câu hỏi ôn tập môn lịch sử hành chính - Pdf 14

Câu hỏi ôn tập lịch sử hành chính
Câu 1: Trình bày những cơ sở của sự hình thành nền hành chính đầu tiên ở n ớc ta thời đại Hùng V ơng - An D ơng V ơng?
Trả lời:
Nhà nớc là một phạm trù lịch sử của xã hội có giai cấp. Điều kiện quan trọng số một để nhà nớc có thể ra đời đợc là trên cơ sở sản xuất phát
triển dẫn đến tình trạng phân hoá xã hội. Nhà nớc ra đời là sản phẩm tất yếu của một xã hội mà mâu thuẫn không thể điều hoà đợc. Đây là
một quy luật chung của tất cả các nhà nớc trên thế giới, không loại trừ bất cứ một quy luật nào cả. Và nhà nớc Văn Lang ra đời cũng không
nằm ngoài quy luật đó.
Công xã nông thôn là một hình thái kinh tế xã hội xuất hiện phổ biến vào giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ và quá độ sang xã
hội có giai cấp, là một trong những tiền đề cho sự hình thành nhà nớc.
-Thời Hùng Vơng sức sản xuất phát triển đã gây ra nhiều biến động xã hội và đa đến tình trạng phân hoá xã hội rõ nét vào giai đoạn văn hoá
Đông Sơn. Lúc này đã có kẻ giàu, ngời nghèo và tình trạng bất bình đẳng đã in đậm trong khu mộ táng hay truyền thuyết dân gian và th tịch
cổ. Tuy nhiên, nó vẫn cha thật cao, cha thật sâu sắc nhng nó đã tạo ra một cơ sở xã hội cần thiết cho quá trình hình thành nhà nớc Văn Lang.
-Nhân tố thuỷ lợi và tự vệ cũng đã đóng vai trò rất quan trọng đa đến sự hình thành lãnh thổ chung và tổ chức nhà nớc đầu tiên vào thời Đông
Sơn. Khi con ngời tiến xuống khai phá vùng đồng bằng Sông Hồng và chọn thì uy tín và vai trò của Thục Phán - ng ời thủ lĩnh kiệt xuất của
liên minh ngày càng đợc nâng cao. Kháng chiến thắng lợi, Thục Phán đã thay Hùng Vơng tự xng là An Dơng Vơng lập ra nớc Âu Lạc.
Tên nớc Âu Lạc bao gồm hai thành tố Tây Âu (Âu Việt) và Lạc Việt, phản ánh sự liên kết của hai nhóm ngời Lạc Việt và Tây Âu. Nớc Âu
Lạc là bớc kế tục và phát triển cao hơn của nớc Văn Lang và tên một phạm vi rộng lớn hơn. Tổ chức bộ máy nhà nớc và các đơn vị hành
chính thời Âu Lạc vẫn không có gì thay đổi so với thơì Văn Lang.
Đứng đầu nhà nớc là Thục Phán An Dơng Vơng. Dới đó, trong triều vẫn có lạc hầu giúp vua cai quản đất nớc. ở các địa phơng (bộ) vẫn do
các lạc tớng đứng đầu quản lý. Đơn vị hành chính cấp cơ sở vẫn là công xã nông thôn (kẻ, chiềng, chạ).
Trong thời đại dựng nớc, ta có nhiều thành tựu lớn, trong đó có 2 thành tựu cơ bản nhất là tạo đ ợc một nền văn minh rực rỡ - nền văn minh
sông Hồng và hình thái nhà nớc sơ khai - nhà nớc Văn Lang - Âu Lạc. Những thành tựu này không chỉ là bằng chứng hùng hồn xác nhận thời
đại Hùng Vơng - An Dơng Vơng là những thời đại có thật mà còn minh chứng cho chúng ta thấy rằng đất nớc Việt Nam có một lịch sử dựng
nớc sớm, một nền văn minh lâu đời, tạo ra nền tảng bền vững cho toàn bộ sự sinh tồn và phát triển của quốc gia dân tộc Việt Nam. Từ đó ng ời
Việt trên cơ sở một lãnh thổ chung, một tiếng nói chung một cơ sở kinh tế - xã hội gắn bó trong một thể chế nhà n ớc sơ khai một lối sống
mang sắc thái riêng biểu thị trong một nền văn minh, văn hoá chung, đã tự khẳng định sự tồn tại của mình nh một quốc gia văn minh có đủ
điều kiện và khả năng vững vàng tiến qua nhiều thời kỳ đen tối nhất của lịch sử - thời kỳ hơn 1000 năm Bắc thuộc.
Câu 2: Trình bày khái quát về cơ cấu nền hành chính của thời đại dựng nớc đầu tiên?
Trả lời:
Do sản xuất phát triển, xã hội phân hoá, nhu cầu trị thủy và chống giặc ngoại xâm mà các bộ lạc ng ời Việt cổ liên minh với nhau tạo thành
một nhà nớc sơ khai - Nhà nớc Văn Lang.

-Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
-Vũ Ninh (Bắc Ninh)
-Lục Hải (Lạng Sơn)
-Ninh Hải (Hng Yên - Hải Dơng - Quảng Ninh)
-Dơng Tuyền (Hải Dơng)
-Giao Chỉ (Hà Nội - Hng Yên - Nam Định - Ninh Bình - Hà Nam)
-Cửu Chân (Thanh Hoá)
-Hoài Hoan (Nghệ An)
-Cửu Đức (Hà Tĩnh)
-Việt Thờng (Quảng Bình - Quảng Trị)
-Bình Văn
Lực lợng vũ trang thời kỳ này là dân binh.
#Đến thời Âu Lạc, cơ cấu hành chính cũng khng có gì thay đổi so với thời kỳ trớc, song thể chế nhà nớc hiện hình rõ nét, quyền uy của vua đ-
ợc tăng cờng.
-Trong triều An Dơng Vơng, giúp việc cho vua vẫn có lạc hầu. Lạc hầu là tớng văn, có thể đồng thời là tớng võ chỉ huy quân đội trấn áp các
địa phơng không chịu thuần phục. Lạc hầu thay mặt vua giải quyết công việc trong nớc.
-Lạc tớng đứng đầu các bộ, cai quản một đơn vị hành chính địa phơng. lạc tớng phải thu nộp cống phẩm cho nhà vua, thờng xuyên truyền
mệnh lệnh từ trên cuống. Khi có chiến tranh, Lạc tớng là thủ lĩnh quân sự địa phuơng và chịu sự điều động của vua.
-Bồ chính là ngời đứng đầu công xã nông thôn.
Lực lợng vũ trang đã có quân đội thờng trực.
Có thể phác hoạ quá trình và con đờng hình thành, tổ chức bộ máy nhà nớc Văn Lang - Âu Lạc nh sau:
2
+Thủ tĩnh ( liên minh bộ lạc ) > Vơng : Hùng Vơng, An Dơng Vơng ( Văn Lang, âu Lạc ).
+Tù Trởng ( Bộ Lạc ) > Lạc Tớng ( Bộ ).
+Tộc Trởng ( Công xã thị tộc ) > Bố chính ( Công xã nông thôn ).
Câu 3+7:
3.Trình bày đặc tr ng cơ bản của nền hành chính n ớc ta thời Lý?
7.Đặc tr ng cơ bản của nền hành chính n ớc ta thời Lý? Vai trò của Lý Công Uẩn?
Trả lời:
Năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi vua dời đô từ Hoa L về thành Đại La (1010). Khi dời đô thì trời quang, đẹp, thấy hình con rồng bay lên, Lý

