Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN VÀ CHÍNH SÁCH
THƯƠNG MẠI CỦA EU VÀ MỸ 5
I.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN 5
I.1.1. Khái niệm và vai trò của hàng rào phi thuế quan 5
I.1.2. Các loại hàng rào phi thuế quan 5
II.1. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN
QUA 18
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với liên minh Châu Âu
(EU) vào ngày 20/10/1990, (kí hợp đồng buôn bán hàng dệt may với EU ngày
15/12/1992) và hiệp định khung với EU ngày 17/7/1995. Các sự kiện quan trọng
trên chính là yếu tố thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Liên minh
Châu Âu phát triển mạnh trên cả ba lĩnh vực : thương mại, đầu tư và viện trợ,
đặc biệt là lĩnh vực thương mại.
Hiện nay EU thực sự là thị trường tiềm năng của Việt Nam. Điều này
được thể hiện ở chỗ EU là một trong những trung tâm tiêu thụ lớn trên thế giới,
có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hóa, nhu cầu nhập khẩu hàng năm
của EU về những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là rất lớn. Đồng
thời chính sách thương mại của EU đối với Việt Nam đang dần hoàn thiện. Hơn
nữa EU là khu vực phát triển kinh tế khá ổn định trên thế giới, cùng với sự ra
đời của đồng EURO, vị thế của EU ngày càng được nâng cao trên trường quốc
tế. Tại thời điểm này, Việt Nam lại đang thực hiện chiến lược “Công nghiệp hóa
hướng vào xuất khẩu”. Do vậy, thị trường EU là môi trường lí tưởng cho các
nhà xuất khẩu Việt Nam thể hiên sức mạnh của mình.
Bên cạnh đó, một thị trường tiềm năng không kém thị trường EU là Hoa
Kỳ. Kể từ ngày B.Clinton ký quyết định xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam
(3/2/1994), thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nước (28/1/1995) và
đặc biệt sau khi hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu
nhân chủ yếu.
-Đề xuất định hướng và đưa ra một số giải pháp cụ thể để vượt qua hàng
rào phi thuế quan của ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam trên hai thị trường EU
và Mỹ.
3
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a.Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan về xuất khẩu hàng thủy
sản và một số hàng rào phi thuế quan.
b.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Tập trung vào nghiên cứu hàng rào phi thuế quan và
các giải pháp vượt qua các hàng rào phi thuế quan của hàng xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam trên hai thị trường EU và Mỹ.
Phạm vi về thời gian: tìm hiểu vấn đề chủ yếu qua các năm 2000 - 2006
4
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN
VÀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA EU VÀ MỸ
I.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN
I.1.1. Khái niệm và vai trò của hàng rào phi thuế quan
Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, nguyên
tắc, mục tiêu, biện pháp và các công cụ mà các quốc gia sử dụng nhằm điều
chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế phù hợp với các lợi thế quốc gia trong
từng thời kỳ nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho quốc gia từ thương mại quốc tế.
Khi tham gia vào thương mại quốc tế, các quốc gia sẽ phát huy được các
thế mạnh của nước mình, tận hưởng được những lợi thế từ thị trường thế giới.
Nhưng mặt khác cũng sẽ bộc lộ những mặt yếu kém và bất lợi của chính quốc
gia đó. Do vậy các quốc gia thường phải sử dụng một hệ thống các cộng cụ để
điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế. Trong đó phải kể đến việc sử dụng
hàng rào phi thuế quan – một công cụ được coi là linh hoạt, tác động nhanh,
mạnh.
số lượng hàng hóa xuất khẩu sang nước mình.
