BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
Tỷ giá hối đoái và tác động của tỷ giá đến
ngoại thương Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn: T.S Nguyễn Hữu Khải
Sinh viên : Vũ Thị Bích Thu
Lớp : A10K38C
Hà Nội, 12/2003
i
International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
NHNN
(NHTW)
Central Bank
Ngân hàng Nhà nước/Ngân hàng
Trung ương
NHTM
Commercial Bank
Ngân hàng thương m
ại
ODA
Official Development Aids Hỗ trợ phát triển chính thức
OPEC
Organization of Petroleum
exporting countries
Tổ chức các nước xuất khẩu
dầu lửa
PPP
Purchasing Power Parity Ngang giá sức mua
VCCI
Vietnam Chambers of
Commerce and Industry
Phòng thương m
ại và công nghiệp
Việt Nam
WB
World Bank Ngân hàng Thế giới
1.2.8.Chính sách tiền tệ 29
1.2.9.Sự can thiệp của nhà nước 30
1.3.Tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương 33
1.3.1.Tác động của biến động tỷ giá lên hoạt động xuất khẩu 34
1.3.2.Tác động của biến động tỷ giá lên hoạt động nhập khẩu 37
1.3.3.Tác động của phá giá, nâng giá tiền tệ lên tổng thể hoạt động
ngoại thương 38
Chương 2: Ngoại thương Việt Nam dưới tác động của tỷ giá
hối đoái 44
2.1.Đánh giá sơ bộ hoạt động ngoại thương Việt Nam trong xu thế hội nhập 45 ii
2.1.1.Qui mô, tốc độ tăng trưởng ngoại thương 46
2.1.2.Cơ cấu các mặt hàng xuất – nhập khẩu 50
2.1.3. Thị trường xuất – nhập khẩu 54
2.2.Thực tiễn điều hành tỷ giá hối đoái và tác động của tỷ giá tới
ngoại thương Việt Nam 58
2.2.1.Giai đoạn trước đổi mới 1986 58
2.2.2.Giai đoạn sau đổi mới 1986 63
2.2.2.1.Giai đoạn 1986-1989 63
2.2.2.2.Giai đoạn 1989-1992 65
2.2.2.3.Giai đoạn 1993-1996 70
2.2.2.4.Giai đoạn 1997-1999 75
2.2.2.5.Giai đoạn 2000- nay 76
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường tác động tích cực của tỷ
giá hối đoái lên hoạt động ngoại thương Việt Nam 82
3.1.Căn cứ lựa chọn giải pháp 83
3.2.Một số giải pháp cụ thể 86
3.2.1.Giải pháp vĩ mô 86
Theo T.S. Howard J.Shatz, giảng viên Trung tâm phát triển quốc tế Havard
(Mỹ) thì đối với xuất khẩu nói riêng và hoạt động ngoại thương nói chung, việc điều
chỉnh tỷ giá hay tác động gián tiếp đến tỷ giá được xem là công cụ hữu hiệu nhất
hướng ngoại thương phát triển theo chiều hướng có lợi cho các quốc gia. Ý thức được
tầm quan trọng của tỷ giá, nhiều quốc gia đã tìm đến công cụ này nhằm tạo được sự
đột phá trong phát triển ngoại thương. Sự phát triển vượt bậc của Nhật Bản những
năm 60, 70 thế kỷ trước cũng do bởi Chính phủ Nhật Bản đã sử dụng công cụ tỷ giá
rất đúng đắn bằng cách duy trì chính sách đồng Yên yếu. Và kết quả là việc hàng hóa
Nhật Bản với chất lượng ngang bằng hàng hóa Châu Âu được cung cấp với giá cực rẻ
đã đưa Nhật Bản trở thành cường quốc đứng thứ 2 thế giới sau Mỹ. Minh chứng mới
đây nhất cho tầm quan trọng của tỷ giá chính là việc các nước G7 ép Trung Quốc
phải nâng giá đồng Nhân dân tệ bởi việc định giá quá thấp đồng nhân dân tệ so với đô
la Mỹ đã làm tổn hại đến ngoại thương nước họ. Tính đến thời điểm này, Trung Quốc ii
đã có thặng dư thương mại lên đên 183 tỷ đô la với Mỹ và dự trữ ngoại hối của Trung
Quốc đã được xếp vào vị trí số 3 trong 10 nước có dự trữ ngoại tệ lớn nhất
(39)
.