bằng Sông Hồng thì đợc gọi là lộ, phủ. ở miền núi thì gọi là châu hay đạo. Vùng đất xa kinh đô nh Thanh Hoá và Nghê An thì lúc đầu gọi là
châu, sau gọi là phủ, còn gọi là trấn, trại thể hiện tính chất tập trung của nhà nớc cha thật triệt để.
3
Đứng đầu phủ, lộ là tri phủ, phán phủ (có tài liệu ghi là thông phán). Mỗi phủ (lộ, châu) bao gồm nhiều huyện. Ngời đứng đầu đơn vị hành
chính cấp huyện (quận) là huyện lệnh. Huyện bao gồm nhiều hơng, ở kinh đô gọi là giai (nhai), miền núi gọi là sách hay động. Khi đi xa, vua
Lý thờng chọn một hoàng tử, thân vơng ở lại trấn giữ trông nom kinh thành, gọi là Lu thủ kinh sự.
Chính quyền nhà Lý là một chính quyền sùng Phật, và thân dân. nhà vua và quý tốc đã theo đạo Phật, đề cao t tởng từ bi, bác ái. Trong
triều, có hệ thống tăng quan, một số đựôc phong là Quốc s. Vua quan có mối quan hệ gần gũi với dân chúng, thờng xuyên đợc tiếp cận dân
thờng trong các dịp lễ hội. Khi cần thiết ngời dân có oan ức có thể đến điện Long Trì đánh chuông, xin đợc trực tiếp gặp vua. Lý Thánh Tông
tuyên bố Yêu dân nh yêu con, thờng thi hành chính sách khoan dung khi xử kiện.
-Quân đội và pháp luật:
Có nhiều loại quân, ở kinh thành có Cấm quân (Thiên tử quân) bảo vệ triều đình, ở địa phơng có lộ quân hay sơng quân, lấy từ các hoàng nam
(18 tuổi) ở các lộ, phủ. Trong làng xã còn có dân binh, hơng binh.
Quân đội nhà Lý có quân bộ, quân thuỷ, kỷ luật nghiêm minh, huấn luyện chu đáo. Thi hành chính sách ngu binh nông cho quân sĩ luân
phiên cày ruộng dẫn đến vừa đảm bảo sản xuất, vừa đảm bảo động viên quân đội khi cần thiết.
Đối với các châu: Tù trởng, châu, phủ có quân đội riêng khi cần thiết đều huy động hết. Ngoài vũ khí truyền thống nh giáo, mác còn chế
tạo ra máy bắn đá dẫn đến chính sách xây dựng quân đội mạnh mẽ có khả năng bảo vệ nhà nớc trung ơng tập quyền, bảo vệ đất nớc.
Nhà Lý là vơng triều Việt Nam đầu tiên ban hành luật thành văn. Năm 1024, Lý Thái Tông sai quan san định luật lệ, biên thành điều khoản,
soạn ra Hình th gồm 3 quyển (sau đó đã thất truyền) xuống chiếu ban hành trong dân gian. Qua các pháp lệnh, ta biết đợc pháp luật nhà Lý đã
mang tính chất đẳng cấp phong kiến, bảo vệ hoàng cung, trừng trị năng tôi mu phản, cho tầng lớp quý tộc đợc chuộc tội bằng tiền. Mặt khác
pháp luật đời Lý cũng bảo vệ trật tự xã hội, chống hà làm thuế má ruộng đất, bảo đảm sức kéo bằng cách trừng phạt nặng tội trộm trâu, giết
trâu.
-Xác lập chủ quyền quốc gia dân tộc: Có thể nói rằng đến thời Lý, Việt Nam dã là một quốc gia dân tộc dựa trên một ý thức cộng đồng chung
về nguồn gốc dòng giống, lịch sử và văn hoá. Năm 1054 Lý Thánh Tông đặt quốc hiệu là Đại Việt - nó tồn tại mãi cho đến đầu thế kỷ 19.
Năm 1175, nhà Tống chính thức công nhận chủ quyền quốc gia của Đại Việt khi đổi danh hiệu sắc phong từ Giao Chỉ quận v ơng thành Sơn
Nam quốc vơng.
Quốc gia Đại Việt đã đợc bảo vệ củng cố qua các cuộc kháng chiến chống Tống (1075 - 1077) và mở rộng lãnh thổ về phía Nam qua các
cuộc chiến tranh với Chămpa (1069) sáp nhập các châu Địa Lý, Ma Linh, Bồ Chính (Quảng Bình, bắc Quảng Trị ngày nay). Các vua Lý thể
hiện chính sách , đa nhiều công chúa gả cho các thổ tù miền núi để vừa ràng buộc họ vừa tạo sự ủng hộ hậu thuẫn.
-Chế độ thi cử, đào tạo quan chức:

Trả lời:
Năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi vua, 1010 Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa L về thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long với mục
đích đóng nơi trung tâm, mu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau. phản ánh yêu cầu phát triển mới của quốc gia độc lập,
chúng tỏ khả năng lòng tin và quyết tâm giữ vững nền độc lập của cả dân tộc.
Năm 1054 nhà Lý đổi tên nớc là Đại Việt - lúc đó đất còn hẹp, dân còn tha nhng là một nớc độc lập hoàn toàn và có đủ nsức mạnh để bảo vệ
nền độc lập dân tộc. Tên nớc cũng thể hiện một niềm tự tôn và ý thức bình đẳng dân tộc sâu sắc.
Nhà Lý đã tiến hành hàng loạt các biện pháp nhằm phát triển kinh tế, văn hoá của đất nớc, thi hành nhiều chính sách nhằm củng cố quyền
lực của nhà nớc tập quyền, đảm bảo quyền lợi của giai cấp thống trị, nhng cũng chăm lo đến sự phát triển kinh tế.
-Tổ chức bộ máy nhà nớc:
Bộ máy nhà nớc thời Lý đợc thiết lập từ trung ơng đến địa phuơng và tập trung quyền hành vào tay quan chức: phẩm trật các hàng quan văn
võ đều có 9 bậc. Những chức quan cao cấp trong triều đình đợc chia làm 2 ngạch: ngạch văn, nghạch võ. Các đại thần đứng đầu nghạch văn
thì có chức tham thái (s, phó, bảo) và tham thiếu, nghạch võ có chức thái uý, thiếu uý và một số chứuc vị khác. Dới hàng quan văn thì có chức
Thợng th đứng đầu các bộ, ngoài ra còn có các chức khác: tả và hữu tham tri, tả và hữu giám nghị, trung thu thị lang, bộ nhị lang tả và hữu ty
lang trung, tả và hữu phúc tâm. Bên cạnh đó còn có các điện học sĩ, hàn lâm điện học sĩ đ ợc sắp xếp một cách đẩy đủ, chỉ tiết để đảm trách
việc cai trị hành chính. Quan đứng đầu cao nhất là phụ quốc thái uý giúp vua coi các công việc đại quan trọng trong các nội quan.
Quan võ ở triều đình có các chức: đô thống, nguyên suý, tống quan, khu mật sứ, tả và hữu kim: ngô, th ợng tớng, đại tớng, đô tớng, tớng quân
các vệ, chỉ huy sứ Chức quan nắm quyền binh cao nhất trong triều coi nh tể tởng, đợc gọi là tớng công thời Lý Thái Tổ, Phụ quốc thái uý
thời Thái Tông, Bình chơng quân quốc trọng sự thời Nhân Tông
Trong việc phân chia khu vực hành chính 10 đạo dới thời Đinh - Lê đợc đổi thành 24 lộ. Dới lộ là phủ, huyện và hơng, giáp, thôn. ở miền núi
chia thành châu, trại. Sắp xếp lại đơn vị hành chính do đó xây dựng nhà nớc tập trung quyền lức về triều đình: vua thay trời hành đạo, định ra
lễ nghi triều chính, phép tắc trong cả nớc đề cao vai trò, uy quyền của vua.
-Nhà nớc chăm lo mở mang học hành thi cử . Năm 1070 dựng Văn Miếu và mở Quốc tử giám ở kinh đô.
Lấy con cháu họ Lý vào các nghạch quan chức. Đặc trng thời này là có thể mua đợc chức quan.
5
Đến triều Lý Nhân Tông chế độ thi cứ đợc tổ chức có quy củ. Năm 1089 cẩi cách hành chính đợc thể hiện ở chỗ: phong vơng cho con cháu
trong hoàng tộc để cử đi quản lý hành chính địa phơng, kết hợp với những ngời có công lao.
-Đặc biệt coi trọng chính sách quân đội, coi đó là vấn đề then chốt để bảo vệ độc lập chủ quyền của đấ nớc tổ chức rất chặt chẽ, có quy
mô. Bao gồm quân Cấm vệ (thân quân, cấm quân) là quân đội thờng trực ở triều đình, có nhiệm vụ bảo vệ kinh đo đội quân tinh nhuệ, đợc
lựa chọn cẩn thận, huấn luyện chua đáo và quân các lộ (sơng quân hay gọi là chính binh, phiên binh) là đội quân địa phơng làm nhiệm vụ
canh phòng và bảo vệ các lộ, phủ, châu. Đặt ra nghĩa vụ binh dịch với chế độ đăng ký ngụ binh nông cho phép xây dựng một lực lợng