Thực chất hạn chế xuất khẩu tự nguyện là những cuộc thương lượng mậu
dịch giữa bên xuất khẩu và bên nhập khẩu để hạn chế bớt sự xâm nhập của hàng
hóa nhập khẩu nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định ở các nước nhập khẩu,
chẳng hạn: tạo công ăn việc làm, bảo hộ những ngành công nghiệp non trẻ có
tiềm năng Khi thực hiện hạn chế xuất khẩu tự nguyện nó có tác động kinh tế
tương tự như hạn ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên hạn ngạch nhập khẩu mang tính
chủ động và thường là biện pháp tự bảo vệ thị trường trong nước còn hạn chế
xuất khẩu tự nguyện thực ra mang tính miễn cưỡng và gắn với những điều kiện
nhất định. Hình thức này thường được áp dụng đối với những quốc gia có sản
lượng xuất khẩu quá lớn ở một số mặt hàng nào đó.
6
I.1.2.3. Biện pháp liên quan đến quản lý giá
Các biện pháp quản lý giá nhập khẩu hoặc giá bán trong nước có thể tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp tới xuất nhập khẩu hàng hóa. Việc tính giá tùy tiện
sẽ gây nên những khó khăn lớn cho thương mại quốc tế vì giá tính thuế cao thì
giá của sản phẩm nhập về sẽ cao, khả năng thanh toán sẽ giảm. Một số nước
ngoài mục tiêu tránh gian lận thương mại họ khéo sử dụng biện pháp liên quan
đến việc xác định trị giá tính thuế hải quan như một công cụ gián tiếp bảo hộ sản
xuất trong nước. Trị giá tính thuế hải quan cao hoặc thấp sẽ tác động trực tiếp
đến khoản thuế nhập khẩu mà các doanh nghiệp phải nộp và qua đó tác động lên
giá bán của sản phẩm.
Ở một số nước phát triển thường không sử dụng giá bán thực tế ghi trên
hóa đơn để tính thuế mà dùng trị giá tính thuế tối thiểu hoặc giá tham khảo.
Thậm chí có nước còn sử dụng giá hóa đơn cao nhất của sản phẩm cùng loại
nhập khẩu từ bất kì nước nào trong thời gian trước đó để xác định trị giá tính
thuế. Cách xác định trị giá tính thuế như vậy khiến các nhà xuất khẩu phải chịu
giá cao một cách vô lý và không thể dự đoán được khả năng cạnh tranh về giá
sản phẩm của mình.
Hiệp định xác định trị giá tính thuế quan của tổ chức thương mại thế giới
được phép bán ra trên thị trường mặc dù có thể bị người tiêu dùng không ưa
chuộng. Nói chung những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật là xuất phát từ đòi hỏi
thực tế của đời sống xã hội phản ánh trình độ phát triển mà con người đã đạt
được.
Tuy nhiên, trên thực tế người ta thường khéo sử dụng các quy định này
một cách thiên lệch giữa các doanh nghiệp trong nước với các công ty nước
ngoài để biến chúng trở thành công cụ cạnh tranh trong quan hệ thương mại
quốc tế. Để khắc phục tình trạng này người ta tìm cách ban hành các tiêu chuẩn
kỹ thuật quốc tế thống nhất.
8
I.1.2.6. Biện pháp quản lý hành chính
Mặc dù hầu hết các nước trên thế giới đều có mục tiêu chung là tự do hóa,
thuận lợi hóa thương mại quốc tế. Nhưng trên thực tế vì những lý do kinh tế
chính trị nhất định mà mỗi nước áp dụng những biện pháp khá tinh vi nhằm cản
trở tự do hóa thương mại quốc tế. Ví dụ như: quy định về thanh toán, quy định
về đặt cọc, quy định về quảng cáo…
I.2. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA EU VÀ MỸ
I.2.1. Chính sách thương mại chung của liên minh Châu Âu (EU)
Liên minh Châu Âu (EU) ngày nay được xem như một đại quốc gia ở
Châu Âu, bởi vậy chính sách thương mại của EU cũng giống như chính sách
thương mại của một quốc gia, gồm: chính sách thương mại nội khối, chính sách
ngoại thương và quy chế nhập khẩu chung của EU .