Trong khi công cụ tỷ giá luôn được các quốc gia trên thế giới đề cao thì ở Việt
Nam, tỷ giá dường như chưa được hiểu theo đúng nghĩa của nó. Người ta dường như
hờ hững với mọi biến động của tỷ giá và cho rằng vấn đề tỷ giá là mảng đề tài cổ lỗ,
rằng trong mối tương quan với hoạt động xuất nhập khẩu, tỷ giá không có ảnh hưởng
gì mấy. Và lối nghĩ ấy đã liên tiếp đưa việc điều hành chính sách tỷ giá của Việt Nam
xa rời thực tiễn. Cơ chế cố định tỷ giá từ trước những năm đổi mới quay trở lại với
cái mác tỷ giá thả nổi có quản lý song lại quản lý theo kiểu bò trườn (một dạng khác
của tỷ giá cố định). Chính cách quản lý này đã khiến tỷ giá danh nghĩa bị định cao
hơn so với tỷ giá thực rất nhiều lần, giá hàng nhập khẩu nhờ đó đột nhiên rẻ đi, tốc độ
nhập siêu tăng đến mức kỷ lục (dự kiến khoảng 66% năm 2003 so với 2002)
khuôn khổ tác động của tỷ giá USD/VND lên hoạt động xuất-nhập khẩu hàng hóa
hữu hình. Bên cạnh đó, để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài đã sử dụng một số số
liệu phân tích, tổng hợp tình hình đặc biệt từ năm 89 đến nay.
5. Nội dung nghiên cứu:
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu
thành 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về tỷ giá hối đoái và tác động của tỷ giá đến hoạt
động ngoại thương.
Chương 2: Ngoại thương Việt Nam dưới tác động của tỷ giá hối đoái.
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường tác động tích cực của tỷ giá hối đoái
lên hoạt động ngoại thương Việt Nam.
6.Những đóng góp của đề tài:
Đề tài đã tổng hợp được tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động ngoại
thương Việt Nam suốt giai đoạn 1955 đến nay và đã nêu được một số luận chứng làm
cơ sở cho việc điều hành tỷ giá hối đoái của Việt Nam. Tuy nhiên, do thời gian và
trình độ còn hạn chế, đề tài chắn chắn sẽ không tránh khỏi sai sót, điển hình là chưa
biểu thị được mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và tổng thể hoạt động ngoại thương
Việt Nam bằng mô hình kinh tế lượng.
Cuối cùng, người viết xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới T.S Nguyễn Hữu Khải,
người đã có những nhận xét quý báu trong quá trình đề tài được thai nghén và thực
thi.
iv
ngoại hối, lãi suất, lạm phát, cán cân thanh toán…tỷ giá còn chịu tác động bởi
những yếu tố nếu thoáng qua sẽ tưởng như chẳng có mối ràng buộc nào cả. Ví như
công việc của một người bán hàng rong: xét một cách cụ thể công việc của một
người bán hàng rong ảnh hưởng đến thu nhập của anh ta, đến lượt thu nhập lại tác
động lên chi tiêu thực tế, gây ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng và cuối cùng là tỷ
giá hối đoái thực tế. Mặc dù biến động của tỷ giá hối đoái là vô cùng phức tạp song
tỷ giá luôn là đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu kinh tế cũng như các nhà quản
lý vĩ mô trong bối cảnh tự do hóa thương mại hiện nay. Các quốc gia trên thế giới từ
lớn đến nhỏ, từ mạnh đến yếu đều ý thức được rằng tỷ giá hối đoái sẽ là một công
cụ hữu hiệu, một liều thuốc cứu cánh cho thương mại các quốc gia nói chung cũng
như ngoại thương nói riêng đang trong tình trạng hấp hối. Việc nghiên cứu những lý
luận cơ bản về tỷ giá hối đoái dưới đây do đó sẽ giúp ta hiểu hơn tại sao tỷ giá hối
đoái lại quan trọng đối với các quốc gia đến như vậy.