quyền độc lập thống nhất tách khỏi phạm vi thế lực của chính quyền phong kiến trung ơng Trung Quốc. Cả nớc chia làm 5 cấp hành chính: lộ,
phủ, châu, giáp, xã trong đó đổi hơng thành giáp. Việc đổi hơng thành giáp là cải cách quan trọng nhất của học Khúc. Ngoài những hơng cũ
6
đổi thành giáp, còn đặt thêm nhiều giáp mới, tất cả có 314 giáp. So với 159 hơng đời Đờng thì 314 giáp của chính quyền họ Khúc chứng tỏ
một bớc phát triển đáng kể của chính quyền độc lập vừa giành đợc. Đơn vị hành chính cấp thấp nhất là xã có chức lệnh trởng, tá lệnh trởng.
Khúc Hạo là ngời đầu tiên xây dựng đợc nền hành chính nhà nớc tự chủ của nớc ta từ trung ơng đến địa phơng.
+Sửa đổi lại chế độ điền, tô (chế độ ruộng đất), sủa đổi chính sách thuế khoá nặng nề trớc đây của nhà Đờng ban bố áp đặt, thay vào đó là
chính sách bình quân thuế ruộng. Lập sổ hộ khẩu kê rõ quê quán để quản lý nhân sự.
-Năm 930 nhà Nam hán - một trong 10 nớc cát cứ của Trung Quốc đã chiếm lại Âu Lạc và cứ thứ sử cai trị. Chính quyền họ Khúc chấm dứt.
Song năm 931, Dơng Đình Nghệ là một tớng của Khúc Hạo đã lãnh đạo nhân dân đánh bại quân nam Hán và giành lại độc lập. Ông vẫn x ng
là tiết độ sứ, thủ phủ vẫn đóng ở thành Đại La (6 năm), tiếp tục công cuộc tự chủ của họ Khúc, lo củng cố chính quyền vừa mới giành lại đ ợc,
phát triển dân tộc.
-Đầu năm 937, Dơng Đình Nghệ bị viên thuộc tớng phản bội là Kiều Công Tiễn ám hại để đoạt chức Tiết độ sứ. Ngô Quyền - con rể đã từ
chấu ái đem quân ra trừng phạt Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn cầu cứu Nam Hán vua Nam hán tiến công xâm lợc Âu Lạc. Đợc sự ủng
hộ của nhân dân Ngô Quyền đã giết chết Kiều Công Tiễn và chuẩn bị lực lợng để chiến đấu chống quân xâm lợc.
Chiến thắng Bạch Đằng 938 là cái mốc quan trọng chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ
nguyên độc lập lâu dài của đất nớc.
Năm 939 Ngô Quyền xng vơng đóng đô ở Cổ Loa và xây dựng một chính quyền trung ơng tập quyền, bãi bỏ chế độ tiết độ sứ. ở địa phuơng
các châu, huyện đợc giữ nguyên. Các thứ sử nh Đinh Công Trứ tiếp tục cai quản châu của mình. Giáp, làng vẫn là những đơn vị hành chính cơ
sở. Bên cạnh các xóm cổ truyền có một số làng mới hình thành và một vài trang trại.
Tuy đã trải qua hơn 30 năm độc lập với 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhng tàn d của chế độ đô hộ cũ vẫn còn nhiều, tình hình xã hội
còn phức tạp. Sự thành lập của nhà Ngô với ngời đứng đầu là Ngô Quyền cha đủ điều kiện đề giữ vững sự ổn định lâu dài.
-Năm 944 Ngô Quyền chết. Dơng Tam Khoa - em vợ cớp ngôi. Lợi dụng sự suy yếu của chính quyền trung ơng, các thế lực địa phơng nổi dậy
cát cứ gây ra loạn 12 sứ quân. Trớc tình hình đó, năn 968 Đinh Bộ Lĩnh đã đánh bại các sứ quân, thống nhất đất nớc lập ra nhà Đinh.
-Đinh Bộ Lĩnh xng hoàng đế, đặt tên nớc là Đại Cồ Việt, dựng đô mới ở Hoa L.
+Về tổ chức nhà nớc: Đinh Tiên Hoàng đã bắt đầu định giai phẩm cho các quan văn võ và tăng đạo. Trong triều đình, có một số quan văn, võ
nh: sĩ s, tớng quân, nha hiệu, phó mã đô uý, và các chức tăng quan: đại sứ, lục đạo sĩ, sùng chân uý nghi Các hoàng tử đợc phong vơng.
Nhà nớc lấy đạo Phật làm quốc giáo nên nghạch tăng quan có vai trò lớn trong việc tham dự triều chính. Đại s Ngô Chân Lu - ngời đứng đầu
tăng quan có quyền hành nh tể tớng, là một cố vấn cho nhà vua.
ở địa phơng, nhà Đinh chia nớc ra làm 10 đạo.

mình theo mô hình nhà Tống.
-Các vua Đinh - Tiền Lê khi lên ngôi hoàng đế đều đã cố gắng thực thi quyền sở hữu ruộng đất nông nghiệp, vừa để khẳng định quyền lực,
vừa để nắm lấy thần dân, thu tô thuế, bắt lính. Hàng năm mùa xuân nhà vua đích thân làm lễ tịch điền, đi vài đ ờng cày để nêu gơng. Phong
cấp đất đai cho các hoàng tử, quý tộc và quan lại. Bắt đầu thi hành chính sách trọng nông, khuyến khích sản xuất nh đào vét các sông kênh.
Bên cạnh đó chú ý phát triển một số ngành nghề thủ công nghiệp để phục vụ vua quan và quân đội, nhất là kinh đô Hoa L.
Cùng với việc xây dựng một chính quyền nhà nớc có chủ quyền, ở Đại Cồ Việt nửa sau thế lỷ X cũng đã manh nha những mầm mống của
một nền văn hoá mang tính dân tộc.
-Thê skỷ này suy tôn Phật giáo là Quốc giáo, các nhà s đợc sử dụng nh những cố vấn cung đình và những nhà ngoại giao đắc lực của nhà vua.
Các vơng triều Ngô - Đinh - Tiền Lê có thể coi nh một thời kỳ lịch sử quá độ ngoại thuộc qua tự chủ đến độc lập. Những thập kỷ bản lề đó
đã bớc đầu thực hiện đợc sự nghiệp khôi phục độc lập, thống nhất quốc gia, xây dựng chính quyền và đặt nền móng cho một nền văn hoá dân
tộc. Sự nghiệp đó sẽ đợc củng cố và phát triển lên một tầm cao mới trong những thế kỷ tiếp theo.
+Vai trò của Lê Đại Hành hoàng đế:
Lê Hoàn là ngời Xuân Lập (Thọ Xuân - Thanh Hoá) quê gốc ở Thanh Liêm (Hà Nội), cha, mẹ chết sớm, làm con nuôi một viên quan sát họ
Lê. Lớn lên, ông theo giúp Đinh Liễn, lập nhiều công trạng, khi nhà Đinh thành lập, ông đợc phong chức Thập đạo tớng quân.
Năm 979 Đỗ Thích mu phản giết Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn vì hiềm khích. Nội bộ triều đình lục đục, vua mới còn nhỏ. Đợc tin đó, nhà
Tống vội sai các tớng Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hng đem quân sang xâm lợc nớc ta.
Mùa thu 980 viên quan coi Lạng Châu cho ngời về kinh cấp báo tin quân Tống chuẩn bị đánh xuống nớc ta. Dơng Thái hậu giao cho phụ
chính Lê Hoàn tổ chức cuộc kháng chiến. Lê Hoàn xng là phó vơng để chỉ đạo quân chống quân xâm lợc. Cử Phạm Cự Lợng làm đại tớng kéo
quân trấn giữa vùng phía Bắc. Tiếp đó đợc quân sĩ và tớng quân ủng hội lên làm vua. Thái hậu Dơng Vân Nga đã tự tay trao áo long bào cho
Lê Hoàn. Lê Hoàn lên ngôi xng là Lê Đại Hành hoàng đế, lấy niên hiệu là Thiên Phúc, cùng các tớng huy động quân sĩ cùng nhân dân khẩn
trơng chuẩn bị chống giặc. Theo kế của Ngô Quyền trớc đây, ông sai quân đóng cọc nhọn ở vùng cửa sông Bạch Đằng để ngăn thuỷ quân của
giặc. Khi thuỷ quân của giặc đến vùng vne biển gần cửa sông Bạch Đằng thì Lê Hoàn cử quân tiến ra chống cự kịch liệt. Không đánh nổi
quân ta, thuỷ quân của giặc buộc phải rút lui. Quân Hầu Nhân Bảo đánh xuống theo đờng sông Chi Lăng cũng bị phục binh đánh tơi bời, giết
8
chết Hầu Nhân Bảo, Trần Khâm Tộ đợc tin Bảo chết hoảng sợ, ra lệnh rút quân chạy về nớc nhng không kịp. Quân giặc đã bị thua Cuộc
kháng chiến chống Tống thắng lới, một lần nữa nhân dân ta đã bằng sức chiến đấu anh dũng của mình, khẳng định quyền làm chủ đất nớc bảo
vệ vững chắc thành quả đấu tranh và xây dựng tổ tiên mình. Thắng lợi của cuộc kháng chiến đã giáng một đòn nặng nề vào t tởng bành trớng
của vua tôi nhà Tống. Tên tuổi của Lê Hoàn và quân tớng cũng nh Dơng Thái hậu mãi khắc sâu vào lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm bảo
vệ tổ quốc của nhân dân ta.
-Sau khi đánh bại quân giặc, Lê Hoàn bắt tay vào việc ổn định tình hình trong nớc. Tổ chức lại chính quyền, mở mang đờng sá, khuyến khích

