LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
CHI PHÍ CHẤT LƯỢNG
COST OF QUALITY (COQ)
Tp. HỒ CHÍ MINH
MỤC LỤC
Trang
I. 5 BÀI BÁO VỀ COQ 3
II. 3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ COQ 17
III. ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU COQ CHO MỘT TỔ CHỨC, 21
CÔNG TY CỤ THỂ TỪ 1 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG 3 HƯỚNG
NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐỀ XUẤT
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
2
I. 5 BÀI BÁO VỀ COQ
1. 5 BÀI BÁO ĐÃ CHỌN:
- The Implementation of Cost of Quality (COQ) Reporting System in Malaysian
Manufacturing companies: Difficulties encountered and benefits acquired – Tạp chí:
International Journal of Bussiness and social science – Vol. 2, No. 6, April 2011
- A Review of Research on Cost of Quality Models and Best Practices – Tạp chí:
International Journal of Quality & Reliability Management – Vol. 23, No. 4, 2006.
- A Research on the Impact of Cost of Quality Models and Reporting System on
Managing Cost of Quality – DOI: 10.7763/IPEDR. 2013. V59.11.
- Investigating the relationship between quality and cost of quality in a wholesale
company - Tạp chí ASEAN Engineering Journal Vol.1 No.1 July 2011
- Cost Of Quality Models And Their Implementation In Manufacturing Firms – Bài báo
khoa học trên International Journal for Quality research – UDK - 005.642.3:338.3
2. TÓM TẮT BÀI BÁO
2.1 Bài báo số 1 - Báo cáo việc thực hiện hệ thống COQ trong trong các công ty sản
xuất ở Malaysia: khó khăn và lợi ích đạt được - Tạp chí quốc tế chuyên đề kinh
doanh và khoa học xã hội - Vol. 2 Số 6; 04/ 2011.
chức sản xuất ở Malaysia khi áp dụng COQ.
Phương pháp nghiên cứu được đề cập ở đây là: Một cuộc điều tra bằng bảng câu hỏi được
dùng để thu thập thông tin liên quan. Nhật báo Quốc tế về kinh doanh và khoa học xã hội
- Vol. 2 Số 6; 04/2011. Bảng câu hỏi, triển khai bởi Arvaiova, M.,Aspinwall, M.E. và
Walker S.D. (2009) được sửa đổi để phù hợp Malaysia. Bảng câu hỏi được gửi qua email
đến các cấp của 200 công ty sản xuất. Các hồi đáp được giữ lại cho các bộ phận cấp cao,
nhà quản lý chất lượng, kỹ sư kiểm soát chất lượng hoặc nhân viên chịu trách nhiệm quản
lý chất lượng. Mười nhà thực tập quản lý chất lượng từ các bộ phận sản xuất tham gia vào
nghiên cứu. Tỉ lệ hồi đáp là 18%, sau 6 tuần (thậm chí là sau khi thực hiện các cuộc gọi
theo sát). Để tăng tỉ lệ hồi đáp, thêm 48 câu hỏi được đưa ra liên quan đến những người
tham gia vào chương trình đào tạo hướng dẫn bởi FMM. 84 hồi đáp nhận được, trong 248
câu hỏi đưa ra. Tỉ lệ hồi đáp cuối cùng là 33.9%.
Kết quả của nghiên cứu
Và cuối cùng bài báo đưa ra kết quả điều tra thông qua những hồi đáp từ các tổ chức đã
được đưa vào cuộc điều tra. Các hồi đáp này sẽ được phân tích, diễn giải để xác định
những khó khăn và lợi ích trong việc áp dụng COQ.
4
- Khó khăn trong việc áp dụng COQ
• Văn hóa công ty và thái độ nhân viên hướng về hệ thống COQ không được truyền
tải đến toàn công ty.
• Thiếu thông tin và trách nhiệm dẫn đến khó khăn trong việc thu thập dữ liệu COQ .
• Những khó khăn trong hệ thống kế toán hiện tại không cho phép tìm ra những dữ
liệu khác nhau từ các phòng ban khác nhau dẫn đến khó khăn trong việc đánh giá
dữ liệu COQ.
