Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
sự phát triển của kinh tế tri thức và những tác động
của nó đối với sự phát triền kt-xh ở việt nam
Lời mở đầu
Chúng ta đang sống , làm việc và học tập dới một xã hội phát triển ,
văn minh và tiến bộ . từ thập kỷ 80 đến nay do tác động của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ hiện đại , đặc biệt là công nghệ thông tin , công nghệ
sinh học , công nghệ năng lợng và công nghệ vất liệu mới nền kinh tế thế
giới đang biến đổi sâu sắc , mạnh mẽ về cơ cấu , chức năng và phơng thức
hoạt động .Đây không phải là sự biến đổi bình thờng mà là một bớc ngoặt của
lịch sử có ý nghĩa trọng đại : nền kinh tế chuyển tử công nghiệp sang kinh tế
tri thức , nền văn minh loài ngời chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang
nền văn minh tri tuệ .
Ngời ta thờng nói đến nền kinh tế tri thức khi hàm lợng tri thức trong
hàng hoá và dịch vụ tăng cao , khi tri thức khoa học trở thành công nghệ hiện
đại , khi công nghệ thông tin và viễn thông là phơng tiện có ý nghĩa quyết
định cho nghiên cứu và sản xuất kinh doanh thế giới đang nói nhiều đến
nền kinh tế tri thức , đến vấn đề hội nhập và toàn cầu hoá . nhiều quốc gia đã
xây dựng những chiến lợc phát triển nhằm tạo tiền đề quan trọng để tận dụng
thời cơ đa đất nớc đi vào nền kinh tế tri thức và sẵn sàng tham gia vào quá
trình hội nhập .
Kinh tế tri thức là một khái niệm khá mới mẻ . việc làm rõ những
cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn về kinh tế tri thức nh một xu hớng toàn cầu
, đặc biệt là xác định đầy đủ thời cơ và thách thức đối với nớc ta là một việc
hết sức cần thiết . hiện nay việt nam còn gặp rất nhiều khó khăn và bất
cập trên con đờng xây dựng nền kinh tế tri thức . cho đến nay vẫn cha đủ
thực tiễn để có một hệ thống lý thuyết trọn vẹn , đầu đủ , nêu rõ đợc quy luật
của quá trình hình thành , vận động cũng nh cơ chế tối u của nền kinh tế tri
Tôn trọng khách quan là tôn trọng khách quan của vật chất , của các
quy luật tự nhiên và xã hội . điều này đòi hỏi trong hoạt động thực tiễn con ngời
phải xuất phát từ thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi họat động của mình .
V.I.LÊNIN đã nhiều lần nhấn mạnh không đợc lấy ý
muốn chủ quan của mình làm chính sách , không đợc lấy tình cảm làm điểm
xuất phát cho chiến lợc và sách lợc cách mạng . nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ
quan , nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế , lấy ảo tởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc
phải bệnh chủ quan duy ý chí .
Phát huy tính năng động chủ quan tức là phát huy vai trò tích cực của
ý thức , vai trò tích cực của nhân tố con ngời . ý thức muốn tác đông tác động
trở lại đời sống hiện thực phải bằng lực lợng vật chất , nghĩa là phải đợc con ngời
thực hiện thông qua thực tiễn . sự tác động của ý thức phải thông qua hoạt động
của con ngời đợc bắt đầu từ khâu nhận thức cho đợc quy luật khách quan , biết
vận dụng đúng đắn quy luật khách quan , phải có ý chí , phơng pháp để tổ chức
hoạt động
Vai trò của ý thức là ở chỗ trang bị cho con ngời những tri thức về bản
chất quy luật khách quan của đối tợng , trên cơ sở ấy , con ngời xác định đúng
đắn mục tiêu và đề ra phơng hớng hoạt động phù hợp . sau đó con ngời với ý
thức của mình xác định các biện pháp để thực hiện tổ chức các hoạt động thực
tiễn . cuối cùng bằng sự nỗ lực và ý chí mạnh mẽ của mình con ngời có thể thực
hiện đợc mục tiêu đề ra . ý thức và t tởng có thể quyết định làm cho con ngời
hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng đắn , sâu sắc thế giới khách
quqan , vì đó là cơ sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu , phơng hớng và
biện pháp chính xác . ngợc lại , ý thức và t tởng có thể làm cho con ngời hoạt
động sai lầm và thất bại khi con ngời phản ánh sai quy luật khách quan . vì vậy ,
phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức , phát huy vai trò nhân tố con
ngời để tác động cải tạo thế giới khách quan ; đồng thới phải khắc phục bệnh bảo
thủ trì trệ , thái độ tiêu cực , thụ động ,ỷ lại .