Từ 23 - 220 nhà Đông Hán thay thế nhà Tây Hán cai trị Âu Lạc và tổ chức bộ máy đô hộ hoàn thiện hơn. Đứng đầu châu Giao Chỉ là chức
châu mục, đến năm 42 đổi lại thành thứ sử. Thứ sử phải luôn trụ tại sử làm việc và cử ngời thay mặt mình về triều đình báo cáo. Giúp việc
châu mục có các lại viên gọi là tòng sự sử gồm 7 ngời: công tào tòng phụ trách việc tuyển bổ quan lại, tào tòng sự ở cấp quận, ngoài viên
thái thú còn đặt thêm chức quận thừa giúp việc và thay thế khi thái thú vắng mặt. ở nhiều quận biên giới đặt 1 viên thừa (ngạch quan văn) làm
9
trởng sử giúp thái thú. Đến 38, các quận biên giới bỏ chức thái thú và quận thừa, tất cả quyền hành tập trung vào thừa tr ởng sử. Thái thú nắm
cả quyền quản lý hành chính xét xử và chỉ huy quân sự. Bộ máy hành chính cấp quận chia thành các tào, đứng đầu là các duyên sử, tuỳ từng
quận mà có thế đặt thêm chức quan diêm quan, thiết quan (đúc chế sắt), công quan (thu thuế thủ công nghiệp)
Các huyện thuộc quận, đứng đầu là huyện lệnh, huyện trởng do các lạc tớng nắm giữ, ăn lơng nhà nớc. Dới huyện lệnh là 1 viên thừa (quan
văn) và 2 viên uý (quan võ) giúp việc. Bộ máy hành chính cấp huyện cũng chia thành các tào chuyên trách.
Địa bàn nớc ta khi ấy nằm trên 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.
+Quận Giao Chỉ chia ra 10 huyện: Liên Lâu, An Định, Câu Lâu, Mê Linh, Khúc Dơng, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên, Chu Diên. Theo
Đào Duy Anh: Quận Giao Chỉ ở đời Hán là đất Bắc Bộ ngày nay, trừ miền Tây Bắc còn ở ngoài phạm vi thống trị của nhà Hán, 1 góc tây
nam tỉnh Ninh Bình bây giờ là địa đầu của quận Cửu Chân và một dải bờ biển từ Thái Bình Kim Sơn (Ninh Bình) bấy giờ cha đợc bồi đắp,
lại phải thêm, vào đấy một vùng về phía tây nam Quảng Tây.
+Quận Cửu Chân chia làm 7 huyện: T Phố, C Long, Đô Lung, D Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết, Vô Biên.
+Quận Nhật Nam gồm 5 huyện: Chu Ngô, Tỷ ảnh, Lê Dung, Tây Quyển, Tơng Lâm.
2)Hành chính thời tự chủ Hai Bà Trng (40 - 43)
Nhân dân châu Giao chống lại ách thống trị của nhà Đông Hán, bắt đầu từ cuộc khởi nghĩa to lớn của nhân dân Giao Chỉ cùng với quận Cửu
Chân, Nhật Nam, Hợp Phố dới sự lãnh đạo của Hai Bà Trng và giành đợc thắng lợi Trng Trắc lên làm vua đóng đô tại Mê Linh. Trên thực
tế thì chính quyền Hai Bà Trng chỉ cai quản đợc 2 quận Giao Chỉ, Cửu Chân là địa vực Âu Lạc cũ thời các vua Hùng, vua Thục. Trng Vơng xá
thuế 2 năm liền cho nhân dân. Song vì tồn tại trong một thời gian ngắn, chính quyền Hai Bà Trng cha thể xây dựng một hệ thống chíng quyền
quy mô, hoàn thiện. Các lạc tớng vẫn cai trị các bộ chính quyền độc lập đầu tiên sau hơn 2 thế kỷ Bắc thuộc.
3)Từ 43 - 220
Sau khi lật đổ chính quyền tự chủ của Hai Bà Trng, nhà Hán thiết lập lại chính quyền đô hộ ở nớc ta chặt chẽ hơn, loại bỏ những tổ chức cũ
của nhà bản xứ do ngời bản xứ cai quản ở cấp huyện, thay vào đó là ngời Trung Quốc. Các chức thứ sử, thái thú vẫn đợc duy trì. ở mỗi huyện
có huyện lệnh đứng đầu là ngời Hán. Chế độc lạc tớng của ngời Việt bị bãi bỏ. Các viên chức cao cấp trong bộ máy chính quyền đô hộ hầu
hết là ngời Trung Quốc.
Mã Viện chia lại đơn vị hành chính huyện, chia nhỏ huyện to, áp nhập huyện nhỉ. Huyện Tây Vu là đất c của Tây Vu Vơng, con cháu An D-
ơng Vơng đã bị chia lám 3 huyện: Tây Vu, Phong Khê, Vọng Hải. Song song với cải tổ hành chính, Mã Viện cho xây đắp thành luỹ, tăng số

Vũ Ninh, Vũ Hng, Tiến Sơn, Căn Ninh, Vũ Định, Phú Yên, Phong Khê.
+Cửu Chân: 7 huyện, 3000 hộ
T Phố, Di Phong, Trạm Ngô, Kiến Sơ, Thờng Lạc, Phù Lạc. Nhà Tấn lập thêm Tùng Nguyên.
+Cửu Đức: 8 huyện
Cửu Đức, Hàm Hoan, Nam Lăng, Dơng Thành, Phù Linh, Khúc T, Đô Hào, Việt Thờng.
+Nhật Nam: 5 huyện, 600 hộ
Tơng Lâm, Lô Dung, Chu Ngô, Tây Quyển, Tỷ ảnh.
-Nhà Lơng chia Giao Châu làm nhiều châu mới:
+ái châu: trên đất quận Cửu Chân cũ (Thanh Hoá)
+Đức Châu: trên đất quận Cửu Đức cũ (Nghệ Tĩnh)
+Lợi Châu: trên đất quận Cửu Đức cũ (Nghệ Tĩnh)
+Minh Châu; trên đất miền đông bắc Giao Châu cũ (Quảng Ninh)
+Giao Châu: thu nhỏ trên đồng bằng và trung du Bắc Bộ.
7)Từ 544 - 602
Năm 542, Lý Bí là một hào trởng đợc sự ủng hộ của nhân dân đã lật đổ ách thống trị của nhà Lơng. 544 Lý Bí chính thức lên ngôi hoàng đế,
tự xng là Việt đế (theo sử Trung Quốc) Nam đế (sử Nam) gọi là Lý Nam Đế. Ông đặt tên nớc là Vạn Xuân và đóng đố ở Hà Nội ngày nay. Bỏ
lịch Trung Hoa, đặt hiệu là Thiên Đức, cho đúc tiền Thiên Đức.
Tổ chức nhà nớc còn rất đơn giản. ở triều đình ngoài hoàng đế đứng đầu còn 2 ban văn võ. Tinh Thiều đợc cử làm tớng văn, Phạm Vu làm t-
ớng võ, Triệu Túc làm thái phó, Lý Phục Man làm tớng quân coi giữ một miền biên cảnh từ Đỗ Đông đến Ba Vì. Dân số nớc Vạn Xuân ở niên
đại 544 có khoảng 1.000.000 ngời.
8)Từ 589 - 617
Năm 589 nhà Tuỳ đổi Hng Châu làm Phong Châu, đổi Hoàng Châu làm Ngọc Châu, Đức Châu làm Hoan Châu, Lợi Châu làm Trí Châu. 603
nhà Tuỳ chinh phục Chau Giao. Năm 607 nhà Tuỳ bỏ đơn vị hành chính châu, chia Châu Giao thành 6 quận trực thuộc triều đình trung ơng
(Lịch sử nhà nớc và pháp luật).
11
Quận Giao Chỉ (gồm 9 huyện), Cửu Chân (7 huyện), Nhật Nam (Nghệ Tĩnh 8 huyện), Tỷ Cảnh (Tỷ ảnh - Chiêm Thành - 4 huyện). Lâm ấp
(Thừa Thiên Huế 4 huyện).
6 quận: 36 huyện thị sở đặt ở Tống Bình - Hà Nội.
9)Từ 618 - 907
Năm 618 nhà Tuỳ đổ, nhà Đờng thành lập ở Trung Quốc, thái thú Khâu Hoà (của nhà Tuỳ) giữ Giao Châu xin thần phục nhà Đờng. Từ đó

