoài giảm sút
đáng kể. Nhu cầu phục hồi và duy trì mức tăng trưởng tới 6% năm 2011 chủ yếu trông
đợi vào nguồn vốn trong nước. Nếu nhìn vào sự thất bại liên tục của các đợt phát hành
trái phiếu và tình trạng thiếu thanh khoản của thị trường chứng khoán có thể thấy vốn tín

giá điện và nguồn nguyên liệu đầu vào tăng là các yếu tố làm tăng chi phí sản xuất và đẩy
giá cả hàng hóa lên.
Với xu hướng tổng cung như vậy, chỉ cần một lượng biến động nhỏ của tổng cầu,
giá cả cũng tăng rất mạnh. Lạm phát trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới xuất
phát từ nguyên nhân chi phí đẩy nhiều hơn là cầu kéo.Ba là, thị trường vàng và ngoại tệ
biến động phức tạp và vẫn chứng tỏ độ hấp dẫn của nó cho nhu cầu tích lũy tài sản của
công chúng và là nơi trú ẩn an toàn trong điều kiện lạm phát và những bất ổn vĩ mô mang
tính toàn cầu. Điều này làm cho cấu trúc lãi suất huy động không chỉ bao hàm tỷ lệ biến
động giá cả mà còn phải tính đến khả năng cạnh tranh đối với các khoản tiền gửi ngoại tệ
và mức độ biến động giá vàng của thị trường trong và ngoài nước. Các chiến dịch dẹp bỏ
thị trường kinh doanh ngoại tệ tự do, chấm dứt thị trường nợ vàng và hạn chế thị trường
nợ ngoại tệ có vẻ chưa đem lại kết quả theo ý muốn: tỷ lệ tăng tiền gửi ngoại tệ vẫn cao
gấp 4 lần tỷ lệ tăng tiền gửi nội tệ đến cuối tháng 6/2011. Nếu tính đến một phần tăng tiền
gửi nội tệ là do có sự di chuyển tiền gửi từ ngoại tệ sang thì mức tăng tiền gửi nội tệ mới
là rất nhỏ, mặc dù, mức thu nhập của tiền gửi nội tệ cao hơn nhiều so với mức thu nhập
từ tiền gửi ngoại tệ. Nguy cơ khủng hoảng nợ công ở Mỹ trong thời gian tới đang làm
cho giá USD Mỹ rớt nhanh chóng so với các ngoại tệ khác, tỷ giá giữa VND và USD có
thể khá ổn định cho đến cuối năm (nếu không tính đến sức ép từ các số liệu nhập siêu và
nhu cầu thanh toán hàng nhập thường vào cuối năm). Tuy nhiên, sự biến động của giá
vàng thế giới và trong nước trong thời gian tới bởi những bất ổn vĩ mô toàn cầu hoặc do
sự thay đổi cơ cấu dự trữ quốc tế của người khổng lồ Trung Quốc sẽ tạo lực hút mạnh đối
với các khoản tiền gửi ngân hàng. Lãi suất VND vì thế, có thể bước vào một làn sóng
cạnh tranh mới. (Hình 5&6)
Hình 6: Lãi suất VND và USD từ đầu 2010 đến 2011
Nguồn: Website của các NHTM mức lãi suất tiền gửi 12 tháng bình quân tháng của VND
và USD.
Không có sự khác biệt lớn giữa các mức lãi suất của các kỳ hạn khác nhau
Trong năm 2012, NHNN tiếp tục chủ trương áp dụng trần lãi suất huy động theo
hướng điều chỉnh giảm dần, phù hợp với các diễn biến kinh tế vĩ mô. Mặc dù chính sách
trần lãi suất là một chính sách còn mang tính hành chính nhưng việc áp dụng trần lãi suất

là 2%/năm; kỳ hạn từ một tháng đến dưới 12 tháng 8,8-9%/năm và từ 12 tháng trở lên là
10-12%/năm. Lãi suất huy động USD ổn định phổ biến ở mức 2%/năm đối với tiền gửi
của dân cư và 0,5%-1%/năm đối với tiền gửi của tổ chức kinh tế.