Việc thiếu hợp tác giữa các phòng ban và khó khăn trong việc lấy dữ liệu là hai thách
thức lớn nhất mà 33 tổ chức phải đối mặt khi áp dụng COQ.
- Đề xuất một số giải pháp giải quyết khó khăn
• Cam kết của quản lý có thâm niên là cần cho thành công của COQ và phải trật tự
trước khi việc áp dụng được bắt đầu.
• Sử dụng hệ thống hiện tại thay vì cố gắng phát minh ra một phương pháp mới cho
khác nhau. Các tác giả kết luận rằng các khái niệm về báo cáo dữ liệu chi phí chất lượng
không được chấp nhận rộng rãi bởi các công ty trong bất kỳ bộ phận nào của công ty trên
thế giới. Họ tập trung vào việc thu thập và đo lường kinh nghiệm COQ và cũng chỉ ra sự
thiếu hụt của các cuộc điều tra chi phí chất lượng.
Porter và Rayner (1992) thực hiện một cuộc khảo sát toàn diện hơn về các nghiên cứu
được công bố và trình bày một báo cáo chi tiết của các mô hình chi phí chất lượng, tập
trung lại chủ yếu vào các loại PAF và giới hạn của nó. Tuy nhiên, sự chú ý được rút ra với
các phương pháp khác như kế hoạch của Juran hoặc mô hình chi phí quá trình, và việc sử
dụng các mô hình đó sẽ tích hợp cả các chi phí và lợi ích của cải tiến chất lượng.
Tóm lại, việc phân loại mô hình COQ theo khái niệm PAF thành bốn nhóm nhỏ: PAF
hoặc mô hình Crosby, các mô hình chi phí cơ hội, mô hình chi phí quá trình và mô hình
ABC (hoạt động dựa trên chi phí).
Tiếp đến, bài báo phân tích khái quát sáng kiến trong COQ cho bốn công ty: công ty
truyền thông(sản phẩm phức tạp, độ khuyết tật trên 1 đơn vị cao), công ty về điện tử, công
ty về lĩnh vực không gian và công ty sản xuất sản phẩm gia dụng. Từ đó, họ so sánh chiến
lược chất lượng và đưa ra kết quả cuối cùng để so sánh.
Mục tiêu và phương pháp luận
Phương pháp luận mà bài báo đề cập: Bốn công ty đã được chọn để tham gia vào nghiên
cứu. Mục đích chính của việc lựa chọn là nhận diện những tổ chức áp dụng tốt các
chương trình chất lượng trong những lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Nghiên cứu này
giữ bí mật tên công ty và chỉ gọi là công ty A, B, C,D. Buổi họp thống nhất thang điểm
chuẩn đã diễn ra tại McGill University. Chương trình quản lý chất lượng tại 4 công ty
được miêu tả bởi những đại diện công ty. Những tổ chức cũng tận dụng cơ hội này như là
1 cơ hội để thu thập những thông tin mới trong thực tế tại những công ty khác và so sánh
với nhau về kinh nghiệm, nỗ lực và sự thành công.
Sau khi thu thập dữ liệu, bài báo đưa ra sự so sánh về chất lượng và nỗ lực COQ thực
hiện bới các công ty này trong thực tế. Từ đó đưa ra các chiến lược chất lượng, chi phí
chất lượng cụ thể cho từng trường hợp của công ty đã tham gia nghiên cứu.
Mục tiêu được đặt ra khá rõ ràng là phân tích thông tin liên quan đến thực tế của các công
ty thành công trong khu vực trong việc quản lý chất lượng. Đặc biệt là điều tra xem các
tổ chức đã dành nhiều sự quan tâm tới chất lượng và tiêu tốn nhiều tiền để đạt được một
mức chất lượng thích hợp cho sản phẩm và dịch vụ của họ. Tuy nhiên đạt được chất
lượng với một mức chi phí hợp lý lại là vấn đề không đơn giản. Vấn đề của nhà quản lý là
làm sao xác định được chi phí nào là chi phí chất lượng, khu vực nào cần cải tiến để giảm
chi phí? Đề tài nghiên cứu trình bày việc phân loại chi phí chất lượng dựa trên mô hình
chi phí chất lượng (PAF, PCM, Chi phí cơ hội, Crosby, ABC); trình bày về các phần tử
chi phí , ma trận COQ, Báo cáo COQ và kiểm soát COQ.