mà năng động, đã tạo râ một nền thống nhất và ổn định đất nớc cho đến giữa thế kỷ XIV. Triều đình Thăng Long trong thời gian này trớc hết
là tổ chức chính quyền của dòng họ Trần. Vua Trần tự đề câo vị trí bản thân, đồng nhất ngôi vua với đất nớc.
1250 Thái Tông xuống chiếu cho thiên hạ gọi vua là nâng cao hơn tính chuyên chế và tập trung của triều đình. Để đảm bảo vững chắc vị
trí và khả năng nắm chính quyền trong tay vua, tránh những vụ tranh ngôi trong nội bộ hoàng tộc, và cũng để cho vua trẻ điều khiển chính
quyền vững vàng, nhà Trần áp dụng chế độ Thái thợng hoàng. Vua cha chỉ làm việc một số năm rồi truyền cho con, còn bản thân lui về Tức
12
Mặc (Nam Định) giữ t cách cố vấn. Quyền hành của Thái thợng hoàng rất lớn không chỉ có quyền chỉ định ngời kế vị mà khi cần có thể truất
bỏ ngôi vua.
Để củng cố vơng quyền, nhất là trong những thời kỳ đầu, nhà Trần đã thực hiện một nền chuyên chính dân chủ dòng họ. Tầng lớp quý tộc
tông thất nắm độc quyền lãnh đạo quốc gia. Các chức vụ chủ chốt trong triều đình (nhất là về võ quan, nh các tớng lĩnh trong cuộc kháng
chiến chống Nguyên) đều do các ngời họ hàng thân cận với nhà vua nắm giữ. Để đề phòng nạn ngoại thích, nhà Trần thực hiện chế độ hôn
nhân đồng tộc. Nhiều nhà vua và vơng hầu tôn thất nhà Trần đã lấy những ngời trong họ hàng đôi khi khá gần gũi (Trần Thái Tông lấy chị
dâu, Trần Thủ độ lấy chị họ ). Mặt khác, các vua Trần cũng hết lòng thơng yêu đùm bọc các vơng hầu tôn thất.
Nền quân chủ quý tộc dòng họ.
2) Biến đổi và phát triển nền hành chính
Họ Trần tuy đã nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong triều đình và một số lộ phủ quan trọng, nhng số lợng ngời và năng lực có hạn, vẫn phải
xây dựng bộ máy hành chính từ trung ơng địa phơng, thu nhận nhiều ngời thuộc các tầng lớp. Nhà nớc này là khối liên kết của dòng họ
Trần với bộ phận quan liêu ở các cấp chính quyền khác nhau và ngày càng mở rộng về phơng thức tổ chức và cơ chế vận hành của nhà nớc
này có mặt phỏng theo mô hình nhà Tống.
a)Triều đình
-Bộ phận trung khu: gồm tể tớng, á tớng, tri mật viên sứ và hành khiển ở môn hạ sảnh có nhiệm vụ chỉ đạo các quan văn võ. Đứng đầu trung
khu là quan chức mang danh hiệu tam thái (s, phó, bảo) và tam thiếu (s, phó, bảo) và tâm t (t đồ, t mã, t không). Chức vụ tể tớng phải là thân
vơng với chức danh là tả hữu tớng quốc hay nhập nôi kiểm hiệu đắc tiến khai phủ nghi đồng tam ti bình chơng sự. Chức vụ á tớng thờng là
tham tri chính sự hay là tri mật viên sự và nhiều khi mang chức danh là tả, hữu bộc xạ kèm thêm 2 chữc nhập nội.
Chức vụ hành khiển gần ngang với á tớng chia làm 2 ban tả và hữu ở kinh đô Thăng Long và hoàng cung Tức Mặc, nhng chung 1 viện, về sau
đổi là môn hạ sảnh. Danh hiệu cao nhất của quan chức hành khiển là nhập nội hành khiển đồng trung thu môn hạ sảnh bình ch ơng sự. Cơ
quan này lúc đầu chỉ dùng hoạn quan, sau dùng các nho thần nh Nguyễn Trung Ngạn, Lê C Nhân.
Việc phân chia bộ phận trung khu gồm tể tớng, á tớng, các quan chức ở khu mật viện, hành khiển môn hạ sảnh tách khỏi và đứng trên các cơ
quan chức năng là bớc phát triển trong kết cấu và cơ chế của bộ máy nhà nớc thời Trần.
-Các cơ quan chức năng:

1297 Nhân Tông đổi giáp làm hơng, pử trung du và miền núi thì gọi là sách, động. Chính quyền hơng, sách là cấp cuối cùng trong hệ thống
đơn vị hành chính ở địa phơng, trong đó có xã quan. Xã quan gồm đại t xã (hoặc tiểu t xã) xã trởng, xã giám có nhiệm vụ quản lý hơng xã,
làm hộ tịch. Chức đại t xã hay gọi là đại toát có hàm từ ngũ phẩm trở lên, tiểu t xã hay gọi là tiểu toát có hàm từ lục phẩm xuống.
Chia kinh đô Thăng Long thành 61 phờng. ở phủ, lộ có hơng. Hơnbg có đại toát hoặc tiểu toát cai qiản, sách thì do phụ đạo hay quan lang
quản lý. Hơng sách gồm nhiều thôn. Dới hơng có nhiều làng (trang hay thôn) nhng làng không phải là cấp chính quyền.
Triều đình đã nhiều lần kiểm soát nhân đinh hộ khẩu, nhng hình nh chia lần nào có biện pháp lập điền bạ hay điều tra ruộng đất. Có thể cho
rằng: thôn, trang với các mối quan hệ dân c, họ hàng, nghề nghiệp cũng cha chặt chẽ nh những thời kỳ sau khi chính quyền xã chuyển
xuống là thôn, làng.
Dân đinh ở các hơng đợc ghi vào sổ hộ tịch, phân làm 3 hạng theo tuổi: 17 tuổi là tiểu hoàng nam; 20 tuổi trở lên là đại hoàng nam; 60 tuổi
trở lên là lão hạng. Hàng năm vào mùa xuân, chính quyền hơng, xã kiểm tra nhân khẩu để báo lên trên.
c)Phơng thức tuyển chọn quan lại
Quan lại đời Trần đợc tuyển dụng qua các phơng thức nhiệm tử (tập ấm), tuyển cử (giới thiệu và bảo lãnh), khoa cử (qua các kỳ thi). Nhà Trần
cũng đã định ra lệ khảo duyệt (khảo khoá) các quan theo định kỳ. Vai trò của tầng lớp nho sĩ quan liêu trong bộ máy chính trị thời Trần lúc
đầu là khiêm tốn, càng ngày càng gia tăng trong những thời kỳ sau. Tuy nhiên, nhà Trần cha câu nệ về tiêu chuẩn khoa bảng, mà căn cứ chủ
yếu vào thực tài, tinh thần đã đợc ngời đời sau khen ngợi.
d)Tổ chức quân đội
Nhà Trần thay nhà Lý, một sức bật mới nhanh chóng ổn định trật tự xã hội, sắp xếp chính quyền, đồng thời tăng c ờng luật quân sự đủ sức đa
đất nớc vợt qua trở ngại, bảo vệ độc lập dân tộc.
-Về tổ chức, phiên chế: quân chủ lực gồm cấm quân và quân các lộ. Quân các lộ ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là phiên binh.
Năm 1239 Trần Thái Tông hạ chiếu tuyển trai tráng làm binh chia làm 3 bậc: thợng, trung, hạ. Nhà Trần đặc biệt chú ý cấm quân, gọi là quân
túc vệ. Bộ phận cấm quân của nhà Trần ngày càng đợc tăng thêm, phiên chế càng phức tạp và chặt chẽ hơn. Bộ phận này có 8 quân, đứng đầu
mỗi quân là 1 đại tớng quân. Mỗi quân có 30 đô, chỉ huy mỗi đô có chánh phó đại đội. Mỗi đô lại có 5 ngữ, chỉ huy mỗi ngũ là đầu ngũ (mỗi
quân có khoảng 2400 ngời). Trong cuộc hội quân của Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (1248) số quân lên tới 20 vạn ng ời. Nhng trong thời bình,
số quân thờng trực giảm nhiều qua chính sách "ngụ binh nông" cho quân sĩ luân phiên về cày ruộng.
Cấm quân là nòng cốt cho các binh lính khác, có thích 3 chữ "thiên tử quân" lên trán, do tổn thất hoặc ng ời đợc đặc biệt tin tởng nh Phạm
Ngũ Lão chỉ huy gọi là điện tiền chỉ huy sứ (gọi tắt là điện suý). Chức phiêu kị tớng quân phải do chính hoàng tử nắm giữ.
14
ở phủ lộ quân. Lộ quân có khoảng 20 phong đoàn. Giữa thế kỷ XIV, Dụ Tông đặt thêm bình hải quân ở Hải Đông (1341 - 1369). Duệ Tông
(1373 - 1377) tăng thêm số quân ở các lộ Thiên Trờng, Bắc Giang, Thanh Hoá, Nghệ An, Lâm Bình, Thuận Hoá.
-Lực lợng vũ trang của các quý tộc: cấm quân là chủ lực bảo vệ Thăng Long, Tức Mặc nòng cốt trong chiến tranh chống ngoại xâm. Cấm

