Tìm hiểu về thị trường chứng khoán Mỹ
VASC, 27/08/2002, 15h45
Xin giới thiệu cùng bạn đọc những bài viết về thị trường chứng khoán
Mỹ của Tiến sĩ Tôn Thất Đán, chuyên gia tư vấn kinh tế quốc tế.
Tiến sĩ Tôn Thất Đán, tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học danh tiếng Paris -
Sorbone (Pháp), đồng thời cũng là cử nhân luật chuyên ngành kinh tế
chính trị, quan hệ đối ngoại, quản trị kinh doanh> Tiến sĩ đã từng tham
gia giảng dạy tại Đại học Moncton, Đại học Laval, Đại học Montreal
(Canada) và tại các trường đại học khác ở nhiều nước. Tiến sĩ đã giữ
các vị trí quan trọng trong giới quản trị quỹ đầu tư tại New Brunswick
(Canada), đặc biệt là Quỹ NB Investment Management Corporation với
hơn 6 tỷ USD tài sản.
Sau nhiều năm nghiên cứu và hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán,
Tiến sĩ Tôn Thất Đán đã viết cho độc giả những kiến thức và kinh
nghiệm quý báu về thị trường chứng khoán. Những bài viết này của
Tiến sĩ Tôn Thất Đán sẽ cung cấp cho độc giả những nguyên tắc và hoạt
động cơ bản của thị trường chứng khoán Mỹ - thị trường tiêu biểu, lớn
nhất và điển hình cho tất cả các thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán Mỹ: Phản ánh của tiến bộ kinh tế
VASC, 03/08/2002, 14h15
Thị trường chứng khoán là một mạng lưới người mua và người bán cổ phần
sở hữu công ty. Tại Mỹ có 3 thị trường chứng khoán chính là thị trường
chứng khoán New York, thị trường chứng khoán Amex và thị trờng chứng
khoán NASDAQ (Hiệp hội những nhà môi giới kinh doanh chứng khoán yết
giá tự động). Cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm giám sát và hoạch định
chính sách liên quan đến các giao dịch chứng khoán là SEC (Uỷ ban Chứng
khoán và Giao dịch).
Thông thường, thị trường chứng khoán là một địa điểm giao dịch, nơi người
bán và người mua cổ phiếu có thể một cách trược tiếp thương lượng mua
bán với nhau, như thị trường Wall Street, tại New York; thị trường Bay
Street, ở Toronto, Canada; tại thị trường chứng khoán London, thị trường
Tuy nhiên, cho dù bất ổn thế nào, thị trường chứng khoán vẫn là một cơ chế
kỳ hạn phức tạp và hữu ích. Một nhà quan sát kinh tế ưu tú không thể bỏ qua
mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán và nền kinh tế. Thực tế, những mô
hình kinh tế của các nền công nghiệp hiện đại đều bao gồm ít nhất 1 chỉ số
chứng khoán với tư cách là một chỉ số kinh tế dự đoán (leading economic
indicator). Tại Mỹ, chỉ số Standard and Poor 500 được sử dụng như là một
chỉ số dự đoán hàng đầu của Chính phủ nước này. Tại Canada, chỉ số TSE
300 của thị trường chứng khoán Toronto cũng được sử dụng như một chỉ số
dự đoán chính thức của nền kinh tế Canada.
Thị trường chứng khoán là kết quả cuối cùng của quyết định chung giữa
người bán và người mua cổ phiếu, ảnh hưởng mức độ của các hoạt động
kinh tế. Ngoài ra, còn có mối liên hệ giữa biến động trong đầu tư và biến
động trên thị trường chứng khoán. Giá cổ phiếu phản ánh những cơ hội của
nền kinh tế đối với đầu tư. Giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi có nhiều cơ
hội đầu tư sinh lợi nhuận trong nền kinh tế. Điều ngược lại cũng đúng, nghĩa
là khi cơ hội đầu tư giảm hoặc bị đe dọa, hoặc được nhận xét như vậy, giá
chứng khoán có xu hướng giảm. Số liệu công bố hàng quý của Mỹ cho thấy,
sự biến động theo năm của chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones phản
ánh những thay đổi hàng năm trong tổng sản phẩm quốc gia thực tế. Nhà
kinh tế Mỹ đoạt giải Nobel, James Tobin, đã đề xuất là, các công ty nên đưa
ra quyết định đầu tư dựa vào một tỷ lệ (sau này nổi tiếng là chỉ số q của
Tobin) được định nghĩa là kết quả của việc định giá của thị trường chứng
khoán về nguồn vốn hiện tại so với chi phí thay thế của nguốn vốn này.