Nhưng Như một quy luật, cuối năm các ngân hàng lại tăng lãi suất huy động,
không chỉ lãi suất VND mà cả USD. Dù tín dụng khó khăn, nhiều ngân hàng kêu thừa
vốn thì vẫn có không ít ngân hàng tăng lãi suất huy động để hút vốn. Điều này có vẻ như
là một nghịch lý nhưng đối với nhiều chuyên gia đây vẫn là một bệnh cũ lặp đi lặp lại đó
là ‘thanh khoản” chưa được xử lý dứt điểm.
Tăng cả lãi suất USD và VND
Trong thời gian qua lãi suất huy động 1 tháng gần như đã mặc định ở mức 12%
cho khoản tiền gửi 500 triệu. Tuy nhiên, nay thì chỉ cần 100 triệu đã có thể được hưởng
mức này. Thậm chí, nếu khách hàng có tiền gửi lớn, nếu yêu cầu rút lãi vượt trội trước
cũng được các ngân hàng chấp nhận. Chỉ cần 500 triệu khách hàng đã có thể nhận lãi suất
13%. Mức 1 tỷ đồng có thể được hưởng lãi suất cao hơn. Nếu khách còn gửi tiền ở ngân
hàng khác mà có ý định chuyển sang thì ngân hàng sẽ hỗ trợ thủ tục chuyển tiền, thậm
chí cử nhân viên đi cùng để lấy tiền trực tiếp về hộ khách hàng. Ngoài số tiền trực tiếp
được hưởng từ lãi suất vượt trần từ ngân hàng thì các khách hàng có tiền còn được chăm
sóc trực tiếp bởi các nhân viên khai thác nguồn vốn với nhiều dạng khuyến mãi và thâm
chí là các nhân viên sẵn sàng chia thêm tiền thưởng doanh số cho khách hàng để có được
những nguồn tiền lớn, hay các quà tặng có giá trị. Đây dường như đã thành lệ. Càng gần
cuối năm các ngân hàng sẽ tăng lãi suất huy động để đảm bảo thanh khoản, đáp ứng cho
nhu cầu vốn tăng lên. Năm nay, tuy tín dụng tăng chậm nhưng đổi lại, không ít ngân hàng
vẫn gặp khó khăn thanh khoản do khó thu hồi nợ xấu cũ nên vẫn tiếp tục tăng huy động
vốn.
Không chỉ VND mà các ngân hàng cũng đang tăng huy động lãi suất đối với USD. Hiện
nay, trần huy động USD là 2% tuy nhiên các ngân hàng đã bắt đầu gia tăng lãi suất huy
động dần lên 2 - 4 thậm chí 5%. Theo nhiều khách hàng, chỉ cần gửi 20.000 USD thì
khách hàng hoàn toàn dễ dàng có được lãi suất 3%. Mức tiền gửi cao hơn sẽ được điều
chỉnh lãi suất thỏa thuận tăng lên.
Dường như việc tăng lãi suất vượt trần của các ngân hàng trong điều kiện tín dụng

Đứng đầu bảng lãi suất tiền gửi VND cao thuộc về ngân hàng Nam Việt
(NaviBank), với mức lãi suất là 12,5%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 12 tháng.
Ngân hàng Kiên Long (KienLongBank) áp dụng mức lãi suất mới từ ngày 24/12 ở
mức cao nhất là 12%/năm, cho kỳ hạn 12,18,24 tháng; 11%/năm cho kỳ hạn 36, 60 tháng.
Các kỳ hạn từ 1 tháng đến 11 tháng có mức lãi suất là 7,96%/năm (Lĩnh lãi cuối kỳ).
Tương tự tại Oceanbank, mức lãi suất cao nhất vẫn tiếp tục được áp dụng kể từ
ngày 24/12/2012 là 12%/năm, cho các kỳ hạn 12,13 tháng. Ở kỳ hạn 15,18,24, 36 tháng,
mức lãi suất là 11,5%/năm. Kỳ hạn từ 1 tháng đến 10 tháng, Oceabank điều chỉnh về mức
8%/năm.
Nhiều ngân hàng khác cũng giữ mức lãi suất cao từ 12%/năm ở các kỳ hạn dài,
như HDBank, Ngân hàng Phương Đông, ABBank, Baoviet Bank, Tienphong Bank,
ACB hiện có mức lãi suất huy động thấp nhất là 7,7%/năm, áp dụng cho các kỳ
hạn 3,4,6 tháng. Cao nhất là 12%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 36 tháng (lĩnh lãi cuối kỳ). Ở
kỳ hạn 12 tháng, ACB áp dụng mức lãi suất là 11%/năm.