Khái quát bài báo
Để một tổ chức tồn tại trong thị trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay thì phải đảm bảo
thỏa mãn khách hàng, khi thỏa mãn khách hàng tức khắc sẽ tăng doanh thu và lợi nhuận.
Một trong những yếu tố làm thỏa mãn khách hàng chính là chất lượng, vì vậy hầu hết các
tổ chức đã dành nhiều sự quan tâm tới chất lượng và tiêu tốn nhiều tiền để đạt được một
8
mức chất lượng thích hợp cho sản phẩm và dịch vụ của họ. Công ty cũng dành sự quan
tâm đặc biệt tới chi phí vì một mức chi phí hợp lí và chấp nhận được có thể là một vũ khí
cạnh tranh đối với công ty. Nếu một tổ chức không quan tâm tới chất lượng thì họ phải
đối mặt với các chi phi trực tiếp và chi phí gián tiếp là kết quả của việc sản xuất lại do sản
phẩm/dịch vụ lỗi và mất khách hàng. Vì vậy các công ty luôn cố gắng để giảm những chi
phí này nhưng việc giảm chi phí sẽ không thể thực hiện nếu công ty không nhận ra và đo
lường, quản lý hợp lý, như Dane giải thích “ để quản lý được phải điều khiển được, để
điều khiển được phải đo lường được, để đo lường được phải định nghĩa được, để định
nghĩa được phải xác định được số lượng”.
Chi phí chất lượng bao gồm : COC (Cost of conformance) và CONC (Cost of non-
conformance). Trong đó, COC liên quan tới phí được trả cho việc ngăn ngừa chất lượng
kém và CONC là chi phí do chất lượng kém. Trong bài nghiên cứu, trình bày một vài mô
hình mà trong đó sẽ xác định chi phí nào là chi phí chất lượng và phân loại chúng thành
COC và CONC, sau đó sử dụng thông tin này để tính toán trong các ma trận và sau cùng
trình bày với nhà quản lý dưới dạng các báo cáo COQ để xem xét và điều khiển chúng.
Nghiên cứu này cố gắng trình bày đóng góp của các mô hình COQ và hệ thống báo cáo
trong việc quản lý chi phí chất lượng và tại sao vài tổ chức không thành công khi ứng
tăng chi phí thẩm định và chi phí ngăn ngừa. Nghiên cứu sẽ đưa ra các gợi ý cho nhà đầu
tư trong công tác thẩm định và ngăn ngừa cho nguyên vật liệu, máy móc và nhân công để
tối thiểu hóa tổng COQ và đạt mức chất lượng hài lòng.
Khái quát bài báo
Ngày nay các công ty tìm kiếm cả những lý thuyết và bằng chứng thực tiễn về COQ và
ứng dụng hệ thống COQ.
COQ chia thành 4 loại:
- Chi phí ngăn ngừa: mục đích ngăn ngừa các hư hỏng trong tương lai.
- Chi phí thẩm định: đo lường và đánh giá quá trình.
- Chi phí hư hỏng bên trong: xảy ra trước khi vận chuyển hàng hóa.
- Chi phí hư hỏng bên ngoài: xảy ra sau khi công ty cung cấp sản phầm đến khách
hàng.
Có giả thiết cho rằng chất lượng và chi phí hư hỏng tỉ lệ nghịch nhau nhưng cũng có giả
thiết chất lượng và chi phí thẩm định cộng với chi phí ngăn ngừa là liên quan trực tiếp với
nhau.
Mô hình PDF được dùng để phân tích:
Mô hình PDF gồm 3 đường: chí phí hư hỏng, chi phí thẩm định và chi phí ngăn ngừa, và
chi phí chất lượng. Khi chi phí sản phẩm được đáp ứng, chi phí hư hỏng đạt 0. Ở đây tìm
kiếm điểm cân bằng mà tại đó COQ là nhỏ.
10
Bài nghiên cứu này xác định sự tác động của sự thay đổi COQ đến chất lượng trên dữ liệu
thật của công ty bán sỉ hoa ở Mỹ trong 24 tháng. Dữ liệu được sử dụng để triển khai mô
hình PAF, nhận diện khoản đầu tư đúng vào hoạt động ngăn ngừa và thẩm định.