I.2.1.1. Chính sách thương mại nội khối
Chính sách này tập trung vào việc xây dựng và vận hành thị trường chung
Châu Âu nhằm xóa bỏ việc kiểm soát biên giới lãnh thổ quốc gia, biên giới hải
quan (xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan) để tự do lưu thông hàng hóa,
sức lao động, dịch vụ và vốn, điều hòa các chính sách kinh tế xã hội của các
nước thành viên.
I.2.1.2. Chính sách ngoại thương của EU
Tất cả các nước thành viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương
áp dụng chương trình thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP) cho thời kỳ từ 1/7/1999
đến 31/12/2001.
I.2.1.3. Quy chế nhập khẩu chung của EU
Tất cả các nước thành viên EU đều áp dụng chính sách thương mại chung
đối với những nước ngoài khối. Để thực thi chính sách thương mại, ngoài các
biện pháp thuế quan và phi thuế quan, EU còn ban hành và thực hiện Quy chế
nhập khẩu chung.
Các nhà xuất khẩu có thể xâm nhập vào thị trường EU với điều kiện có
các hiệp định thương mại song phương, vượt qua hàng rào thuế quan và phi thuế
10
quan, tuân thủ quy chế nhập khẩu chung và các yêu cầu của thị trường về chất
lượng, an toàn cho người sử dụng và bảo vệ môi trường. Hiện nay hàng rào kỹ
thuật (TBT), quy chế nhập khẩu chung và các yêu cầu của thị trường chính là
những rào cản khó vượt qua đối với hàng xuất khẩu của các nước đang phát
triển, trong đó có Việt Nam.
Quy chế nhập khẩu chung của EU chính là quy định cụ thể để thực hiện
chính sách nhập khẩu của EU như sau:
i. Về thuế
1. Thuế nhập khẩu: một trong những việc đáng chú ý nhất của việc hình
thành thị trường chung là các thủ tục thông quan đồng nhất và thuế nhập khẩu
chỉ phải thanh toán tại cảng vào EU. Khi đã vào EU thì không cần các thủ tục
thông quan tại biên giới nội địa. Bởi vậy, hàng có thể được vận chuyển nhanh
với giá cước rẻ trong phạm vi EU.
Thuế nhập khẩu được áp dụng đối với tất cả các sản phẩm nhập khẩu vào
EU. Nhờ chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập và các hiệp định thương mại
mà xuất khẩu từ các nước đang phát triển có thể miễn thuế nhập khẩu hoặc chịu
một mức thuế thấp. Trong các trường hợp đặc biệt, hàng hóa có thể được miễn
thuế vì các lý do khác nhau: vận chuyển hàng mẫu không có giá thương mại,
hàng hóa để sửa chữa hoặc các sản phẩm nhập khẩu tạm thời.
2. Thuế nhằm bảo hộ
sử dụng để điều chỉnh nguồn cung. Hạn ngạch phổ biến nhất ở EU là hạn ngạch
số lượng. Các quốc gia EU đang tiến hành hủy bỏ dần hạn ngạch nên hệ thống
hạn ngạch đang bị tháo dỡ ở một số nước. Sự điều chỉnh hoạt động nhập khẩu
hàng nông sản vẫn được thực hiện thông qua hệ thống thuế và giá khởi điểm.
Như vậy hạn ngạch sẽ không tồn tại lâu.
iv. Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật
Các quy định kiểm dịch thực vật có thể áp dụng đối với các sản phẩm tươi
như hoa quả. Điều đó có nghĩa là giấy chứng nhận phải được cung cấp bởi nước
có sản phẩm xuất khẩu trong điều kiện đảm bảo sức khỏe. Sản phẩm phải được
12
giám định bởi cơ quan giám định thực phẩm có thẩm quyền của nước sản xuất
để đảm bảo rằng không bị côn trùng và dịch bệnh.
v.Lệnh cấm
EU ban hành lệnh cấm đối với một số sản phẩm, điều này có nghĩa là sản
phẩm nhập khẩu bị cấm hoặc chỉ cho phép trong những điều kiện nhất định.