Trước thời điểm 24/12, SeABank là một trong những ngân hàng có mức lãi suất
huy động cao nhất 12,5%. Hiện, lãi suất huy động tại SeABank lại được điều chỉnh giảm
về mức thấp nhất là 8%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 1,2,3,6,7,9 tháng; mức 11,6% áp dụng
cho kỳ hạn 12,13 tháng. Ở kỳ hạn 15,18,24 tháng là 11%/năm.
Nằm trong nhóm những ngân hàng có lãi suất cao trước thời điểm 24/12, Ngân
hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) cũng thực hiện giảm lãi suất tiền gửi VND
từ ngày 22/12. Theo đó, mức lãi suất cao nhất tại ngân hàng này hiện là 11%/năm, áp
dụng cho các kỳ hạn 12,13,18,24,36,48,60 tháng.
2.2 Nguyên nhân làm lãi suất tiền gửi tăng:
2.2.1 Cơ cấu tiền gửi của các ngân hàng thương mại chưa vững chắc
Phần lớn vốn sử dụng để cho vay của các ngân hàng là từ nguồn tiền gửi của các
tổ chức và tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Tiền gửi tiết kiệm tuy phải trả lãi suất cao hơn
nhưng đặc điểm của nguồn này có tính ổn định, vững chắc.
Năm 2006, thì 55,4% vốn huy động của các ngân hàng thương mại ở Hà Nội là
của các tổ chức kinh tế-xã hội và các định chế tài chính (không phải các tổ chức tín
dụng). Tỷ lệ này ở Tp.HCM là 51%.

cấu lại nợ nhưng vẫn không thanh toán được nợ. Nợ xấu cũng xuất hiện một số doanh
nghiệp xuất khẩu nhạy cảm với những biến động của thị trường. Bên cạnh đó nợ đọng
trong cho vay lĩnh vực bất động sản cũng không phải là ít
Tình hình này có thể cũng là một trong những nguyên nhân khiến các ngân hàng
tiếp tục tăng cường thu hút tiền gửi để bù đắp phần vốn đang nợ đọng và đảm bảo khả
năng thanh khoản của mình.
2.2.4 Lạm phát
Lạm phát cũng là một nguyên nhân cho việc tăng lãi suất huy động. Bởi lạm phát
cao, người gửi tiền thường có khuynh hướng đòi hỏi một mức lãi suất cao hơn và càng
đòi hỏi mức lãi suất cao ở những NH không có hoặc kém uy tín. Những người gửi tiền họ
cũng tính toán sao cho số tiền của mình gửi vào ngân hàng sẽ có lãi,chính vì thế mà lãi
suất tiền gửi cần phải tính toán tới yếu tố lạm phát.
2.2.5 Nhu cầu vốn ngày càng tăng và một số nguyên nhân khác
Nhu cầu vốn ngày càng gia tăng cũng là một trong những nguyên nhân gây nên
cơn sốt về lãi suất ,và hiện nay NH nhà nước đang oằn vai nhằm cung ứng vốn trung và
dài hạn cho các doanh nghiệp cũng là một nguyên nhân nữa.
Ngoài ra còn vì một số nguyên nhân như chỉ số giá tăng,tình trạng đô la hóa trong
nền kinh tế ngày càng mạnh
2.3 Ảnh hưởng của việc lãi suất tiền gửi tăng
2.3.1 Đối với ngân hàng
Khi lãi suất tiền gửi ngân hàng tăng sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc
điều chỉnh lãi suất cho vay,nếu lãi suất cho vay cao quá sẽ làm giảm lượng vốn vay,gây ứ
đọng vốn,thiệt hại tới kinh doanh của ngân hàng,nhưng nếu như để lãi suất thấp sẽ làm
giảm doanh thu của ngân hàng. Đặc biệt là rủi ro ngân hàng cũng gia tăng khi lãi suất
ngân hàng chạy theo lãi suất huy động. Chính vì vậy đây đang là bài toán khó đối với
ngân hàng trong thời gian qua.