1.1.Khái niệm, cơ chế hình thành và phân loại tỷ giá hối đoái:
1.1.1. Khái niệm:
Tất cả chúng ta đã quá quen thuộc với khái niệm thương mại trong nước, khi
ta mua cam Sài Gòn hay bưởi Vĩnh Long, tất nhiên chúng ta sẽ trả bằng tiền đồng
của Việt Nam và tất cả những người bán cũng muốn chúng ta trả cho họ bằng đồng
tiền như vậy. Điều đó cho thấy các giao dịch kinh tế trong phạm vi một nước rất
đơn giản. Song nếu chúng ta muốn mua cam California (Mỹ) thì mọi việc sẽ hoàn
toàn khác. Các nhà xuất khẩu Mỹ sẽ muốn chúng ta trả cho họ đô la Mỹ chứ không
phải tiền đồng Việt Nam, do đó ta sẽ phải mua đô la Mỹ, từ đó dùng lượng đô la
này để trả cho họ. Một câu hỏi đặt ra liệu chúng ta sẽ cần bao nhiêu đô la Mỹ ? Khi
ấy, chúng ta sẽ phải quan tâm đến một khái niệm mới đó là: tỷ giá hối đoái. 2
Karl Mark (1818-1883) chính là người đầu tiên đưa ra khái niệm tỷ giá hối
đoái. Trong bộ “Tư bản”(1858) ông viết: “Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế
lịch sử, gắn với giai đoạn phát triển sản xuất của xã hội, tính chất,cường độ tác
3
Trong cách viết EUR/VND, EUR đứng trước gọi là tiền yết giá và là một đơn vị
tiền tệ; VND đứng sau là tiền định giá, là một số đơn vị tiền tệ thay đổi phụ thuộc
vào thời giá của tiền yết giá
(35)
.
1.1.2.Cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái có một quá trình phát triển lâu dài, trải qua nhiều chế độ khác
nhau, các chế độ tỷ giá hối đoái luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển
của thương mại thế giới. Từ chế độ bản vị vàng (1875-1914) đến chế độ bản vị hối
đoái vàng (1944-1972) rồi chế độ tỷ giá thả nổi, thả nổi có quản lý (1975 - nay), tỷ
giá đều được hình thành trên tương quan so sánh giá trị đồng tiền quốc gia này với
quốc gia khác bất kể đó là vàng hay là tiền tệ của một quốc gia đơn lẻ nào đó. Có
thể nói trong lịch sử phát triển của mình, tỷ giá được hình thành trên hai ngang giá
chính đó là ngang giá vàng và ngang giá sức mua.
1.1.2.1.Ngang giá vàng:
Trước năm 1850, rất nhiều quốc gia trên thế giới theo đuổi một chế độ tiền tệ
song bản vị: bạc và vàng là hai loại tiền tệ chính được lưu hành trong thanh toán
thương mại giữa các quốc gia, tỷ giá hối đoái do đó được hình thành trên cơ sở so
sánh hàm lượng vàng và bạc. Năm 1850, khi khám phá ra hai mỏ vàng mới ở Mỹ và
Úc, lượng vàng khai thác được đổ dồn về các quốc gia Châu Âu. Nếu trước đó chỉ
có Anh tiến hành vàng hóa thanh toán (tức mọi giấy bạc của Anh đều đổi được ra
vàng) thì năm 1851, Pháp và một số quốc gia khác cũng đi theo bước chân của Anh.
Đồng bạc bị loại khỏi thanh toán và chế độ bản vị vàng bắt đầu.
Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền của hai nước bất kì thời kỳ bản vị vàng
được quyết định dựa trên việc so sánh hàm lượng vàng của hai nước với nhau. Giả
sử hàm lượng vàng của đồng bảng Anh (GBP) là 1 ounce = 6 GBP trong khi hàm
lượng vàng của franc Pháp (FRF) là 1 ounce = 12 FRF thì suy ra:
6GBP = 12FRF 1GBP = 2FRF
cùng với việc giấy bạc không được tự do đổi ra vàng theo hàm lượng vàng ấn định,
ngang giá vàng không còn là cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái; thay vào đó, việc so
sánh hai đồng tiền với nhau được thực hiện bằng so sánh sức mua của hai loại tiền
tệ. Tỷ giá hối đoái hình thành trên cơ chế ngang giá sức mua ra đời. Và để nghiên
cứu cơ chế này, chúng ta hay cùng nhau tìm hiểu thuyết ngang giá sức mua.