khoá đợc quy định trên cơ sở chế độ sở hữu ruộng đất.
Bên cạnh đó sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp cũng đợc phục hồi, một số ngành nghề thủ công tiếp tục đợc phát triển, các đơn vị
đo lờng dần dần đợc thống nhất trong cả nớc, một số trọng tâm thơng mại xuất hiện.
Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ của văn hoá dân tộc. Chữ nôm bắt đầu xuất hiện, phổ biến và vận dụng trong sáng tác văn học. Các ngành có
thành tựu đáng kể, tổ chức bộ máy nhà nớc và pháp quyền đợc củng cố thêm một bớc, là thời kỳ có những chiến công vĩ đại trong 3 cuộc
kháng chiến chống quân xâm lợc Nguyên Mông mang đậm đà bản sắc dân tộc.
Câu 11:Trình bày, phân tích đánh giá t t ởng cải cách hành chính của Hồ Quý Ly những năm đầu thế kỷ 15?
15
Trả lời:
1)Khủng hoảng cuối thời Trần và yêu cầu cấp thiết cái cách duy tân đất nớc.
Từ nửa cuối thể kỷ XIV, nhà Trần đã không chăm lo đến thuỷ lợi đê điều và ác chính sách khuyến nông tích cực khác, lại còn vơ vét tiền của,
thóc gạo của nhân dân. Xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Các điền trang ngày một t phát triển, nhng sản xuất lại trở nên trì trệ, đời
sống các nông nô, nô tỳ trong đó bị bần cùng hóa. Mất mùa, đói kém liên tiếp xảy ra, nông dân nổi dậy bạo động, điển hình là cuộc khởi
nghĩa của Ngô bệ ở núi Yên Phụ (Hải Dơng) 1344 - 1360.
Triều đình ngày càng sa đoạ nhiều đại thần mắc tệ nạn tham nhũng, rợu chè, cờ bác, tham ăn, hiếu sắc. Nhà vua (Trần Dụ Tông) cũng ăn
chơi xa xỉ truỵ lạc. Chu Văn An đã từng dâng sớ thất trảm, xin chém 7 gian thần, nhng bị từ chối. Dơng Nhật Lễ (con ngời phờng chèo, cháu
Dụ Tông) nối ngôi Dụ Tông, gây sự biến mu đổi họ, bị các triều thần lật đổi, gây nên khủng hoảng cung đình.
Bên ngoài, Champa nhiều lần gây xung đột Champa với Đại Việt đem quân vào đánh phá Thăng Long. Du Tông đi đánh Champa, lân nạn
tại thành Đồ Bàn. Chỉ đến khi c Chế Bồng Nga tử trận (1396) chiến tranh mới tạm yên. Tiếp đó; nhà Minh ở phơng Bắc lại gây sức ép, hạch
sách, đòi cống nạp, mợn đờng, đe doạ xâm lợc, càng làm cuộc khủng hỏng thêm sâu sắc, đe doạ sự tồn tại trong vơng triều.
Nh vậy, vào nửa cuối thế ký XIV, đất nớc đứng trớc cuộc khủng hoảng kinh tế - xác hội, trớc xu hớng phân tán và ly tâm đang phát triển và
lan rộng. Đất nớc đứng trớc nguy cơ bị xâm lợc Nhà nớc TRần đã suy yếu, bất lực, không còn khả năng điều hành đất nớc, nhng lại muốn
giữ nguyên cơ chế cũ. Đất nớc muốn vợt qua cuộc khủng hoảng đòi hỏi phải cải cách. Muốn vậy phải có khu vực TW tập quyền vững mạnh
đủ khả năng thực hiện cuộc cải cách, lãnh đạo dân tộc đánh thắng giặc ngoại xâm.
Để thực hiện yêu cầu đó, điều cần thiết đầu tiên là phải gạt bỏ những quý tộc Trần bảo thủ ra khỏi bộ máy điều hành đất n ớc, xóa bỏ kinh tế
điền trang, góp sức lãnh đạo trong nông nô, nô tỳ, xóa bỏ nền quân chủ quý tộc không còn phù hợp với xu thế phát triển trong đất n ớc, xây
dựng 1 nhà nớc quân chủ liên quan với quan hệ sản xuất địa chủ tá điền chiếm u thế và đị vị xã hội chủ đạo.
Từ giữa thế ký XIV đã xuất hiện tình trạng cải cách 1 số quan liêu - song đều bị bác bỏ. Cuộc đấu tranh giữa 2 khuynh hớng bảo thủ quân chủ
quý tộc và khúng hớng quân chủ tập trung quan liêu (trong lực lợng quan liêu - nho sĩ, tiêu biểu là HQL) diễn ra khi âm thầm , lúc quyết liệt
liên tục suốt 300 năm (1370 - 1400).

giáng. Trớc khi lên làm vua 1397 HQL đã cho đổi trấn Thanh Hoa trấn Thanh Đô, Trấn Quốc Oai Quảng Oai, Lạng Giang Lạng
Sơn và qui định chế độ làm việc 1402 nhà Hồ xuất quân đánh Champa. Vua Champa phải nộp 2 vùng đất chiêm Động và Cổ Luỹ. 1404, 1
lần nữa nhà Hồ đánh vào Champa nhng không có kết quả gì, phải rút quân về nớc.
-Cải cách kinh tế - tài chính.
Cải cách nổ bật nhiều là việc ban hành tiền giấy (1396) gọi là "Thông bảo hội sao" có các loại 10 đồng, 30 đồng, 2 tiền, 3 tiền, 5 tiền, 1 quan.
Tất cả mọi ngời phải đem tiền đồng đổi lấy tiền giấy, Cấm làm tiền giả
Nhà nớc qui định: ai làm tiền giả phải tội chết, ai còn dùng tiền đồng bị bắt đợc cũng phải tội nh làm tiền giả và bị tử hình. 1403, trớc phản
ứng của nhân dân, nhà Hồ ban hành điều luật về tội không tiêu tiền giấy, nâng giá hàng hay đóng cửa hàng. Nhà hồ cũng đặt chức thị giám,
ban mẫu về cân thớc thng đấu.
1397 ban hành chính sách hạn điền. Nhà nớc qui định trừ đại vơng và trởng công chúa, còn tất cả mọi ngời không đợc có quá 10 mẫu. Ngời
nào có nhiều ruông đợc phép đem chuộc tội, nếu không cũng phải đem nộp cho nhà nớc.
1402 Hồ Hán Thơng cải cách thuế đinh, nam, không đánh đồng loạt mà theo luỹ tiến, ngời ít ruộng mức thuế nhẹ đị, không có ruộng và hạng
cô quả không thu thuế Phép hạn điền đã đánh mạnh vào thế lực của tầng lớp quý tộc điền trang và địa chủ t hữu, tăng nguồn thu nhập cho
su thuế nhà nớc. Cùng với chính sách thuế,phép hạn diền phần nào có lợi cho những ngời nghèo ít ruộng, mặt khác, chặn đứng xu thế phát
triển tự nhiên của ruộng đất t hữu.
1401, ban hành chính sách hạn nô, Chiếu theo phẩm tớc, cấp bậc mà đợc 1 số gia nô theo qui định chung của nhà nớc. Số thừa phải sung
công, Nhà nớc trả cho 1 gia nô là 5 quan. 1402 ban hành chính sách thuế khóa mới định lại biểu thuế đinh và thuế ruộng. Mỗi mẫu ruộng thu
5 thăng thóc, đất bãi trồng dâu chia ra làm 2 loại để đánh thuế, bậc cao nhất thu 5 quan, thấp nhất thu 3 quan (thời Trần thu đồng đều 7 9
quan) thuế nhận đinh bỏ cách đánh thuế đồng đều dới thời Trần (1378) 3 quan mỗi đinh mà đánh theo lỹ tiền số ruộng của chủ.
Nhà Hồ cho các lộ làm lại sổ hộ, liên kết những ngời từ 2 tuổi trở lên. Nhà nớc dân phiêu tán đều bị loại ra ngoài sổ, dân kinh thành trú ngụ ở
các phiên Trần phải trở về quê quán. Khi sổ làm xong, số dân từ 15 - 60 tuổi tăng gấp 2 lần.
1405, nạn đói xảy ra, nhà Hồ đã lệnh cho các quan địa phơng đi khám xét nhà giáu có thừa thóc, bắt phải bán cho dân đói theo thời giá. Bên
cạnh đó cũng đặt Quảng tế thự để chữa bệnh cho dân cùng với phép hạn điền, phép hạn nô về cơ bản đã làm suy sụp tầng lớp quý tộc cũ
Nhà Trần và nền kinh tế điền trang, tăng cờng thế lực kinh tế của nhà nớc TW.
-Tổ chức HC: đổi 1 số lộ thành trấn.
ở các lộ thống nhất quản lý ở quan đô hộ, nâng các châu thành lộ, giúp việc cho đô hộ vẫn là an phủ sứ (chánh, phó) ở các phủ cố trấn phủ
sứ (chánh, phó) ở các châu đặt là thông phán và phiên phán. ở huyện đặt lệnh uý, chủ bạ tuỳ theo huyện to hay nhỏ.
Khôi phục chức giáp. Để tăng cờng GTLB đặt trạm dịch (trạm để chuyển dịch, tiếp dẫn và truyền nối thông tin), đặt chức liêm phóng sứ.
17
Củng cố kiện toàn bộ máy hành chính, đặc biệt cọi trọng chính sách cai trị, chế độ cai quản của quan lại, chế độ trực thuộc, phải nắm lộ, lộ