q = Giá trị thị trường của nguồn vốn hiện tại/Chi phí thay thế của nguồn vốn
hiện tại
Trong công thức trên của Tobin, giá trị thị trường của nguồn vốn hiện tại do
thị trường chứng khoán quyết định trong khi chi phí thay thế của nguồn vốn
hiện tại là giá của nguồn vốn nếu nó được bán đi trong ngày hôm nay.
Đầu tư nên dựa vào việc so sánh giá trị q với 1. Nếu q lớn hơn 1, thị trường
chứng khoán định giá nguồn vốn cao hơn chi phí thay thế của nó. Trong
giá rất cao. Điều ngược lại cũng không sai khi dự đoán có tác động tiêu cực.
Tuy nhiên, về dài hạn, dự đoán nhất thiết phải đáp ứng được với thực tế. Vì
vậy, trong khi thị trường chứng khoán có thể là cơ chế dự đoán trước sự kiện
kinh tế trong tương lai thì trong ngắn hạn, nó lại trở nên vô cùng biến động.
Khi một người quyết định mua cổ phiếu, người này dự đoán sẽ thu lợi nhuận
từ khoản tiền người ấy bỏ ra, dưới dạng lên giá vốn hoặc dưới dạng hưởng
nhận cổ tức (phần lợi nhuận mà công ty chia cho các cổ đông), hoặc cả hai.
Cả hai trường hợp sẽ chỉ xảy ra trong tương lai.
Người mua cổ phiếu là người mong đợi; họ không chỉ trông chờ ở nơi giá trị
hiện tại của cổ phiếu mà chủ yếu là mong đợi thu nhập tương lai từ cổ phiếu
này sinh ra. Một cổ phiếu có thể có giá trị hiện tại cao hơn nếu công ty chia
tách ra từng mảnh và được bán đi như những phần tài sản riêng biệt; nhưng
giá trị thị trường hiện tại của cổ phiếu đó có thể thấp hơn nhiều so với giá trị
của tổng tài sản, nếu những tài sản này được ngay lập tức bán cùng một lúc.
Đó là trường hợp của những công ty sản xuất ô tô Mỹ cuối những năm 1970
sau cuộc khủng hoảng năng lượng. Giá cổ phiếu của một công ty như
Chrysler đã được bán trên thị trường với giá bằng 1/3 giá trị của nó, nếu tính
theo giá trị trong trương hợp khi công ty nầy được chia nhỏ và bán đấu giá
ngay lúc ấy.
Khi thông tin thị trường được cập nhật hàng ngày hoặc thậm chí từng phút
trong ngày, dự đoán được điều chỉnh theo tính sẵn có của thông tin. Vì vậy,
nếu tất cả người tham gia trong thị trường được thông tin hoàn hảo và đều
nhạy bén trong việc dự đoán xu hướng của mỗi công ty trong tương lai thì
thị trường chứng khoán sẽ trở thành một cơ chế dự đoán hoàn hảo. Tuy
nhiên, thực tế không hoàn thiện như vậy.
Thị trường chứng khoán cho phép người mua và người bán phương tiện sản
xuất có thể thuận tiện liên lạc với nhau. Các công ty hoặc các cá nhân cần
vốn để đầu tư cho kinh doanh và những người tiết kiệm không biết làm gì
với khoản tiền của mình cần một địa điểm và một mạng lưới tổ chức tốt để
gặp gỡ vay mượn. Thị trường chứng khoán là câu trả lời cho nhu cầu này.
Do thị trường chứng khoán cần tính thanh khoản và chiều sâu, những công
ty danh tiếng niêm yết cổ phiếu trên một thị trường chứng khoán danh tiếng
cần phải có những chuyên gia có nhiệm vụ đảm bảo rằng bất kỳ lệnh bán
hoặc mua nào, một vài cổ phiếu hay hàng triệu cổ phiếu đều được thực hiện
ngay lập tức. Và điều đó cũng có nghĩa rằng ngay khi giây lệnh chạm sàn
giao dịch chứng khoán, lệnh đó ngay lập tức được thực hiện và báo cáo.