Nghiên cứu COQ và mức chất lượng căn cứ trên 4 phạm vi: nguyên vật liệu, máy móc,
nhân công và công ty liên quan.
Dữ liệu được thu thập trong 24 tháng từ công ty bán sỉ hoa ở Miami, Nam Florida, với 27
nhân viên và doanh thu hàng năm khoảng 1.2 triệu USD, hoa được nhập từ Thái Lan,
Châu Âu và Nam Mỹ để phân phối cho nước Mỹ.
Để tăng giá trị sản phẩm và dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng, công ty cần có hệ thống
COQ. Để lập các khoản COQ, họ triển khai dự tính các COQ. Dữ liệu bao gồm 4 loại chi
hư hỏng cho nguyên vật liệu, máy móc, nhân công và công ty.
- Có mối quan hệ thuận giữa chi phí thẩm định cộng chi phí ngăn ngừa và mức chất
lượng cho nguyên vật liệu, máy móc, nhân công và công ty.
- Có mối quan hệ nghịch giữa chi phí hư hỏng và mức chất lượng cho nguyên vật
liệu, máy móc, nhân công và công ty.
- Công ty nên đầu tư 0.4USD, 0.25USD, 0.22USD (trên 1 sản phẩm với giá trị là
1,000USD) cho nguyên vật liệu, máy móc và nhân công. Tất cả sẽ làm tối thiểu
hóa tổng COQ.
12
2.5. Bài báo số 5 - Nghiên cứu mô hình COQ và ứng dụng trong công ty sản xuất -
Bài báo khoa học trên tạp chí International cho nghiên cứu chất lượng – UDK -
005.642.3:338.3
Tóm tắt bài báo
Để cải tiến chất lượng, các công ty cần phải kết hợp cả chi phí và chất lượng đạt được vì
mục tiêu của cải tiến là không chỉ làm hài lòng yêu cầu khách hàng mà còn phải đạt được
chi phí thấp nhất, khả thi và hợp lý. Chính vì điều đó mà đo lường và báo cáo COQ cần
được xem xét.
COQ thường được hiểu bao gồm:
- Chi phí phù hợp: chi phí ngăn ngừa cho sản phẩm kém chất lượng.
- Chi phí không phù hợp: chi phí cho sản phẩm kém do sản phẩm hay dịch vụ.
Bài nghiên cứu này nghiên cứu về COQ và xem lại các mô hình COQ đang có, tiêu chuẩn
đo lường trong mô hình COQ và sau cùng là ứng dụng mô hình COQ trong thực tiễn,
nhấn mạnh vào các công ty sản xuất.
Khái quát bài báo
Các mô hình COQ ứng với các phân loại chi phí
Mô hình Phân loại chi phí/ hoạt động
P-A-F Ngăn ngừa + thẩm định + hư hỏng
Crosby Ngăn ngừa + thẩm định + hư hỏng + cơ hội
Cơ hội hay mô hình chi
phí thấy được
trình không vận hành đúng chuẩn)
- ABC
Sử dụng thủ tục 2 giai đoạn để tìm được chi phí chính xác cho các loại chi phí khác nhau.
Phân bổ chi phí từ trên xuống.
Không cung cấp thông tin trực tiếp về hoạt động và không quan tâm chi phí ngoài nhà
máy.
Tiêu chuẩn đo lường trong mô hình COQ
Tiêu chuẩn đo lường chi tiết Tiêu chuẩn đo lường toàn cầu
Chi phí tài sản và nguyên vật liệu
Chi phí ngăn ngừa lao động
Chi phí thẩm định lao động
Chi phí lỗi trên 100 sản phẩm
Chi phí vận chuyển trễ
Phần trăm doanh thu lặp lại
Số cuộc gọi không phù hợp
Số phàn nàn nhận được
ROQ = độ tăng lọi nhuận/chi phí cải thiện
chất lượng
Tỉ lệ chất lượng =([đầu vào – (lỗi chất
lượng + lỗi ban đầu + làm lại)]/đầu vào
Chất lượng quá trình = (thời gian có sẵn –
thời gian làm lại)/thời gian có sẵn
QOQ
f
= chi phí hư hỏng bên ngoài/tổng chi
phí chất lượng
Áp dụng các mô hình COQ trong các công ty sản xuất
14
Thực tế nhiều công ty không áp dụng COQ, nhiều ví dụ cho thấy cải tiến chất lượng và
quy trình đo lường chi phí đem đến cho các công ty áp dụng COQ sự giảm đáng kể.