Ý tưởng ngang giá sức mua xuất phát từ thế kỉ thứ 19 với sự góp mặt của nhà
kinh tế học trường phái cổ điển David Ricardo, sau đó được mở rộng và hệ thống
hóa bởi nhà kinh tế học Thụy Điển Gustav Cassel những năm 1920. Ngang giá sức
mua nhanh chóng được đón nhận trong bối cảnh siêu lạm phát diễn ra ở Đức, 5
Hungari và Liên bang Xô Viết khi sức mua tiền tệ các quốc gia này đột nhiên sụt
giảm bất ngờ. Thuyết ngang giá sức mua được xây dựng trên sự phát triển qui luật
một giá cho rằng: Tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ hai quốc gia sẽ bằng tỷ lệ giữa mức
giá của hai quốc gia đó. Từ đây, tỷ giá hối đoái được hình thành như sau: nếu xem
P
D
là mức giá của giỏ hàng hóa trong nước (tính bằng nội tệ), P
F
là mức giá của giỏ
hàng hóa (tính bằng ngoại tệ) thì :
Tỷ giá hối đoái (số đơn vị nội tệ /1 đơn vị ngoại tệ) = P
D
/ P
F
Ví dụ tại Mỹ, một áo sơ mi bán với giá 4 USD trong khi tại Anh, cũng áo đó
nhưng giá bán là 3 GBP thì trên thị trường Mỹ, tỷ giá sẽ là 1GBP = 4/3 = 1,3 USD.
Cách áp dụng tính tỷ giá như trên gọi là PPP tuyệt đối, chỉ đúng trong trường
1.1.3. Phân loại:
Tỷ giá hối đoái trên cơ sở thực tiễn đã được phân làm nhiều loại, dựa trên
những căn cứ khác nhau mà người ta phân loại ra những cặp tỷ giá khác nhau.
Trong khuôn khổ của đề tài, người viết xin đưa ra những tỷ giá tiêu biểu nhất được
xem là khuôn mẫu cho quá trình vận động của tỷ giá.
*Căn cứ vào thời điểm thanh toán:
_Tỷ giá giao ngay: là tỷ giá dùng cho các mua bán ngoại hối thanh toán ngay
vào ngày hôm đó hoặc sau đó 2 ngày.
_ Tỷ giá kỳ hạn : là tỷ giá được dùng cho các giao dịch kỳ hạn, thời gian giữa
ngày kí hợp đồng và ngày giao tiền thường kéo dài từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9
tháng hay 1 năm.
*Căn cứ vào tính chất của tỷ giá:
_Tỷ giá danh nghĩa: Tỷ giá danh nghĩa được hiểu là tỷ giá đo lường giá trị
danh nghĩa của đồng tiền mà không phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa trong
nước trong trao đổi thương mại quốc tế. Sự phá giá tỷ giá danh nghĩa vì vậy cũng
không phản ánh được sự thay đổi trong tính cạnh tranh quốc tế hàng hóa một nước
như tỷ giá thực tế trình bày dưới đây.
_Tỷ giá thực tế
(i)
: là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo mức giá tương
đối giữa các nước, có tính đến sức mua thực tế và quyết định tính cạnh tranh của
hàng hóa quốc gia.
*Căn cứ vào phương tiện thanh toán:
_Tỷ giá điện hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện, là cơ sở xác định các loại
tỷ giá khác
_ Tỷ giá thư hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư.