Thực tế là giá chứng khoán thay đổi trong mỗi giao dịch trong ngày, với một
khối lượng lớn giao dịch là cơ hội kiếm lời của các nhà hoạt động chứng
khoán có thông tin đầy đủ. Thực tế này cũng làm nảy sinh tư tưởng cờ bạc
trong thị trường chứng khoán. Do đó cũng không quá cường điệu khi nói
rằng, những biến động ngắn hạn của thị trường chứng khoán cũng giống như
một hình thức đánh bạc.
Đầu cơ có vẻ như là bản chất bất di bất dịch của một thị trường chứng
khoán. Chừng nào đầu cơ có giới hạn, cũng giống như mức ô nhiễm thấp
trong không khí mà chúng ta hàng ngày vẫn hít thở, nó sẽ không gây hại.
Đầu cơ là một cách để chia sẻ rủi ro thị trường cho tất cả những người tham
gia: các nhà đầu tư dài hạn, những nhà kinh doanh ngắn hạn và các nhà đầu
cơ. Nhà đầu tư trong thị trường chứmg khoán, nói chung là người vạch ra kế
hoạch thu lợi từ thị trường chứng khoán. Nhà đầu tư dài hạn là người mua cổ
phiếu bằng nguồn lực tài chính của mình trong một thời gian dài nhằm góp
phần tạo ra của cải cho xã hội. Các nhà môi giới là người góp phần giúp thị
trường hoạt động hiệu quả hơn, làm tăng tính thanh khoản và chiều sâu của
thị trường này. Nhà đầu cơ là người chỉ lợi dụng những điểm yếu của thị
trường và ít khi cung cấp một dịch vụ nào, trừ việc chia sẻ rủi ro mà nhờ đó
sinh ra cơ hội kiếm lời.
Một ví dụ của việc chia sẻ rủi ro trong việc quản lý Quỹ trợ cấp, là công cụ
bình ổn giá cả cho những người sản xuất nông nghiệp: công cụ này có thể
bảo vệ tài sản trong ngắn hạn trước biến động giá cả bằng cách đặt cược
mức giá cổ phiếu mà họ đang sở hữu. Ví dụ, Quỹ có thể cần 100 triệu USD
trong vòng 12 tháng tới để trả lợi tức cho những người nghỉ hưu. Nếu quỹ
Các quy tắc cũng được thiết lập mà không ưu tiên cho bất kỳ nhóm đầu tư
nào. Bất kỳ thông tin liên quan nào cũng được công bố rộng rãi và tất cả đều
có cơ hội tiếp cận chúng. Nếu bạn biết thu thập tất cả thông tin liên quan và
biết cách phân tích chúng để ra quyết định, xác suất thắng cuộc chắc chắn sẽ
nghiêng về phía bạn.
Tuy nhiên, còn đó hai vấn đề: a) làm thế nào và lấy thông tin ở đâu (thực tế
này không phổ biến cho lắm) và b) làm gì với thông tin nhận được. Nếu biết
cách phân loại, lựa chọn và xử lý một khối lượng lớn thông tin, bạn có thể
hành động trong thị trường chứng khoán như một chủ sòng bạc như đã đề
cập ở trên. Mặt khác, nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán mà không quan
tâm đến việc thu thập thông tin hoặc không biết cách phân tích thông tin, họ
có xu hướng hành động như người chơi bạc: xác suất thắng của họ cũng
chẳng hơn những kẻ đánh bạc. Tuy nhiên, thực tế là trong khi nhiều sòng
bạc kiếm được tiền, thì một số vẫn thua lỗ, ít nhất là tạm thời, khi một số
khách hàng của họ gặp hên, hoặc do kết quả của việc quản lý yếu kém của
sòng bạc.
Chơi bạc như một người chủ sòng bạc hay trên thị trường chứng khoán đều
đi kèm với rủi ro. Tuy nhiên, tỷ lệ được, mất đều phụ thuộc vào hiểu biết của
nhà đầu tư chứng khoán, cũng như người chủ sòng bạc.