3.1 Tổng hợp các bài báo cáo
Nhìn chung, các nghiên cứu về chi phí chất lượng mới được chấp nhận và đề xuất trong
hai thập kỉ gần đây. Trước đó, hầu như các nghiên cứu về nó chỉ được các tác giả thu
15
thập, đề cập nhưng chưa được phổ biến và áp dụng rộng rãi trong công ty và từng bộ phận
cụ thể.
Các tác giả nghiên cứu trong lĩnh vực này chia các phương pháp tiếp cận thành 4 phương
pháp chính được đề cập trong hầu hết các bài báo trên gồm
- Mô hình PAF truyền thống, bên cạnh đó mô hình phân loại chi phi của Crosby cũng gần
giống như PAF truyền thống.
- Mô hình chi phí theo quá trình.
- Mô hình chi phí cơ hội.
- Mô hình chi phí chất lượng theo ABC (hoạt động dựa trên chi phí).
Trong đó, mô hình chi phí chất lượng theo ABC cho ra kết quả chính xác nhất. Vì theo
phương án này, các chi phí được tính toán bằng tiền cụ thể, rất trực quan và dễ dàng theo
dõi, tính toán đối với những chi phí chất lượng.
3.2 Một số kết quả đạt được trong bài báo
Trong các bài báo trên cũng đã đề cập đến một số công ty đã áp dụng tính toán COQ vào
trong hoạt động sản xuất của mình. Từ đó, họ đã cải thiện được một số vấn đề, giảm được
chi phí cho hoạt động sản xuất của mình, nó cũng giúp cho việc xác định phần nào có thể
quy cho chất lượng, phần nào không – đây là một công việc cực kỳ khó khăn khi thực
hiện.
Theo các bài báo, việc áp dụng COQ phải được xác định cụ thể, rõ ràng: mục đích thực
hiện COQ, mục tiêu và chiến lược phải được xác định rõ ngay từ đầu – điểm mấu chốt hết
sức quan trọng và phải thực sự có kiến thức, hiểu rõ về COQ. Bên cạnh đó, việc áp dụng
COQ phải phù hợp với hoàn cảnh , không thể áp dụng chung một phương pháp cụ thể cho
nhiều ngành, công ty, phòng ban.
Nhìn chung, các công ty chấp nhận chi phí chất lượng, thực hiện cải tiến chi phí chất
lượng đều mang lại một kết quả khả quan hơn nhưng để áp dụng vào thực tế không phải
dễ dàng, chúng ta cần một khoảng thời gian nữa để có thể chấp nhận chi phí chất lượng và
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân sự cấp cao, quản lý bộ phận chất lượng, sản xuất, kế
toán trong công ty PACIFIC ELEVATOR, các tài liệu thứ cấp, ghi chép của công ty.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với hai phương pháp cơ bản:
Nghiên cứu thứ cấp: thu thập thông tin, thông tin kế toán ghi chép, các tài liệu và báo cáo
chất lượng, chi phí từ công ty nhằm tổng hợp và phân tích các kết quả liên quan đến mô
hình quản lý chất lượng của công ty
17
Nghiên cứu định tính: dùng phỏng vấn trực tiếp các quản lý cấp cao , phụ trách bộ phận
sản xuất, chất lượng, kế toán nhằm tìm hiểu sâu về quy trình, phương pháp quản lý – chi
phí chất lượng của công ty, đánh giá hiệu quả quản lý chất lượng của công ty.
2. Nghiên cứu về sự chấp nhận COQ của công ty viễn thông FPT và khó khăn, lợi
ích đạt được khi áp dụng COQ vào thực tế công ty
2.1Lý do hình thành đề tài
- Nghiên cứu về chi phí chất lượng(COQ) đã có từ lâu đời thế nhưng vẫn chưa được nhiều
công ty trên toàn thế giới chấp nhận, tìm hiểu tại sao ít công ty áp dụng như vậy.