yêu cầu củng cố quốc gia thống nhất, tập quyền.
Tuiy nhiên, cải cách của HQL còn bộc lộ 1 số hạn chế quan trọng nh sau:
+Trong quá trình thực hiện cải cách đã thiếu triệt để trong 1 số chính sách cơ bản nh: hạn điền trang, hạn nô phát hành tiền giấy, hạn chế số
lợng ruộng đất của "thứ dân" và quan lại (trừ đại vơng trởng công chúa) đã hạn chế sự phát triển của chế độ t hữu ruộng đất. Tình hình đó
không phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử đơng thời, cần thiết lập 1 chế độ TW tập quyền.
+Công cuộc cải cách của HQL đợc thực hiện trong hoàn cảnh lịch sử đầy những khó khăn, phức tạp vừa phải giải quyết cuộc khủng hoảng
của xã hội trên nhiều mặt, vừa phải đối phó với nạn ngoại xâm đang đến gần và sự chống đối quyết liệt của quý tộc tổn thất nhà Trần.
Những hạn chế trong công cuộc cải cách đã t/d xấu đến khả năng đoàn kết toàn dân để chống giặc ngoại xâm của nhà Hồ. Cùng với những
sai lầm trong tổ chức và chỉ đạo chiến tranh trong cả chiến lợc và chiến thuật, không tổ chức và thực hiện đợc 1 cuộc chiến tranh nhân dân,
18
chỉ sau hơn nửa năm cuối 1406 đầu 1407) Quân Minh xâm lợc, cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo đã thất bại, vì HQL chỉ lo xây dựng thế
trận phòng thủ bằng thành lũy mà không biết xây dựng thế trận lòng dân. Chính Hồ Nguyên Trừng con trai cả của HQL cũng đã nói lên điều
đó khi phát biểu "Tôi không sợ đánh giặc mà chỉ sợ lòng dân không theo". Và HQL cũng đã thừa nhận khi thởng cho HNT hộp trầu vàng.
Cuộc kháng chiến bị thất bại kéo theo sự sụp đổ của vờng triều Hồ và làm thất bại cuộc cải cách đang dang dở của HQL. Cuộc xâm lợc của
nhà Minh là 1 nhân tố bên ngoài góp phần quyết định sự thất bại của cải cách HQL.
Mặc dù thất bại, HQL không hề nản chí trớc muôn vàn khó khăn, thử thách to lớn, quyết tâm cải cách để đổi mới và đánh giặc để bảo vệ đất
nớc, điều đó chứng tỏ rằng là 1 ngời yêu nớc thiết tha. Cải cách của HQL cuối thế kỷ XIVf đầu thế kỷ XV có ý nghĩa mở đầu cho 1 b ớc phát
triển mới trong lịch sử Việt Nam thời kỳ trung đại, để sau đó vào cuối thế kỷ XV đợc tiếp tục và hoàn chỉnh với những cải cách của Lê Thánh
Tông.
Nền hành chính n ớc ta d ới thời lê sơ - thế kỷ XV
Câu 12 + 15:
12.Đặc tr ng cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính n ớc ta thời Lê Sơ thế kỷ XV?
15.Đặc tr ng nền hành chính n ớc ta thời Lê Sơ?
Trả lời:
Từ lúc đem quân ra Đông Đô, Lê Lợi đã chia nớc làm 4 đạo: Đông - Tây - Nam - Bắc. 1428 khi Lê Lợi lên ngoi hiệu là Lê Thái Tổ, đặt kinh
đô tại thành Đông Quang - đặt là Đông Kinh, khôi phcụ lại tên nớc là Đại Việt. Chia nớc thành 5 đạo: Đông - Tây - Nam - Bắc (tơng ứng với
Bắc bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa).
Dới đạo là trấn, lộ, huyện, châu. Đơn vị hành chính cơ sở là xã, gồm 3 loại:
-Xã lớn - 100 ngời trở lên
-Xã vừa - 50 ngời trở lên

*Về dau đổi đạo thành đạo thừa tuyên đứng đầu là tuyên phủ sứ. ở mỗi thừa tuyên có 3 ty: đô ty (phụ trách quân đội) thừa ty (phụ trách dân
sự hyành chính) và hiến ty (phụ trách thanh tra giám sát) sau đó là các xã do xã quan đứng đầu.
Đất nớc dần hồi phục và bớc đầu phát triển. Xuất phát từ những yêu cầu mới của chính trị, trong những năm 1460 - 1497 Lê Thánh Tông tiến
hành cuộc cải cách hành chính (câu 16)
Câu 16Chế độ quan chức và đào tạo quan lại thời Lê Sơ.
Trả lời:
Song song với việc tổ chức bộ máy hành chính, nhà Lê xây dựng và kiện toàn bộ máy quan liêu.
1471 dới triều vua Lê Thánh Tông thực hiện chính sách cải cách hành chính, ban hành hiệu định quan chế để tổ chức lại bộ máy chính quyền
TW, quy định rõ trách nhiệm của các chức quan và tập trung quyền binh vào tay nhà vua.
Các chức vụ trung gian giữa vua và các cơ quan hành chính nh: tớng quốc, bộc xạ, t đồ, đại hành khiển, trung th sảnh đều bị bãi bỏ. Vua
trực tiếp chỉ đạo 6 bộ Lại, Hộ, Lễ. Binh, Hình, Công (do thợng th đứng đầu) là những cơ quan chính phụ trách mọi công tác của triều định.
Giúp việc cụ thể có 6 tự, viện Hàn Lâm, Viện Quốc Sử, Quốc Tử Giám, Bí th Giám
Bộ phận thanh tra quan lại đợc tăng cờng ngoài ngự sử đài có 6 khoa chịu trách nhiệm theo dõi các bộ.
Về võ vua cũng chỉ huy tối cao, bên dới có 5 quân đô đốc phủ các vệ quân bảo vệ kinh thành và thủ đô Vua trực tiếp nắm lấy quyền điều
hành để tránh sự thao túng quyền lực ảnh hởng đến sự giữ gìn bền vững của ngôi vua.
ở các đạo thừa tuyên, Thánh Tông đặt 3 ty: đô tổng binh sứ ty, phụ trách quân đội, thừa tuyên sứ ty, Hiến sát tứ ty phụ trách thanh tra quan
lại trong đạo của mình.
Các phủ có tri phủ đứng đầu, huyện, châu có trị huyện, tri châu, ở xác chức xã quan đợc đổi gọi là xã trởng. ở miền thợng du, các bản mờng
vẫn đợc giao cho tù trởng, lang đạo cai quản nh cũ. Riêng mạn biên giới phía bắc, nhà Lê cử thêm 1 số tớng giỏi ngời miền xuôi lên trấn trị
và biến thành "phiên thần" đời đời nối tiếp nhau cai quản địa phơng. Chủ trơng của Lê Thánh Tông là bảo đảm sự thống nhất trong chính
quyền từ trền xuống dới, từ TW địa phơng.
Hệ thống quan lại đợc sắp xếp thống nhất gừ TW địa phơng. 1471, tổng số quan lại là 53070 ngời gồm 2755 quan lại ở TW (399 quan văn,
857 quan võ, 446 tòng quan và 1 số tạp lu) 2615 quan lại ở địa phơng (926 quan văn, 857 quan võ, 41 tòng quan và 1 số tạp lu). Số quan này
đều trải qua thi cửa và đỗ đạt kể cả quý tộc họ Lê.
Để tạo điều kiện cho các quan lại làm việc theo đúng mong muốn của mình, Thánh Tông đặt quy chế lợng bổng, ruộng, lộc, phẩm tớc rõ ràng
và thống nhất theo quy chế 1477 ngoài ruộng lộc, các quan đều có lơng.
Quan ở TW:
Chính nhất phẩm: 82 quan/năm
Tòng nhất phẩm: 75 quan/năm
Chánh nhị phẩm: 68 quan/năm

phát triển giáo dục.
Có thể xem thời Lê Sơ, đặc biệt là triều Lê Thánh Tông là thời kỳ phát triển cực thịnh của giáo dục thi cử phong kiến.
Nội dung giáo dục chủ yếu là Nho giáo qua các sách tứ th, ngũ kinh, bác sử, thơ phú nhng qua các kỳ thi văn sách, hay thi Đinh ngời học đ-
ợc trình bày năng lực chính trị và sự hiểu biết thực tiễn của mình. Từ giáo dục khoa cử đã xuất hiện nhiều nhà nho, nhà chính trị, ngời giao,
nhà sử học làm rạng danh đất nớc 1 thời.
Câu 14: Trình bày bối cảnh lịch sử những nét chính của nền hành chính n ớc ta thời Lê Sở.
Trả lời:
Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến giành độc lập, 4.1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi vua, đóng đô ở Thăng Long, khôi phcụ tên nớc
là Đại Việt mở đầu triều đại nhà Lê, sử cũ thờng gọi là Hậu Lê (Lê Sơ) để phân biệt với Lê Hoàn ở thế kỷ X.
Trong khoảng hơn 70 năm (1428 - 1503) nhà Lê trải qua các đời.
Lê Thái tổ: 1428 - 1433
Lê Thái Tông 1433 - 1442
21
Lê Nhân Tông: 1443 - 1459
Lê Thánh Tông: 1460 - 1497
Lê Hiến Tông 1497 - 1505
Nhà nớc quân chủ TW tập quyền thời nhà Lê ngày càng đợc củng cố và đạt tới mức độ phát triển cao. Tình hình kinh tế - chính trị - xác hội
ổn định.
-Nhà nớc nét chính của nền hành chính
1.Cơng vực, địa giới hành chính.
Lê Thái Tổ (1428 - 1433) thắng quân Minh rồi định đô ở Thăng Long, khi ấy gọi là Đông Đô gồm 2 huyện Vĩnh Xơng và Quảng Đức)
1430, đổi Đông Đô là Đông Kinh và đổi Tây Đô (Lam Sơn) thành Tây kinh. Chia cả nớc thành 5 đạo gồm 19 trấn hay lộ.
1.Bắc Đạo (Lạng Gaing, Bắc Giang, Thái Nguyên)
2.Tây Đạo (Tuyên Quang, Hng Hóa, Gia Hng, Tam Giang).
3.Đông Đạo: (An Bang, Hồng Sách Thợng, Hồng Sách Hạ)
4.Nam Đạo: Lý Nhân, Khóai Châu, Tân Hng, Kiến Xơng, Phiên Trờng.
5.Hải Tây Đạo: Thanh Hóa - Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa. Đạo này mới đợc đặt 1428, 4 đạo trên đặt từ thời chống Minh, Lê Thái Tông,
Nhân Tông vẫn giữ cách phân bố hành chính nh trên.
Lê Thánh Tông (1460 - 1497) là 1 vị vua anh minh, đã nâng cao phẩm chất văn hóa và đạo lý cho nhân dân, lại mở mang thêm bờ cõi và tổ
chức quản trị lãnh thổ rất chu đáo. 1466, Thánh Tông chia cả nớc ra làm 12 đạo thừa tuyên.