Kinh doanh chứng khoán là một nghề rủi ro
Trong lý thuyết tài chính và kinh tế, giả thuyết nổi tiếng là thị trường chứng
khoán là một quy trình ngẫu nhiên, đó là giả thuyết Bước Đi Ngẫu Nhiên
(Random Walk). Theo giả thuyết này, thị trường chứng khoán là kẻ chiết
khấu những sự kiện tương lai rất hiệu quả, vì vậy, giá chứng khoán hiện tại
luôn phản ánh lợi nhuận tương lai, do đó, không ai có thể kiếm lời với một
tỷ suất lợi nhuận liên tục quá cao trong thời gian dài. Không ai có thể phủ
nhận thực tế rằng, thị tường chứng khoán là một kẻ chiết khấu những cơ hội
của tương lai.
Thực tế, thị trường chứng khoán cung cấp những tín hiệu đầu tiên của bất kỳ
một cuộc suy thoái kinh tế nào trong lịch sử. Cuộc suy thoái hiện tại cũng
một nhà kinh doanh chứng khoán ngắn hạn kỳ tài. Ông thậm chí còn kiếm
lời cho trường đại học của mình khi đầu tư ngắn hạn vào một quỹ thừa kế
bằng cách tăng giá trị của quỹ lên 10 lần dưới sự quản lý của ông.
Nhà kinh tế người Mỹ Bernard Baruch, thế kỷ 20 cũng là một trong những
người nổi tiếng trong giới đầu tư chứng khoán. Ông cũng nổi tiếng vì đã
cứu Thủ tướng Anh, Winston Churchill, khỏi phá sản do không hiểu biết về
thị trường chứng khoán. Winston Churchill, một chính khách vĩ đại, thủ lĩnh
của nước Anh trong Đại chiến thế giới thứ 2 đã có dịp trở thành nạn nhân
của việc đầu cơ chứng khoán. May thay, ông đã kể chuyện mua bán của
mình cho người bạn Bernard Baruch; ông này rất ngưỡng mộ Churchill như
một nhà lãnh đạo chính trị nhưng không tin tưởng vào khả năng đầu tư
chứng khoán của bạn mình. Khi Churchill kể cho Baruch về việc mua quá
nhiều một loại cổ phiếu, Baruch đã bù đắp lại khoản tiền mua này ày bằng
cách bán một khối lượng tương tự loại cổ phiếu trên. Sau đó, khi thị trường
sụp đổ, ông Baruch đã lấy lại được đúng khoản tiền mà nhà chính khách
Anh đã bỏ ra để mua loại cổ phiếu mà sau đó đã trở thành vô giá trị.
Ngày nay, nhà đầu tư chứng khoán George Soros là một tỷ phú (bằng USD)
nổi tiếng vì sự sắc sảo trong đầu tư, không chỉ trên thị trường chứng khoán
mà còn trong những lĩnh vực đầu tư khác. Tỷ suất thu nhập dài hạn của quỹ
tương hỗ của ông ta lên tới gần 30% hàng năm trong nhiều thập niên liên
tiếp trở lại đây. Ông ta cũng nổi tiếng là nhà kinh doanh khôn ngoan trong
giao dịch ngoại hối và một số lĩnh vực khác. Tuy vậy, cũng có khi ông ta
thua lỗ hàng trăm triệu USD.
Warren Buffet là một nhà tỷ phú khác của Mỹ và có thể là nhà đầu tư chứng
khoán thành công nhất trong lịch sử chứng khoán hiện đại. Chèo lái con
thuyền Berkshire Hathaway, một công ty đầu tư, ông ta đã biến khoản vốn
nhỏ đi vay từ đầu những năm 1960 thành một khoản đầu tư hàng tỷ USD và
thậm chí đã tránh được hàng loạt rủi ro đầu tư. Ông cũng nổi tiếng là một
nhà đầu tư chứng khoán giàu có nhất trên thế giới. Tài sản cá nhân của ông
có thể ước đoán bằng số cổ phiếu mà ông nắm giữ tại tập đoàn Berkshire và
những nền kinh tế phát triển luôn luôn đạt được một tỷ suất thu nhập hấp
dẫn. Một tỷ suất thu nhập không nhất thiết làm cho bạn trở nên giàu có trong
một đêm, nhưng nó nhất thiết cao hơn tỷ lệ lạm phát dài hạn, hoặc tỷ suất
thu nhập trái phiếu hoặc của kim loại quý.