(i)Tỷ giá danh nghĩa được công bố hàng ngày trên thông tin đại chúng trong khi tỷ
giá thực tế phải được tính toán dựa trên tỷ giá danh nghĩa như sau:
Tỷ giá thực tế = (Tỷ giá danh nghĩa * Mức giá nước ngoài)/ Mức giá trong nước
việc ngân hàng trung ương phải thường xuyên can thiệp vào thị trường ngoại hối
giữ tỷ giá ổn định, dẫn đến cạn kiệt lượng ngoại hối dự trữ…
_Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: tỷ giá thả nổi được ưa chuộng sau khi hệ thống
Bretton Wood sụp đổ, tỷ giá thả nổi hoàn toàn được xác lập hoàn toàn dựa trên cung
cầu ngoại hối, sự vận động hàng ngày của tỷ giá thả nổi đều phản ánh chính xác sự
luân chuyển các luồng tiền tệ giữa các quốc gia, ngân hàng trung ương sẽ không còn 8
gặp nguy cơ cạn kiệt dự trữ ngoại hối như trong trường hợp tỷ giá cố định nữa,
chính sách tiền tệ trở nên độc lập hơn Tuy vậy, trong sự vận động không hoàn hảo
của thị trường, tỷ giá hoàn toàn thả nổi cũng ẩn chứa nhiều rủi ro; đó là hễ tỷ giá hối
đoái thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi trong cán cân thanh toán, cụ thể hơn là cán cân
thương mại để phù hợp với mức tỷ giá mới. Tỷ giá thả nổi sẽ luôn gây ra sự sụt giá
trên thị trường nội địa do những thay đổi về lợi nhuận của các nhà đầu tư, các nhà
xuất- nhập khẩu. Chưa hết, tỷ giá thả nổi còn là miếng mồi béo bở cho những kẻ
đầu cơ tiền tệ, việc đầu cơ theo trào lưu rất dễ gây tổn thương khu vực tài chính,
tiền tệ của nền kinh tế.
_Tỷ giá thả nổi có quản lý: Đây là loại tỷ giá được ưa chuộng nhất, đứa con
ruột của cuộc hôn phối giữa tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi, nó khắc phục được các
nhược điểm của cả hai loại tỷ giá trên. Trong tỷ giá thả nổi có quản lý, tỷ giá vận
hành theo sự biến động cung cầu thị trường, chính phủ sẽ can thiệp vào thị trường
ngoại hối khi cần thiết, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ dựa trên điều chỉnh tỷ giá chính
thức. Tỷ giá thả nổi có quản lý một mặt phản ánh cung cầu ngoại hối, mặt khác đáp
ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế thông qua việc điều chỉnh tỷ giá của
nhà nước nên được các quốc gia rất ưa chuộng. Tính từ đầu năm 1970 đến nay, số
quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý đã tăng từ 23% (trong tổng số các
quốc gia) lên tới 84% năm 2002 và Việt Nam chúng ta cũng nằm trong số các quốc
gia này
(47)
các nhân tố như cán cân thanh toán, đầu cơ, lạm phát, lãi suất, buôn lậu…Trái lại,
trong một nền kinh tế mở cửa, dù là mở cửa ở mức độ nào thì tỷ giá hối đoái cũng
được xem là vô cùng nhạy cảm, hấp thu mọi tác động từ các biến số kinh tế vĩ mô
khác, các nhà hoạch định do đó cần phải rất thận trọng khi điều chỉnh tỷ giá hối
đoái, phải cân nhắc tới mọi động thái, mọi nhân tố tác động để có thể đạt được mục
tiêu hiệu quả trên tổng thể trên toàn bộ nền kinh tế. Xuất phát từ thực tiễn hơn 80%
tổng số quốc gia trong đó có Việt Nam theo đuổi chiến lược mở cửa nền kinh tế,
phần này sẽ chỉ tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong
nền kinh tế mở và hãy bắt đầu bằng một nhân tố quen thuộc: Độ mở nền kinh tế.
1.2.1. Độ mở nền kinh tế:
Theo Tiến sĩ kinh tế học Johnathan Heward hiện đang là giảng viên trường
Đại học Arizona (Mỹ) thì độ mở nền kinh tế chính là mức độ mà một quốc gia tham
gia thương mại quốc tế, quan hệ quốc tế, tiến hành việc giao lưu hàng hóa, tiền tệ,
lao động, bí quyết công nghệ và vốn với phần còn lại của thế giới. Ông cũng đã tiến
hành nghiên cứu và đặt trọng số về độ mở nền kinh tế, vấn đề này có thế được khái
quát giản đơn bằng sơ đồ sau: 10
Sơ đồ 1: Sơ đồ giới hạn mức độ mở cửa
Mức độ mở cửa (%)
0 50 +100
(Đóng cửa) (Độ mở trung bình) (Hoàn toàn mở cửa)
Nguồn: Báo cáo chiến lược kinh tế bang Arizona (Mỹ), 11/2001.