kinh tế tự nhiên
tơng dơng với
nền kinh tế nông
nghiệp vầ xã hội
nông dân cổ
chuyền
hình thái thị tr-
ờng tơng đơng
với nền kinh tế
thị trờng của thời
đại công nghiệp
cơ khí và xã hội
công nghiệp
Hình thái cộng
sản chủ nghĩa t-
ơng đơng với nền
kinh tế có trình độ
phát triển cao (kinh
tế tri thức có thể là
một cách diễn đạt )
xã hội tự do chân
chính
phơng thức
tồn tại
tự cấp tự túc ,
khép kín trong
một cộng đồng
nhỏ cách biệt
phân công và
trao đổi bị giới
hạn chế của họ
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
mạng máy tính dữ liệu tốc độ cao và cũng áp dụng thế hệ máy tính tiếp theo của
INTERNET . Xuất phát từ lập luận : yếu tố cốt lõi của nền kinh tế tri thức là tri
thức và tri thức chỉ có đợc ở con ngời .
sau đây là tình hình phát triển kinh tế tri thức ở các nớc phát triển (mỹ ,
các nền kinh tế EU , nhật bản ).
Tình hình ở Mỹ : vào 2/1997 trong thông điệp về tình hình đất nớc tổng
thống bill clintơn đã chính thức sử dụng tên gọi kinh tế tri thức theo định
nghĩa của tổ chức OECD . trong những năm gần đây nền kinh tế mỹ đã bắt đầu
lộ ra khuôn mặt của thời đại kinh tế tri thức nh chỉ tiêu cho phát triển nhân tài
kiểu tri thức chiếm hơn 7% GDP , đầu t cho nghiên cứu và phát triển (R&Đ)
chiếm khoảng 2,8%GDP hớng vào việc sáng tạo cái mới , thơng mại hoá số lợng
lớn các thành quả của kỹ thuỵât cao để thúc đẩy tăng trởng trong đó ngành sản
xuất phần mềm có hàm lợng tri thức cao đợc lấy làm đại diện chính cho các
nguồn tăng trởng . VD: trong 3năm gần đây tỉ lệ đóng góp ngành sản xuất điện
tử - tin học vào tăng trởng kinh tế mỹ đã lên 45% ,. Hàng loạt các dịch vụ mới
nh : tài chính , bảo hiểm , thông tin thơng mại điện tử đã xuất hiện và hình
thành nhanh chóng trên thị trờng , trên cơ sở máy tính hoá các công nghệ thông
tin và phơng tiện giao tiếp mới ở mỹ sức mạnh thơng mại điẹn tử hoàn toàn
coá thể chặn đợc , bắt đầu mở cửa từ năm 1991 thơng mại điện tử mỹ đợc dự
báo đến năm 2002 thông qua INTERNET sẽ đạt tới 327 USD tơng đơng
2,3%GDP và sẽ nhẩy vọt 6%GDP vào năm 2005 . kết cấu việc làm thay đổi
không ngừng khai thác và phát triển những lĩnh vực việc làm mới dới tác động
của nền kinh tế tri thức .nhờ những biến đổi trên . trong gần 10 năm qua nền
kinh tế mỹ có tốc độ tăng trởng 3%,
lạm phát dới 2% , thất nghiệp 4,5% , lơng thực tế ngày càng tăng đặc biệt là lợi
nhuận thực tế của các công ty mỹ tăng 70% so với năm 1990 .
thế kỷ 21. Mà về thực chất đó là nền kinh tế đợc dẫn dắt bởi tiến
bộ kỹ thuật bởi sự tiến bộ của cuộc cách mạng thông tin đang ngày càng tăng tốc
và công nghệ sinh học đang tiến sát đến ngỡng cửa của các tác động lớn về kinh
tế . do đó nớc mỹ đang kích thích làn sóng phát triển sáng chế từ INTERNET
đến công nghệ sinh học cho tới nhữnh công nghệ phát triển nhất mà hiện nay
gần nh đợc thơng mại hoá toàn bộ để đa nớc mỹ tiến vào thế kỷ 21 . nắm bắt đ-
ợc xu hớng toàn cầu hoá và sự
chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức , giới cầm quyền ở mỹ đã chủ động vạch ra
những ý tởng cho chiến lợc để phổ biến và phát triển nền kinh tế tri thức . mỹ
cho rằng mạng INTERNET sẽ trở thành phơng tiện buôn bán sống động của mỹ
trong vòng 10 năm từ nay trở về sau và sau đó . khẳng định lập trờng phải chủ
động năm bắt cơ hội và tích cức phát triển nền kinh tế tri thức , các nớc phát triển
khác noi gơng mỹ , đã tích cực các biện pháp đón chờ cơ hội và thách thức của
quá trinh bớc sang thời đại kinh tế tri thức . năm 1994 : chính phủ CANADA đã
đa ra báo cáo chính sách ,con ngời và hế hoạch với tiêu đề phụ là chuẩn bị
quá độ sang nền kinh tế trị thức , đề cập tới vai trò của khoa học công nghệ trong
quá trình chuyển từ nền kinh tế dựa vào tài nguyên , lao động và t bản sang nền
kinh tế dựa vào tri thức . tháng 6/1994 khi bàn về chính sách cạnh tranh của EU
EU đã đề ra kế hoạch tiếp tục phát triển kỹ thuật sinh học , tài nguyên năng l-
ợng , môi trờng giúp EU bớc vào một thời kỳ mới .