Thực tế này đã được kiểm chứng trong lịch sử và không chỉ đúng với nền
kinh tế Mỹ trong thế kỷ 20 mà còn luôn luôn đúng trong quá khứ của những
nền công nghiệp hiện đại. Đối với thị trương Mỹ, sự kiện nầy có thể được
kiểm chứng dùng một số chỉ số đại diện cho thị trường Mỹ. Những chỉ số
nổi tiếng thi trường chứng khoán Mỹ là:
Chỉ số NASDAQ
Chỉ số thị trường chứng khoán New York, chỉ số của tất cả các loại cổ phiếu
giao dịch trên thị trường Wall Street
Chỉ số Standard and Poor 500
Chỉ số trung bình Dow Jones, chỉ số lâu đời nhất và nổi tiếng nhất.
Chỉ số Dow Jones ban đầu chỉ là trung bình cộng giá cổ phiếu của 65 tập
đoàn lớn giao dịch trên thị trường Mỹ: 30 công ty trong ngành công nghiệp,
20 công ty trong ngành vận tải và 15 công ty trong ngành dịch vụ công cộng.
Chỉ số NASDAQ, một phần lớn đánh gía hoạt động của lĩnh vực công nghệ
cao tại Mỹ là chỉ số mới nhưng ngày càng có tầm quan trọng tính về khối
lượng và giá trị trong mấy năm gần đây. Tuy nhiên chỉ số chứng khoán lâu
đời và nổi tiếng nhất tại Mỹ là chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones,
đánh giá giá trị trung bình cổ phiếu của 30 công ty công nghiệp hàng đầu
của Mỹ. Chỉ số này có lịch sử lâu đời từ thế kỷ 19. Trong hai thập niên vừa
qua, tỷ suất lợi nhuận của những loại cổ phiếu hàng đầu này là trung bình
trên 18%, trong đó gồm cả lợi tức và tăng giá vốn. Nguyên nhân lý giải cho
tỷ suất cao kỷ lục này là nền kinh tế Mỹ trải qua một giai đoạn phát triển dài
từ đầu những năm 1980, với một năng suất lao động thần kỳ. Lịch sử cho
thấy, kinh tế Mỹ có xu hướng rơi vào suy thoái kinh tế với chu kỳ từ 3 đến 5
năm. Từ năm 1980 kinh tế Mỹ đã trải qua 4 cuộc suy thoái: 1980, 1981-
1982, 1990 và cuộc suy thoái hiện nay. Cuộc suy thoái năm 1990 khá nhẹ
Một trong những cách ước lượng tổng tỷ suất lợi nhuận dài hạn của chứng
khoán Mỹ (bao gồm lợi tức và tăng giá vốn) là nghiên cứu hoạt động của chỉ
số Dow Jones 30. Bằng cách tính toán đơn giản, chúng ta có thể ước tính tỷ
suất lợi nhuận của thị trường chứng khoán tại từng thời điểm. Kết quả rất
khác nhau phụ thuộc vào thời gian, ngắn hay dài, nắm giữ cổ phiếu và sự
tăng trưởng của nền kinh tế. Giai đoạn từ đầu năm 1967 đến cuối 2001 (35
năm) vượt qua một thời kỳ trì trệ khá lâu 1966-1982 (kinh tế suy thoái và
lạm phát tăng vọt). Mặc dù trong thời kỳ 15 năm này, kinh tế hoạt động kém
hiệu quả, danh mục chỉ số Dow Jones 30 vẫn đạt được một tỷ suất lợi nhuận
cao là 11%/ năm (bao gồm lợi tức và tăng giá vốn). Cổ tức trả hàng năm của
các cổ phiếu Dow Jones 30 tăng dần theo từng năm, vì vậy, nếu so sánh với
số vốn đầu tư ban đầu, riêng cổ tức đã đạt được mức 14%. Vì vậy, bạn càng
giữ được những cổ phiếu hàng đầu trong thời gian dài, bạn càng có nhiều cơ
hội gặt hái nhiều lợi tức, và khoản này cao hơn nhiều so với thu nhập cố
định từ các phương thức đầu tư khác như trái phiếu hay chứng khoán ký gửi.