Lệnh cấm này chủ yếu được áp dụng đối với việc mua bán các sản phẩm nguy
hiểm như: phế thải hóa chất, thuốc tân dược, thuốc trừ sâu. Thực phẩm, cây
trồng và vật nuôi nhập khẩu cũng có thể là đối tượng bị cấm trên cơ sở cân nhắc
về an toàn và sức khỏe. Các luật quốc tế đối với sản phẩm này là: luật về chất
thải hóa chất và công ước thương mại quốc tế về các loại hàng hóa gây nguy
hiểm.
vi. Chính sách hóa chất – rào cản mới của EU
Ủy ban Châu Âu (EC) đang chuẩn bị ban hành chính sách hóa chất trên
lãnh thổ EU nhằm ngăn ngừa tác hại của hóa chất đối với sức khỏe con người và
môi trường. Theo đó, chính sách mới sẽ ban hành những quy định về đăng ký,
kiểm tra, cấp phép và hạn chế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu hành
và sử dụng hóa chất được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào và hóa chất để xử lý
nguyên liệu trong quá trình sản xuất.
I.2.2. Chính sách thương mại của Mỹ
Dù là một nước chủ trương tự do hóa thương mại, nhưng Mỹ cũng có
Hoa Kỳ.
Thứ hai, thuế đặc định hay thuế theo lượng (specific) là thuế đánh theo
trọng lượng hay dung tích hàng hóa.
Thứ ba, thuế hàng hóa được tính dựa trên cơ sở cả hai cách tính trên.
Ngoài ra có một số mặt hàng phải chịu thêm thuế doanh thu hay mua bán
(ngoài thuế quan) như rượu, bia, thuốc lá, nước hoa và các sản phẩm dầu khí.
b) Lệ phí
Lệ phí gồm có: phí xử lý hàng và phí bảo dưỡng cảng.
14
Phí xử lý hàng: được đánh vào từng chuyến tàu hàng. Biểu thuế dành cho
việc nhập hàng chính thức (tức là hàng có giá trị trên 1500 USD, gọi là hàng
mậu dịch) liệt kê các loại phí khác nhau từ 21 đến 400 USD cho mỗi lần nhập
cùng với một số phí đánh theo tỷ lệ của món hàng này là 19%. Cũng chi phí này
nhưng cho loại hàng hóa nhập không chính thức (tức là phi mậu dịch) thì mức
phí là 2 USD cho hàng xử lý bằng máy, 4 USD cho hàng xử lý bằng tay mà
không phải do hải quan Mỹ làm và 8 USD do họ làm. Giá trị cho hàng phi mậu
dịch lớn nhất là 2500 USD. Một vài mặt hàng như vải sợi không được nhập theo
lối phi mậu dịch và nếu có thì giá trị tối đa cũng rất thấp.
Phí bảo dưỡng cảng: là phí tính theo giá trị % của chuyến tàu hàng nhập
vào, phí này là 0,125% trên giá trị tiền hàng và trả hàng quý.
c) Hạn ngạch (quota)
Hạn ngạch là sự kiểm soát về mặt số lượng hàng nhập khẩu trong một thời
gian nhất định vào Mỹ. Có một số mặt hàng nằm trong sự hạn chế này theo luật
của Quốc hội, quy định của các cơ quan quản lý theo lệnh của Tổng thống. Có
hai loại hạn ngạch:
• Hạn ngạch ấn định theo mức thuế quan: loại này cho người nhập được
đem vào Mỹ một mặt hàng nhất định nào đó với mức thuế được giảm bớt trong
một khoảng thời gian nhất định. Số hàng nào nhập vào mà vượt quá số lượng
cho phép sẽ bị đánh thuế cao. Các mặt hàng này thường là: sữa, kem, cá hồi…
•Hạn ngạch tuyệt đối: cho phép nhập một số lượng của mặt hàng nào đó
phẩm đó.