Ở mức 0%, nền kinh tế trong trạng thái “ngủ”, nhân tố mở không còn, khái
niệm độ mở không tồn tại và do đó cũng sẽ không có tác động của độ mở nền kinh
tế lên tỷ giá hối đoái. Mức 0% đến 50% là các quốc gia có độ mở vừa phải, đa số là
các quốc gia đang phát triển, nền kinh tế nhỏ mở cửa, thu nhập bình quân đầu
người ở mức thấp đến trung bình (dưới 1000 USD) trong đó có thể kể đến Lào,
hối đoái. Chi phí giao dịch ngoại hối giảm do việc áp dụng hàng loạt các biện pháp
mới khi mở cửa như thanh toán điện tử… cộng với chính sách cho phép người
ngoại quốc được mua trái phiếu, cổ phiếu, dòng vốn luân chuyển trên thị trường
vốn, thị trường tiền tệ cũng như giữa hai thị trường này trở nên dễ dàng hơn,
thường xuyên hơn, gây tác động trực tiếp đến cung cầu ngoại hối, cung cầu ngoại
hối đến lượt nó lại quyết định mức độ của tỷ giá, vấn đề này sẽ được bàn kĩ trong
phần 1.2.5
Mở cửa nền kinh tế cũng đồng nghĩa tìm kiếm những cơ hội đầu tư từ các đối
tác nước ngoài. Những mức độ mở cửa khác nhau hay nói đúng hơn là mức độ cho
phép các nhà đầu tư đầu tư vào những lĩnh vực nào cũng sẽ dẫn đến các tác động
khác nhau lên tỷ giá hối đoái. Đối với những nước bắt đầu mở cửa, danh mục
khuyến khích đầu tư thường hạn chế, đầu tư nước ngoài không phản ánh đúng vai
trò của nó, không kích thích sản xuất, tiêu dùng, sản phẩm trong nước chất lượng
yếu kém song dân chúng vẫn bắt buộc phải mua do cung có giới hạn dẫn đến vấn đề
giảm giá đồng nội tệ do sức mua đồng nội tệ giảm. Hiệu ứng trên có thể xem là
ngược lại đối với các quốc gia có độ mở cửa lớn.
Tuy nhiên, có thể thấy độ mở cửa càng cao thì rủi ro tài chính tiền tệ càng
lớn, quốc gia tiến hành mở cửa sẽ bị phụ thuộc khá nhiều vào các tác động bên
ngoài, tỷ giá hối đoái do đó rất dễ bị tổn thương. Mức độ giao lưu vốn, liên kết trực
tiếp lãi suất nội địa và lãi suất quốc tế sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến tính hiệu
lực của tỷ giá. Trong trường hợp quốc gia cố định tỷ giá kèm theo tự do giao lưu 12
vốn thì một sự giảm trong lãi suất quốc tế cũng sẽ dẫn đến lãi suất nội địa giảm, làm
tăng sức ép đối với tỷ giá thông qua cán cân vãng lai.
Việc mở cửa, mức độ hội nhập bản thân nó đã thôi thúc các quốc gia đến
các quyết định ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương về tỷ
giá hối đoái. Đó là trường hợp các thành viên của Cộng đồng kinh tế Châu Âu (sau
là Liên minh Châu Âu: EU) đã cùng nhau kí kết Hiệp định Roma năm 1957, ấn định
Nói tóm lại, mức độ mở cửa luôn được xem là một trong những nhân tố ảnh
hưởng đến tỷ giá hối đoái. Mở cửa tác động trực tiếp đến các nhân tố mũi nhọn như
thương mại, đầu tư, du lịch, ngân hàng, tài chính…sự tăng giảm các yếu tố này
cũng sẽ gây ra những biến động cho tỷ giá hối đoái, song việc mở cửa đến mức độ
nào nhằm đảm bảo tận dụng triệt để được hiệu quả của tỷ giá thì vẫn là một bài
toán khó cần phải giải đáp.
1.2.2. Lãi suất:
Lãi suất là một trong những công cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ, lãi suất
đóng một vai trò quan trọng trong việc ấn định mức tỷ giá hối đoái một cách hợp lý.