Hình thức chứng khoán ký gửi có thể đảm bảo về danh nghĩa khoản vốn đầu
tư của bạn nhưng không đảm bảo sức mua thực tế: nếu tính toán cả mức lạm
phát, sức mua của khoản vốn ban đầu sẽ phải trừ đi tỷ lệ lạm phát.
Một thực tế được kiểm nghiệm trong nền kinh tế Mỹ và ở bất kỳ nền công
nghiệp phát triển nào là một danh mục đa dạng cổ phiếu mang lại biện pháp
bảo vệ hữu hiệu hơn, chống lại sự mất giá của đồng tiền, với tỷ suất lợi tức
cao hơn so với thu nhập cố định từ trái phiếu và những hình thức thu nhập
cố định khác. Một lý do của sự ưu việt này là thu nhập từ cổ phiếu và thu
nhập cố định rất khác nhau, và hơn nửa bản chất con người không thích sự
bất ổn khi xét về lợi ích thu được. Điều này đã lý giải phần thưởng mà thị
trường dành cho các cổ đông vì họ là những người chấp nhận tính bất ổn
của thu nhập cổ phiếu. Cổ tức chỉ được thanh toán cho cổ đông khi doanh
nghiệp có lãi, trong khi tiền lãi của trái phiếu phải được trả bất chấp doanh
nghiệp đó có sinh lợi hay không. Nếu không trả được lãi của trái phiếu của
mình, doanh nghiệp đó coi như đã đứng trên bờ vực phá sản. Thậm chí,
Jones đã biến động quan hệ với bối cảnh kinh tế thay đổi của Mỹ. Tuy
nhiên, chúng ta có thể điều chỉnh để phản ánh trung thực hơn danh mục đầu
tư trên. Đặc biệt trong những năm gần đây, những công cụ tài chính mới và
thuận tiện đã được thành lập và giới thiệu trong giới đầu tư nhằm phản ánh
hoạt động của một số chỉ số thị trường, trong đó có chỉ số Dow Jones 30.
Trong vòng 10 năm qua, tính đến 31/1/ 2002, theo báo cáo chính thức của
Công ty Dow Jones, chỉ số công nghiệp Dow Jones đạt trung bình tỷ suất
lợi nhuận là 16,12%/năm.
Hiệu quả của việc tạo ra của cải của thị trường chứng khoán được Ban quản
lý của Quỹ thừa kế của Giải thưởng tài năng Nobel hiểu rõ hơn ai hết. Trong
những năm đầu, việc quản lý vốn đòi hỏi an toàn và do đó, Quỹ chỉ đầu tư
vào trái phiếu và những thu nhập cố định có đảm bảo. Kết quả là giải thưởng
Nobel được trao trong những năm đầu phải mất nhiều thời gian để đối phó
với vấn đề lạm phát. Sự đổi hướng trong chính sách đầu tư cho phép quỹ này
có thể đầu tư vào cổ phiếu. Kết quả là quỹ này đã có thể tăng giải thưởng
hàng năm từ mức 40.000 USD trong những năm 1960 lên tới hàng triệu
USD như ngày nay.
Chính sách đầu tư ở những thể chế danh tiếng trong lĩnh vực công cộng cũng
như trong khu vực tư nhân ở Bắc Mỹ đã khéo dùng những công cụ đầu tư đa
dạng, trong đó có tham gia vao việc duy trì tỷ số lớn các cổ phiếu cúa thị
trường chứng khoán Mỹ. Kết quả của chính sách này đã đem lại một khả
năng thích hợp hơn về tìm năng trợ cấp và lợi tức khác của các thể chế ấy
cho nhân công của họ.
Chỉ số và tín hiệu của thị trường chứng khoán
VASC, 03/08/2002, 14h15
Bản chất của thị trường chứng khoán là một sinh hoạt rất cầu kỳ, đặc biệt
trong những nền công nghiệp hiện đại, cho phép giao dịch một khối lượng
lớn cổ phiếu do hàng loạt các công ty hoạt động trong tất cả các lĩnh vực của
nền kinh tế phát hành: mỗi ngày diễn ra hàng loạt giao dịch trên sàn chứng
khoán, với một giá trị hàng tỷ USD Mỹ vượt qua biên giới mọi quốc gia.