* Ghi dấu đặc biệt: Ngoài những yêu cầu về ghi nước xuất xứ của hàng
hóa, có một số mặt hàng đòi hỏi phải có dấu hiệu đặc biệt như: chữ không được
phai, chữ nổi, chữ lõm cho những mặt hàng như ống sắt hay thép, khung, xi
lanh, các dụng cụ kỹ thuật, kéo kim…Có những cơ quan chỉ dẫn việc ghi những
nhãn hiệu đặc biệt này. Trong trường hợp sản phẩm bị ghi sai làm người tiêu thụ
hiểu nhầm sẽ không được nhập khẩu.
16
g) Các biện pháp hỗ trợ thương mại
* Thuế chống bán phá giá: Luật chống bán phá giá phân tích hành vi định
giá của các nhà sản xuất nước ngoài. Việc phân tích luôn được thực hiện theo
cách riêng biệt đối với từng công ty. Khái niệm đơn giản nhất về chống bán phá
giá tại thị trường Mỹ là bán một sản phẩm ở Mỹ với mức giá thị trường thấp hơn
giá của chính sản phẩm đó tại thị trường nước xuất khẩu. Mỹ sẽ áp dụng quy
định tính tỷ lệ lợi nhuận đặc biệt đối với các nước mà họ coi là nền kinh tế phi
thị trường như Trung Quốc, Việt Nam …Giá sản phẩm ở những nước này không
được công nhận với lý do là nền kinh tế do Chính phủ điều tiết.
Một vấn đề tiếp theo được xem xét là việc xét duyệt hành chính nhằm xác
định mức thuế phá giá thực tế mà người nhập khẩu phải nộp. Nếu chưa được xét
duyệt, khoản tiền mặt đặt cọc nộp cho hải quan Mỹ sẽ chính thức là mức thuế
chống bán phá giá. Việc định giá này có thể được thực hiện hàng năm. Còn một
lệnh chống bán phá giá có thể có hiệu lực vô hạn, mặc dù cứ 5 năm một lần
công tác đánh giá lại được tiến hành.
* Thuế chống trợ giá: Luật pháp Mỹ quy định những hình thức trợ giúp
doanh nghiệp của Chính phủ bao gồm: trợ cấp tiền mặt,trợ cấp xuất khẩu, các
khoản cho vay với lãi suất ưu đãi, các khoản bảo lãnh tín dụng, xóa nợ, giảm
thuế. Giống như trong một vụ điều tra thuế chồng bán phá giá, số tiền trợ cấp
được định lượng và tính theo tỷ lệ % để làm cơ sở áp thuế theo giá hàng vào tất
cả các sản phẩm nhập khẩu được trợ giá.
17
Ươm, nuôi giống thuỷ sản 0,8 1,8 2,3 2,4 2,9 2,9
B. Tổng sản lượng thuỷ sản (nghìn tấn) 2250,5 2434,7 2647,4 2859,2 3142,5 3432,8 3707,4
Khai thác 1660,9 1724,8 1802,6 1856,1 1940,0 1995,4
2155,0
Nuôi trồng 589,6 709,9 844,8 1003,1 1202,5 1437,4
1552,4
Nguồn: Tổng cục Thống kê
18
Những nỗ lực trong việc đổi mới đã đem lại kết quả đáng khích lệ là
ngành thuỷ sản phát triển toàn diện trên các mặt nuôi trồng, khai thác, chế biến
và xuất khẩu.