Xét về định nghĩa, lãi suất được xem là “mối tương quan giữa khoản tiền lãi mà một
người cho vay nhận được với khoản tiền vốn mà người đó cho vay, được biểu thị
bằng một số phần trăm trong một thời gian nào đó”
(5)
hay nói một cách đơn giản,
lãi suất chính là giá cả của đồng tiền. Lãi suất được xem là công cụ của NHTW
trong việc điều chỉnh tỷ giá, một sự gia tăng lãi suất nội tệ thường được sử dụng
như một bảo bối kinh điển để bảo vệ tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn. Năm 1989,
Chính phủ Việt Nam đã có những nhận thức cơ bản trong chính sách lãi suất, lần
đầu tiên đã phân biệt được lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa (lãi suất thực tế
= lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát; nếu lãi suất danh nghĩa = tỷ lệ lạm phát thì lãi
suất thực tế = 0, điều này đồng nghĩa với việc gửi tiền không được lãi ), lãi suất tiền
Q (JPY)
D’
D
S
1
(27)
.
Còn đối với lãi suất ngoại tệ, một khi lãi
suất ngắn hạn ở một nước cao hơn mức lãi suất quốc tế, vốn ngắn hạn sẽ chảy vào
với mục đích thu lãi dựa trên những khoản chênh lệch đó và kết quả là cung ngoại
hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm xuống kéo theo tỷ giá giảm.
(35)
Mối quan hệ giữa tỷ giá và lãi suất cũng đã được nhiều nhà kinh tế học quan
tâm. Theo lý thuyết ngang giá lãi suất, đồng tiền của một quốc gia nào có lãi suất
thấp hơn thì nhất định sẽ bù kì hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối với đồng tiền của một
quốc gia nọ có lãi suất cao hơn hay nói đơn giản hơn là sự cân bằng thị trường hối
đoái đòi hỏi sự ngang bằng về tiền lãi, lợi tức của hai loại tiền gửi bất kỳ là tương
đương nhau khi cùng quy về một đồng tiền. Và khi tất cả các lãi suất dự kiến bằng
nhau tức có sự xuất hiện ngang giá lãi suất thì thị trường hối đoái sẽ cân bằng do
không thể có dư cung hoặc dư cầu. Tuy nhiên lý thuyết ngang giá lãi suất này lại
được xây dựng dựa trên nguyên tắc cố định các nhân tố khác (cetacis paribas) nên
độ chính xác chỉ có tính tương đối, tỷ giá hối đoái tương lai phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố chứ không chỉ có riêng lãi suất, song xét cho cùng đây cũng là lý thuyết đầu
tiên mô phỏng khái quát ảnh hưởng của lãi suất lên tỷ giá và cũng đã gặt hái được
nhiều thành công nhất định
(34)
.
Bên cạnh lý thuyết cân bằng lãi suất, thực tế đã chứng minh sự chênh lệch lãi
suất là căn nguyên cơ bản dẫn đến những biến động của tỷ giá hối đoái. Lãi suất
cao sẽ hấp dẫn các luồng vốn nước ngoài chảy vào trong nước, nếu lãi suất nội tệ
cao hơn lãi suất ngoại tệ ở nước ngoài thì dòng vốn ngắn hạn chảy vào chủ yếu làm
chuyển hóa lượng ngoại tệ sang nội tệ để được hưởng lãi cao hơn, điều này dẫn đến
cung ngoại tệ tăng (cầu nội tệ tăng) từ đó đồng ngoại tệ sẽ giảm giá còn nội tệ sẽ
tăng giá. Trường hợp ngược lại sẽ cho hiệu ứng ngược lại. Nói một cách tổng quát,
(17)
, việc VND đang bị định giá cao so với giá trị thực là 20% cộng với sự sụt
giảm chỉ số giá tiêu dùng, vô hình chung cho thấy tỷ giá hối đoái thực tế có xu
hướng tăng, gây tổn hại đến các hoạt động xuất khẩu, du lịch, đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên cũng có trường hợp tác động tăng hoặc giảm của lãi suất không hề
gây ra biến động nào cho tỷ giá hối đoái, đó là trường hợp nền kinh tế đang trong
tình trạng bất ổn có nguy cơ khủng hoảng, khi ấy cho dù lãi suất có tăng đến mấy
cũng không có một nhà đầu tư nào làm cái việc dại dột là chuyển vốn của mình vào
nơi nước sôi lửa bỏng để ăn chênh lệch lãi suất cả. Điển hình là trong khủng hoảng
kinh tế năm 1971-1973 mặc dù lãi suất trên thị trường Newyork cao gấp rưỡi thị 16
trường London, gấp ba lần thị trường Frankfurk nhưng vốn ngắn hạn vẫn không
được chuyển vào Mỹ mà lại đưa đến Tây Đức và Nhật Bản
(21)
.