Năm 1490 đổi tên thừa tuyên làm xứ. Nha vậy cả nớc có 13 xứ, 52 phủ, 172 huyện, 50 châu, 37 phờng, 6851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách,
40 động, 30 nguyên, 30 trờng. Mỗi xã thờng không quá 500 hộ, khi quá số này này khoảng 100 hộ lại chia làm 2 xã.
2.Tổ chức bộ máy hành chính nhà nớc.
Vua Lê Thái Tổ chấn chỉnh bộ máy nhà nớc theo mô hình thời Trần.
Dới vua có 2 chức tả, hữu tớng quốc, tam t, tam thái, tam thiếu, bộc xạ giúp việc bàn bạc quyết định những công việc quan trọng của triều
định tiếp đến là 2 ban văn - võ.
-Ban văn do đại hành khiển đứng đầu, phụ trách chung mọi công việc. Sau đó là bộ ại và bộ lễ do th ợng th đứng đầu. Các cơ quan chuyên
trách: khu mật viện, hàn lâm viện
-Ban võ thì có các chức đại tổng quản, đại đô đốc, đứng đầu 6 quân điện tiến, 5 quân thiết dột ở địa phơng đứng đầu đạo là Hành khiển phụ
trách mọi việc quân dân sau đó là các an phủ sử, tri huyện, tuyên phủ sứ. Chuyển vận sứ đứng đầu các trấn, lộ, huyện. Xác có các quan.
Đến đời Thánh Tông, bộ máy hành chính quan liêu lại đợc chỉnh đốn 1 lần nữa. Theo sắc dụ 1471, các chức có quyền hạn ngang tể tớng đều
bị bãi bỏ. Nhà vua nắm tất cả các quyền hành, trực tiếp điều khiển mọi việc triều chính. Thánh Tông đổi lộ phủ, trấn châu để thống
nhất các khu vực hành chính, vừa để giảm bớt các cấp trung gian.
3.Chế độ quan chức, đào tạo quan lại (câu 16)
4.Quốc Phòng:
Song song với việc xây dựng bộ máy quan liêu, nhà Lê củng cố lực lợng quân đội khá vững mạnh để trấn áp các lực lợng chống đối, bảo vệ
nền thống trị và lãnh thổ quốc gia thời kỳ của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc phát triển cao nhất, quân đội của Lê Lợi đã lên tới 35 vạn
ngời. Sau khi thắng lợi, số nghĩa binh có tính chất nhân dân đó đã chuyển thành quân đội của nhà nớc quân chủ.
1428, Lê Lợi cho 25 vạn quân trở về quê quán làm ruộng chỉ giữ lại 10 vạn quân thờng trực. Đến thời Lê Thánh Tông, việc tuyển lính đợc
quy định chặt chẽ gia đinh có 3 4 suất đinh thì lấy 1 ngời vào hạng tráng (ra lính ngay). 1 ngời sung vào hạng quân (trù bị) gia đình có 5
6 suất đinh thì lấy 2 ngời sung vào hạng tráng và 1 ngời sung vào hạng quân.
Quân lính đều đợc chia ruộng đất công làng xã và thay phiên nhau về sản xuất để tựu cấp. Đó là chính sách "ngụ binh nông" đã đợc áp dụng
từ thời Lý Trần có t/d bảo đảm sản xuất nông nghiệp, giảm bớt số ngời thoát ly sản xuất vừa giảm nhẹ chi phí của nhà nớc, vừa đảm bảo số
quân thờng trực.
Các vua Lê không đặt chức tổng chi huy quân đội nhằm tập trung quyền lực vào tay nhà vua. Quân đội nhà Lê gồm chó thuỷ bình, bộ binh, t -
ợng binh và ly binh đợc rèn luyện, diễn tập hàng năm. Nhờ tổ chức và huấn luyện chu đào, quân đội có trình độ kỹ thuật và tác chiến khá cao
so với thời bấy giờ. với lực lợng quân sự đó, nhà Lê đã trấn áp các lực lợng chống đối bên trong và bên ngoài.
5.Chính sách phát triển kinh tế:
Sau hơn 20 năm bị nhà Minh đô hộ, nền kinh tế nớc ta bị tàn phá nặng nề. Nhà Lê sau khi lên ngôi ban hành những chính sách kinh tế tích
cực phục hồi phát triển kinh tế.

quyền nhng kết quả chẳng đợc là bao. 1499 ra sắc lệnh sa thải bớt lại viên trong bộ máy chính quyền từ TW địa phơng. Mô hình tập
quyền quan liêu không còn phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội, đã bất lực trong việc điều hành đất nớc.
Sang đầu thế kỷ XVI, nhất là từ sau khi Lê uy mục lên ngôi 1505, triều đình mất hết vai trò tích cực, vua quan lao vào con đ ờng ăn chơi sa
đoạ, áp bức bóc lột nhân dân. Chính sự trong triều rối loạn, các thế lực chống đối nổ lên khắp nơi.
1509 Lê Dinh từ Thanh Hóa đem quân ra Thăng Long lật đổ Uy Mục, giành lấy ngôi vua, sau này đợc truy tôn làm Tơng Dực đế (1509 -
1516) lên ngôi, Tơng Dực cũng không đa ra đợc biện pháp gì mới để củng cố chính quyền. Trong khi đó, mâu thuẫn giữa các ph phái trong
triều ngày càng trầm trọng. Nhà vua ăn chơi sa đọa tốn kém. Lợi dụng sự tha hóa của vua quan triều định, nhiều cuộc nổi dậy nổ ra ở nhiều
địa phơng. Cuộc tranh chấp diễn ra chủ yếu giữa 2 phe phái quân phiệt do các tớng Trịnh Tuy và Nguyễn Hoàng Dụ cầm đầu đối với những
cợc xung đột xảy ra giữa thành Thăng Long. Trong cuộc chiến tránh hỗn loạn ấy, xuất hiện 1 phe phái mới có thế lực mạnh do Mạc Đăng
Dung cầm đầu.
Mạc Đăng Dung ngời Hải Dơng, trúng tuyển kỳ thi võ 1508, đợc tuyển vào quân túc vệ giữ chức chỉ huy sứ rồi thăng dần lên chức phó t ớng.
Mạc Đăng Dung khôn khéo lợi dụng những và xung đột giữa các phe phái để củng cố địa vị và thế lực của mình. Năm 1516, Mạc Đăng
Dung tìm cách diệt trừ dần các thế lực đối lập và tập trung quyền hành về tay mình. 1521 thì thực sự năm mọi quyền binh trong triều đình
nhà Lê.
24
1521 vua Chiêu Tông trốn lên vùng Sơn Tây dựa vào quân lính các trấn chống lại Mạc Đăng Dung 1525 Chiêu tông bị Đăng Dung bắt và giết,
2 năm sau thì Đăng Dung chính thức lập ra nhà Mạc.
Nhà Mạc tuy đã thành lập, nhng cuộc tranh chấp giữa các phe phái tiếp diễn gay gắt các quan lịa và tớng tá cũ của nhà Lê nổi dậy ở nhiều
nơi. ở vùng sầm Châu (phía tây Thanh Hóa, Nghệ An), 1 viên tớng của nhà Lê là Nguyễn Kim cũng ra sức tập hợp lực lợng chống nhà Mạc.
Cuối 1539 Nguyễn Kim tấn công xuống miền Thanh Hóa rồi dần dần chiếm giữ vùng Thanh Nghệ. 1545 Nguyễn Kim bắt đầu tấn công ra
vùng Sơn Nam nhng trong cuộc hành quân này Nguyễn kim bị 1 hàng tớng của nhà Mạc đầu độc chết cuộc tấn công phải dừng lại. Sau đó
con rể là Trịnh kiểm lên thay tiếp tục cuộc chiến tranh với nhà Mạc.
Nh vậy sau khi triều Lê sụp đổ, cuộc tranh giành giữa các phe phái đã dẫn đến sự thiết lập 2 chính quyền thù địch: chính quyền họ Mạc ở Bắc
Bộ, đóng đô ở Thăng Long và chính quyền nhà Lê ở vùng Thanh Hóa trở vào, sử gọi là Bắc Triều và Nam Triều.
2.Đặc trng của nền hành chính Bắc Triều dới thời nhà Mạc.
-Cơng vực hành chính: từ Sơn Nam ra Bắc thuộc về phạm vị cai quản của nhà Mạc.
-Sau khi lên ngôi vua, Mạc Đăng Dung phong chức tớc cho họ hàng, phe cánh và 3 năm sau (1530) thì nhờng ngôi cho con là Mạc Đăng
Doanh, lui về làm thái thợng hoàng, bắt chớc chế độ nhà Trần ngày trớc.
-Tồn tại trong bối cảnh luôn bị sự chống đối của các cựu thần nhà Lê, nhà Mạc chỉ cố gắng củng cố mô hình tổ chức chính quyền từ TW
địa phơng vốn đã khá hoàn chỉnh từ cuối thế kỷ XV.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status