Cũng từ đầu năm 2006 đến nay, toàn ngành đã khai thác được gần 3,5
triệu tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó sản lượng thu được từ
nuôi trồng thuỷ sản trên 1,5 triệu tấn và còn lại là từ khai thác biển. Tốc độ tăng
bình quân hàng năm của giá trị sản xuất thuỷ sản thời kỳ 1986 – 2006 đạt mức
cao, gần 10%. Theo Bộ Thủy sản, tính đến ngày 24-11, kim ngạch xuất khẩu
thủy sản của cả nước đã đạt gần 3,1 tỉ USD, bằng 110,06% kế hoạch đề ra cho
cả năm (3 tỉ USD) và tăng 24,45% so với cùng kỳ.
Quá trình tăng trưởng sản lượng thuỷ sản diễn ra đồng thời với quá trình
tăng trưởng diện tích NTTS. Tuy nhiên, tốc độ tăng sản lượng nhanh hơn do
năng suất nuôi trồng tăng lên.
Bảng 2:Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch sang các thị trường
năm 2005
Thị trường Số
lượng(tấn)
Giá trị(USD)
Châu Á (không kể Nhật
Bản)
131559.9 378035774
Châu Âu 115696.6 380904754
rất cao về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là sau những vụ ngộ
độc thực phẩm, nên để thu được thành công ở thị trường này, ngành đã xác định
không ngừng nâng cao chất lượng và vệ sinh an toàn sản phẩm là nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu trong chiến lược xúc tiến thâm nhập thị trường. Ngành đã hướng
dẫn các doanh nghiệp phấn đầu liên tục nhiền năm để tạo nên những bước
chuyển biến tích cực theo hướng này. Từ Bộ Thuỷ sản đến các doanh nghiệp đã
thực hiện hàng loạt biện pháp, từ cải thiện hệ thống thể chế, hoàn thiện văn bản
quy phạm pháp luật, nâng cao năng lực các cơ quan thẩm quyền, đổi mới cách
tiếp cận trong quản lý chất lượng, an toàn sản phẩm, cho đến đầu tư đổi mới
công nghệ, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cấp điều
kiện sản xuất nhằm thoả mãn các điều tương đồng với các nước nhập khẩu về hệ
20
thống pháp lý, năng lực của cơ quan thực thi pháp lý và điều kiện sản xuất của
các doanh nghiệp.
Từ một hệ thống nhà máy chế biến lạc hậu và cũ kỹ, phụ thuộc hầu như
hoàn toàn vào thị trường Nhật, với quyết tâm đổi mới cơ bản về điều kiện vệ
sinh và công nghệ sản xuất, áp dụng các hệ thống đảm bảo chất lượng tiên tiến
nhất theo yêu cầu của thị trường tiêu thụ, gần 200 nhà máy chế biến thủy sản
của Việt Nam đã gần như trải qua một cuộc lột xác với quá trình tiếp cận những
phương pháp công nghệ, quản lý an toàn vệ sinh tiến tiến, quá trình đổi mới
trong chế biến phục vụ hoạt động xuất khẩu được tiến hành trên mọi mặt: từ
nâng cấp điều kiện sản xuất; đổi mới công nghệ thiết bị; thay đổi cách tiếp cận
trong quản lý an toàn, chất lượng theo HACCP, từ quản lý sản phẩm đầu cuối
sang quản lý toàn bộ quá trình sản xuất; tăng cường hệ thống luật pháp; tăng
cường năng lực hệ thống thanh, kiểm tra; đổi mới cách tiếp cận thị trường từ
“bán cái mình có” sang “bán cái khách hàng cần”, chủ động tìm đến với khách
hàng.