- Các tổ chức gặp khó khăn và chưa hiểu được các nguyên tắc của COQ khi áp dụng COQ
trong tổ chức.
2.2Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm đạt được và phân tích thông tin liên quan đến thực tế
của các công ty thành công trong khu vực trong việc quản lý chất lượng. Đặc biệt là điều
tra xem các công ty này có thu thập, đánh giá và quản lý chi phí chất lượng, chi phí nào
không được tính và phương thức COQ nào được áp dụng.
- Tìm ra những khó khăn và lợi ích đạt được trong quá trình áp dụng COQ trong công ty
viễn thông FPT.
2.3Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu sự phát triển và nguyên tắc của COQ, lợi nhuận tăng lên như thế nào khi áp
dụng COQ phù hợp.
- Nghiên cứu các khó khăn lợi ích khi áp dụng COQ vào trong doanh nghiệp thực tế là
công ty viễn thông tại Việt Nam
truyền thứ 2 với chi phí thiệt hại thực tế đối với công ty và khách hàng khi xảy ra sự cố.
Nghiên cứu được thực hiện đối với công ty cung cấp dịch vụ internet FPT.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm đánh giá tác động của COQ, cụ thể hơn là chi phí
không phù hợp – chi phí hư hỏng bên ngoài và bên trong đối với cung cấp dịch vụ
internet khi xảy ra sự cố đường truyền ở khu công nghiệp Nhơn Trạch III – Đồng Nai, từ
đó đưa ra các phương án, giải pháp ngăn ngừa khắc phục với chi phí hợp lý và đảm bảo
chất lượng
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Các vấn đề liên quan cần tìm hiểu thông tin để thực hiện tính toán COQ: Bộ phận chăm
sóc khách hàng, phòng kỹ thuật đường truyền internet, bộ phận thi công đường truyền, bộ
phận đầu tư và phát triển hạ tầng của FPT.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp định lượng
- Thành lập ban đảm bảo chất lượng dịch vụ internet FPT
- Thu thập dữ liệu:
+ Dữ liệu thứ cấp: các chi phí thiệt hại khi xảy ra sự cố đường truyền (đứt cáp,
gián đoạn tín hiệu), chi phí thuê hạ tầng các đối thủ cạnh tranh, các phản ảnh, than phiền
của khách hàng về dịch vụ internet, chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp
Nhơn Trạch III.
19
+ Dữ liệu sơ cấp: lập bảng câu hỏi với nội dung như: xem xét nhu cầu internet,
đánh giá, phê bình chất lượng dịch vụ internet FPT cũng như độ ổn định của dịch vụ trong
khu vực Công Nghiệp Nhơn Trạch III.
+ Phân tích các dữ liệu có được và xây dựng các biểu đồ, bảng phân tích từ đó rút
ra được sự ổn định hiện tại của dịch vụ internet trong khu công nghiệp, chi phí thiệt hại và
chi phí đầu tư thêm, từ đó cân đối, đưa ra phương hướng khắc phục, xây dựng và phát
triển dịch vụ trong khu công nghiệp này.
20
III. ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU COQ CHO MỘT TỔ CHỨC,
sản phẩm phụ vụ cho quá trình của phòng kĩ thuật. Chi phí cho nhân viên được
tính theo số giờ lao động.
• Chi phí sản xuất chung : Bao gồm những chi phí văn phòng phẩm , chi phí hoạt
động , chi phí tiện ích gồm điện thoại , internet …
Còn chi phí nguyên vật liệu trực tiếp không được thể hiện, bởi vì các chi phí nguyên vật
liệu chủ yếu là văn phòng phẩm, được phân bổ vào từng công trình dưới dạng chi phí sản
xuất chung, mang tính phân bổ.
Theo quá trình được mô tả như trên, chi phí sản xuất chung được phân bổ theo số lượng
sản phẩm được làm trong kỳ.
Chi phí chất lượng
Quá trình nhận đặc tính kĩ thuật sơ bộ: người nhân viên trong bộ phận phải tiến hành
hoàn chỉnh hồ sơ thông qua những yêu cầu khách hàng và trình độ kĩ thuật của nhà máy.