Song dù thế nào đi nữa thì trong điều kiện kinh tế bình thường, lãi suất và tỷ
giá luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, việc điều hành chính sách lãi suất không
hiệu quả có thể gây ra những bất lợi như nội tệ bị mất giá gây nguy cơ lạm phát
chảy máu ngoại tệ, đầu cơ tiền tệ… Mặc dù có thể xem lãi suất luôn như là một
công cụ hữu hiệu để chuyển hướng tỷ giá theo mục tiêu các nhà quản lý song lãi
suất chỉ phát huy hiệu quả của nó trong ngắn hạn. Về lâu dài, giải pháp này có thể
gây ra những tác động tai hại lên toàn bộ nền kinh tế, tăng sức ép lên tỷ giá hối đoái
bởi bản chất của vấn đề chính là sức mua thực sự của đồng tiền chứ không phải một
sự lên giá tạm thời.
1.2.3. Lạm phát:
Lạm phát được xem là sự biểu thị của mức tăng giá chung, lịch sử ra đời lạm
phát gắn liền với sự xuất hiện của kinh tế thị trường. Lạm phát thường bị coi là căn
bệnh kinh niên của nền kinh tế, nếu lạm phát ở mức vừa phải tức chỉ số giá tiêu
Lạm phát càng tăng, sức mua thực tế đồng nội tệ càng giảm, dân chúng sẽ tìm
mọi cách “vứt” đồng tiền của mình đi càng nhanh càng tốt, họ tích trữ vàng, động
sản thay vì cầm trong tay một đống giấy lộn và thế là đồng nội tệ bị cuốn trong
vòng xoáy giảm giá. Các nghiên cứu kinh tế đã chỉ ra rằng lạm phát càng cao thì tốc
độ mất giá đồng tiền càng nhanh. Năm 1920, nước Cộng hòa Weimar (hiện nay
thuộc Đức) đã in tiền với mục đích trang trải cho các chi tiêu chính phủ, kết quả là
giá cả tăng vọt, nếu tỷ số lạm phát năm 1923 so với 1922 mới ở mức 140% thì tỷ số
năm 1924 so với 1923 đã lên đến 6666666,7%, đồng Mác Đức bị sụt giá thấp chưa
từng có trong lịch sử
(49)
.
Tuy nhiên một mức lạm phát liên tục giảm sẽ dẫn đến tỷ giá hối đoái tăng,
nếu giảm xuống mức thấp hơn 1% thì cũng có nghĩa là nền kinh tế đã rơi vào tình
trạng giảm phát, một căn bệnh nguy hiểm không kém gì lạm phát phi mã. Những
yếu tố thiểu phát sẽ tác động mạnh hơn những yếu tố làm lạm phát, thiểu phát sẽ
làm cho các nhà sản xuất phải bán hàng với giá hạ đi trong khi chi phí đầu vào
không giảm tương ứng, dẫn đến thu hẹp đầu tư, giảm thu nhập, giảm cầu nền kinh
tế. Với tâm lý giá hàng hóa sẽ còn giảm trong tương lai, người tiêu dùng sẽ hạn chế
chi tiêu kích thích tỷ giá tăng mạnh hơn nữa. Việt Nam hiện nay cũng đang có nguy
cơ phải trải qua tình trạng giảm phát, chỉ số giá tiêu dùng sụt giảm, tính đến tháng 9
năm 2003, trung bình lạm phát mới chỉ ở mức 1,5% cùng với việc đồng Việt Nam
bị định giá cao hơn giá trị thực thì nguy cơ tăng tỷ giá có thể xem là rất gần.