Việt Nam cũng đã thực hiện các chương trình giám sát dư lượng các hoá
chất độc hại có trong thủy sản nuôi từ vùng nuôi đến nhà máy chế biến, giám sát
vùng thu hoạch nhuyễn thể hai mảnh vỏ và được EU đánh giá cao. Và cùng với
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Kim ngạch
(triệuUSD)
71,8 90,7 73,7 116,7 231,5 380,9
Khối lượng
(tấn)
20.290,8 26.659,1 28.612,8 38.186,8 73.459,2 115.696,6
(Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thuỷ sản)
Sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu là cá, tôm, mực, bạch tuộc, cá
ngừ, đồ hộp. Trong giai đoạn từ 2000-2001, mặt hàng có khối lượng nhập khẩu
lớn nhất của EU từ Việt Nam là tôm đông lạnh. Kim ngạch xuất khẩu tôm đông
lạnh năm 2000 đạt 38,6 triệu đôla, năm 2001 - 43,6 triệu đôla. Năm 2002, kim
22
ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam có giảm sút, chỉ còn 15,7 triệu đôla. Thời
gian đó, một số lô tôm đông lạnh của Việt Nam xuất sang EU bị phát hiện có dư
lượng kháng sinh cao quá mức cho phép và bị huỷ, gây thiệt hại lớn cho nhà
xuất khẩu. Nguyên nhân của tình trạng trên là do chúng ta chưa đáp ứng được
yêu cầu vệ sinh thực phẩm từ khâu nuôi trồng đến bàn ăn được công bố trong
Sách Trắng của EU đối với thực phẩm chế biến nhập khẩu. Thực hiện chính
sách bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng EU quy định “cấm” sử dụng 16 loại
hoá chất trong đó có chloramphenicol và nitrofuran có trong thực phẩm, tức phải
hiểu là “dư lượng kháng sinh bằng 0”. Trong thực tế EU cho phép dư lượng
kháng sinh dưới 0,3 phần tỷ là đạt yêu cầu.
Từ năm 2002, thương mại tôm giữa Việt Nam và EU đã có những dấu
hiệu phục hồi và có sự gia tăng cả về giá trị và khối lượng tôm xuất sang thị
trường này trong năm 2003 và 2004. Năm 2003, Việt Nam đã xuất khẩu hơn
5316 tấn tôm sang EU, tăng 28% so với 4000 tấn năm 2002. Năm 2004, tôm
Việt Nam đã thâm nhập mạnh hơn vào các thị trường mới tại khu vực EU, khi
các nhà xuất khẩu tôm Việt Nam chuyển hướng từ Bỉ, thị trường truyền thống số
một tại EU, sang các thị trường khác như Anh, Đức, Italy. Đối với mặt hàng tôm
đáng kể.
Sau khi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực tháng
12/2001, kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã phát triển nhảy vọt.
Hiệp định đã tác động rất lớn tới việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng thuỷ sản của
Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ, đưa Hoa Kỳ trở thành một trong những thị
trường nhập khẩu thuỷ sản hàng đầu của Việt Nam.
24
Bảng 4 : Mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ
năm 2000 - 2004
Đơn vị : Nghìn USD
i. Mặt hàng 2000 2001 2002 2003 2004
Tôm nước lợ 185,12 308,70 368,62 468,93 277,45
Cá sống 175 216 201 271 357
Cá sấy khô, ướp muối, hun khói … 374 596 722 1,005 3,549
Hải sản thân mềm, nhuyễn thể 8,17 6,16 5,82 7,44 6,18
Cá đông lạnh (không bao gồm cá
filê hoặc cá thịt khác)
6,80 10,22 9,23 10,70 14,71
Cá tươi (không bao gồm cá filê
hoặc cá thịt khác)
9,59 16,64 24,67 23,66 25,38
Cá filê và cá thịt khác tươi, hoặc
đông lạnh
32,61 41,72 69,17 56,45 78,36
Nguồn : Số liệu của Bộ Thương mại Hoa Kỳ
Năm 2000, cơ cấu thị trường nhập khẩu Hoa Kỳ có sự điều chỉnh mạnh và
Việt Nam đã nắm bắt cơ hội chen chân vào thị trường rộng lớn này. Xuất khẩu
thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng đột ngột lên 2,14 lần so với năm 1999
và là mức tăng nhanh nhất trong số các quốc gia xuất khẩu thuỷ sản vào Hoa
Kỳ. Trong các mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ, tôm chiếm tỷ