Nếu trong quá trình này chưa được thông qua,hay gặp trục trặc phải bắt đầu lại từ khâu
này, thì người nhân viên tiến hành điều chỉnh đặc tính. Trong quá trình này có một phần
của chi phí thẩm định, chi phí ngăn ngừa.
Thẩm định: Xem xét yêu cầu khách hàng có quá so với trình độ sản xuất, hay những yêu
cầu khác so với những gì được thực hiện từ trước tới nay. Nếu có sai sót, hay yêu cầu
khách hàng cần phải điều chỉnh thì phải điều chỉnh ngay.
Ngăn ngừa: Tiến hành rà soát trước yêu cầu của khách, để hạn chế những yêu cầu khách
hàng cần xem xét lại thì ngăn ngừa phải ngưng trệ hay làm lại cho những khâu sau.
Chi phí chất lượng cho quá trình điều chỉnh:
Chi phí lao động đơn vị là chi phí lao động của nhân viên trực tiếp làm việc này
Quá trình thiết lập ra đặc tính kĩ thuật để sản xuất: Quá trình này hình thảnh chuẩn
đặc tính cho sản xuất, tất cả các yếu tố kĩ thuật, bản vẽ kĩ thuật đều được dựa trên những
thông số đã được cho trong đó. Tương tự như quá trình trên,quá trình này cũng có thể
22
phát sinh chi phí, vì trong quá trình gia công , thiết kế sản phẩm có thể phát sinh những
xác nhận lại với bộ phận bán hàng , do phải thay đổi một vài đặc tính lại cho phù hợp .
Nếu trong quá trình này có sai sót , hay phải tiến hành làm lại thì quá trình phải được thực
hiện lại từ đầu giai đoạn này , nghĩa là chi phí nhân công bị mất đi , nên chi phí chất
phát sinh.
Áp dụng vào thực tế như sau:
Chi phí này được áp dụng theo quá trình và xác định chi phí theo ABC, khi một khâu nào
trong quá trình gặp trục trặc thì có thể quá trình bắt đầu lại từ khâu đó và chi phí tính lũy
kế cho đến khâu cuối cùng. Có thể chi phí sản xuất chung bổ cho việc thực hiện lại là ít,
tuy nhiên vẫn tính vào chi phí.
Chi phí nhân công đơn vị được tính trên số tiền công cho 1 giờ lao động của nhân viên.
Được tính dựa trên lương nhân viên và số giờ làm việc trong kì.
Chi phí nhân công đơn vị =
Chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí điện, chi phí văn phòng phẩm cho hoạt động tạo
ra bản vẽ kĩ thuật . Chi phí sản xuất chung này được ước lượng bằng một con số cho một
công trình chuẩn trong một kì nào đó.
Chi phí chung phân bổ
Giả sửchi phí hàng tháng vừa qua ( 04 / 2014 ) của nhà máy công ty thì sàn lượng là 24
sản phẩm .
Tiền điện hàng tháng: 14,26 triệu ( phòng kĩ thuật tiêu thụ khoảng 1/6 công suất )
Tiền chi phí tiện ích ( internet , nước , điện thoại … ) : 5.28 triệu
Tiền chi phí văn phòng phẩm : 2.6 tr
Vậy chi phí chung phân bổ = Tiền điện + Chi phí tiện ích = 39.536 / 1h (K)
Chi phí văn phòng phẩm phân bổ cho từng công trình = 108.333 / 1 sản phẩm. (Z)
Tiền lương nhân viên
Nhân viên có 5 người: với mức lương
Nhân viên thiết kế: A có chi phí lao động đơn vịA = 40.000 / 1 h
B có chi phí lao động đơn vị B = 35.000 / 1 h
Nhân viên đặc tính kĩ thuật: C có chi phí lao động đơn vị C = 45.000 / 1h
Nhân viên kiểm tra: D, có chi phí lao động đơn vị D = 30.000 / 1h
Trưởng phòng kĩ thuật H, có chi phí lao động đơn vị H = 100.000 / 1h
Ước tính chi phí cho từng công việc như sau:
24
= (C+K)*h