2.3.2 Đối với cá nhân, doanh nghiệp vay vốn
Hiện nay các doanh nghiệp ở nước ta, nhất là các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản
xuất công nghiệp, doanh nghiệp gia công hàng xuất khẩu và làm hàng xuất khẩu, hoạt
động kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng. Vì vậy, lãi suất cho vay của các ngân

hàng mới. Thực hiện thăm dò ý kiến khách hàng, khắc phục nhược điểm, phát huy ưu
điểm, có biện pháp phục vụ tốt, thỏa mãn yêu cầu khách hàng. Từ đó hạn chế các NHTM
đua nhau tăng lãi suất tiền gửi để huy động vốn cho những năm tới.
3.2 Kiến nghị đối với các cơ quan có liên quan
3.2.1Kiến nghị đối với Nhà Nước
+Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của
ngân hàng. Nó tạo điều kiện thuận lợi nhưng cũng gây không ít khó khăn, cản trở công
tác huy động vốn. ổn định kinh tế vĩ mô là thành quả của sự phối hợp nhiều chính sách
như: chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách đối ngoại trong đó chính sách
tiền tệ có vai trò quan trọng đối với ngân hàng.
Đối với nền kinh tế hiện nay một trong những nội dung của việc tạo lập kinh tế vĩ
mô chính là việc: chống lạm phát, ổn định tiền tệ. Nó chính là điều kiện cần thiết cho việc
thực hiện các giải pháp có hiệu quả. Thực tế đã chứng tỏ rằng, Nhà nước và các ngành
trong đó trước hết là NHNN đã thành công trong việc tạo lập và duy trì ổn định tiền tệ.
NHNN bắt đầu sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô có
hiệu quả, tỷ lệ lạm phát hợp lý. Đây là điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các giải
pháp có hiệu quả. Trong giai đoạn tới, một trong những giải pháp ổn định chủ yếu là phải
kiểm soát và điều chỉnh cơ cấu đầu tư sao cho nền kinh tế tăng trưởng cao trong thế ổn
định, bền vững. Đồng thời cũng là điều kện phát huy tác dụng của chính sách tiền tệ
trong việc điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông, mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền
cung ứng cho phù hợp với các mục tiêu và sự biến động của nền kinh tế.
+ Tạo môi trường pháp lý.
Việc ban hành một hệ thống pháp lý đồng bộ và rõ ràng không chỉ tạo niềm tin cho
dân chúng mà những quy định, khuyến khích của nhà nước sẽ tác động trực tiếp đến việc
điều chỉnh tiêu dùng và tiết kiệm, chuyển một bộ phận tiêu dùng chưa cần thiết sang đầu
tư, chuyển dần tài sản cất giữ từ vàng, ngoại tệ hoặc bất động sản sang đầu tư trực tiếp
vào sản suất kinh doanh hoặc gửi tiền vào ngân hàng. Nhà nước nên có những chính sách
khuyến khích người dân tiết kiệm hơn nữa nhưng trước hết các cơ quan nhà nước phải là
người đi đầu trong công tác này. Hệ thống ngân hàng được coi là mạch máu của nền kinh

việc huy động vốn trong điều kiện kinh tế ổn định, giá cả ít biến động.
Sử dụng chính sách lãi suất hợp lý sẽ thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã
hội, kích thích các tổ chức kinh tế sử dụng nguồn vốn có hiệu quả trong hoạt động sản
xuất kinh doanh. Chính sách lãi suất phải được xây dựng trên cơ sở kế hoạch và thực tiễn
phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ.
Để giúp cho ngân hàng có được lãi suất hợp lý, thu hút được nhiều nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân cư đồng thời đẩy mạnh chính sách cho vay mang lại lợi nhuận cho
ngân hàng, giảm khối lượng tiền trong lưu thông NHNN phải sử dụng linh hoạt chính
sách lãi suất trong quản lý hoạt động kinh doanh của các NHTM, chuẩn bị các điều kiện
để áp dụng chính sách lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu vì đây là điều kiện chủ yếu tác
động vào việc thực hiện chính sách lãi suất của NHTM.
- Chính sách tỷ giá
Khi tỷ giá biến động nhanh thì mặc dù lãi suất ngoại tệ có hạ xuống và lãi suất nội
tệ đang ở mức khá cao thì nguồn huy động VND cũng không tăng trưởng đáng kể. Trong
điều kiện đó, doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn lại chuộng nội tệ hơn. Điều này gây áp
lực lớn lên thị trường và làm cho việc khan hiếm nội tệ thêm căng thẳng. Cũng do tỷ giá
biến động nhanh khiến cho ngân hàng tối đa hoá trạng thái ngoại hối của mình. Và cũng
như vậy các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân dè dặt trong việc chuyển đổi ngoại tệ
của họ thành nội tệ. Do đó sẽ gây khó khăn cho các NHTM khi huy động bằng nội tệ trừ
khi chính phủ có chính sách bình ổn tỷ giá. Nếu tỷ giá ổn định thì các NHTM sẽ huy
động được nhiều nội tệ mà không phải tăng lãi suất.
-Mở rộng mức bảo hiểm tiền gửi
Trong cơ chế thị trường, việc lỗ lãi trong hoạt động kinh doanh là một tất yếu. Nếu
ngân hàng hoạt động tốt, kinh doanh có lãi thì sẽ có nhiều khách hàng gửi tiền. Ngược lại
nếu ngân hàng làm ăn không tốt sẽ gặp rủi ro, bất chắc trong hoạt động kinh doanh, điều
đó sẽ ảnh hưởng đến việc gửi tiền và rút tiền ở ngân hàng.
Do đó để người gửi tiền thực sự yên tâm khi gửi tiền vào ngân hàng, các NHTM
đã tham gia bảo hiểm tiền gửi và cần tiếp tục hoạt động này. Tuy nhiên mức bồi thường
thiệt hại rủi ro tiền gửi vẫn chưa thoả đáng.
Như vậy sẽ không kích thích khách hàng có cơ số tiền lớn gửi vào ngân hàng.

Khó khăn thanh khoản không chỉ được thể hiện qua con số về tỉ lệ tín dụng trên
tổng huy động mà còn biểu hiện thông qua lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Thanh
khoản kém trong hệ thống ngân hàng khiến các ngân hàng phải đi vay để tài trợ cho các
khoản tín dụng, từ đó, cùng với chính sách tiền tệ được điều chỉnh theo hướng thắt chặt
và mức lạm phát cao đã đẩy mặt bằng lãi suất, cả lãi suất huy động và cho vay lên rất
cao. Hơn nữa trần lãi suất cho vay được thả trong khi áp đặt trần lãi suất huy động càng
đẩy tỉ lệ tín dụng trên tổng huy động lên mức rủi ro hơn nữa.
Ngoài ra, thanh khoản kém còn được thể hiện ở việc các mức lãi suất trong ngắn
hạn cũng bị đẩy cao và thậm chí xấp xỉ mức lãi suất tiền gửi dài hạn. Thông thường mức
lãi suất trong dài hạn (12 tháng trở lên) luôn cao hơn trong ngắn hạn (một tháng, ba
tháng, sáu tháng). Tuy nhiên, trên thị trường liên ngân hàng của Việt Nam những tháng
đầu năm 2011 thì diễn biến các mức lãi suất này lại ngược lại. Mức lãi suất tiền gửi kỳ
hạn 12 tháng khá sát và thậm chí có lúc thấp hơn mức lãi suất đối với kỳ hạn ba tháng.
Sai lệch kép
Sự gần nhau của các mức lãi suất này không chỉ phản ánh tính thanh khoản kém
của hệ thống ngân hàng mà còn hàm ẩn rủi ro sai lệch cơ cấu thời hạn. Khi các mức lãi
suất gần bằng nhau trong điều kiện lạm phát cao ở Việt Nam hiện nay thì người gửi tiền
sẽ có xu hướng chuyển sang các khoản gửi ngắn hạn để giảm rủi ro lãi suất. Khả năng
huy động được tiền gửi dài hạn giảm đi đồng nghĩa với nguồn huy động ngắn hạn tài trợ
cho các khoản tín dụng dài hạn sẽ tăng lên, từ đó đẩy rủi ro sai lệch cơ cấu thời hạn của
ngân hàng lên cao, đặc biệt trong tình trạng của Việt Nam khi hệ thống ngân hàng từ
trước đến nay vốn đã có tỉ lệ tiền gửi ngắn hạn và không kỳ hạn sử dụng cho vay dài hạn
cao (năm 2008, con số này ở mức 75% theo Lê Vân Anh (2008)).
Ngoài ra, mức lãi suất quá cao cũng hàm ẩn rủi ro khi theo lý thuyết về phần bủ rủi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status