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
II. thực trạng của quá trình nghiên cứu kinh
Kinh tế tri thức ở việt nam :
1.thành công và u điểm :
1.1. xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ ở việt nam trong quá trình
hội nhập :
một nền kinh tế độc lập tự chủ trong mô hình kinh tế hớng nội có
đặc trng là đảm bảo các nhu cầu thiết yếu trong nớc để không lệ thuộc vào bên
ngoài từ hoạch định chiến lợc chính sách đến các hàng hoá dịch vụ , cung không
trong nền kinh tế tri thức thay vì đất đai , tài nguyên và vốn trớc đây , tri thức
ngày càng làm nên giá trị áp đảo trong mỗi sản phẩm . các nớc có thế mạnh về
khoc học công nghệ sẽ ra sức đầu t vào
những ngành kinh tế dựa vào tri thức . còn đối với những nớc kém phát triển , do
trình độ khoa học công nghệ thấp , công nhân tri thức rất ít nền sức canh
tranh trên thị trờng rất hạn chế .nếu có tiếp cận với những ngành công nghệ cao
thì cũng không có đợc những bí mật có tính chất quyết định đối với quá trình sản
xuất của các quốc gia
bên cạnh xu thế trên của phân công lao động quốc tế với sự phát
triển của tri thức , khoa học và công nghệ , sự phân công chuyên sâu trong hợp
tác quốc tế cũng đợc tăng cờng theo hớng ngày càng có nhiều công ty chỉ đi vào
sản xuất một loại mặt hàng , một chi tiết nào đó của sản phẩm hoặc là chỉ cung
cấp một dịch vụ chuyên môn nhất định . vì vậy khi kinh tế tri thức phát triển thì
làm cho phân công lao động xã hội trở nên sâu sắc và rộng khắp quốc tế .
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
1.3.thay đổi cơ cấu kinh tế thế giới và cấu trúc của quan hệ quốc tế :
với sự xuất hiện của kinh tế tri thức , kinh tế thế giới đang đứng tr-
ớc những thay đổi sâu sắc và bất ngờ nhất kể từ khi xã hội chuyển từ xã hội nông
nghiệp sang xã hội công nghiệp vào thế kỷ XVIII-XIX .
trong những năm 60 , ngành nông -lâm- ng nghiệp chiếm 10,4% cơ cấu sản
phẩm thế giới , ngành công nghiệp chiếm 28,4% , dịch sụ chiếm 50,4%; đến
những năm 90 với sự phát triển của khoa học và công nghệ , cơ cấu trớc đây có
sự thay đổi mạnh mẽ theo tỉ lệ tơng ứng : 4,4% , 21% , 62,5% trong các nớc
phát triển các ngành dịch vụ đặc biệt phát triển và ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong tổng sản phẩm xã hội ( năm 1997 tỉ lệ tham gia vào khu vực dịch vụ
vào GDP và tạo ra công ăn việc làm ở mỹ theo thứ tự là :76% ,73% ; CANADA
là 79,7% , 80% ).
Sự thay thế cơ cấu kinh tế các nớc và kinh tế thế giới kéo theo sự thay
nhân tố hàng đầu có tính chất quyết định đối với việc thức đẩy sự toàn cầu hoá
hoạt động sở hữu trí tuệ
phát triển kinh tế có kiên quan nhiều đến sở hữu trí tuệ , sáng
tạo và sử dụng thông tin , đặc biệt trong các ngành sản xuất ra các sản phẩm
có hàm lợng cao về tri thức trên cơ sở đầu t manh mẽ vào con ngời
( HUMAN CAPITAL )
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trong nền kinh tế tri thức sản phẩm thông tin - tri thức đóng vai trò
quan trọng nhất , chúng là sở hữu của rất nhiều ngời và nhu cầu của mỗi cá nhân
là vô hạn . ở đây có một nghịch lí quan trọng : càng nhiều ngời dùng thì giá trị
của cải vật chất càng thấp trong khi đó giá trị của thông tin - tri thức sẽ ngày
cành cao khi có nhiều ngời sử dụng
1.5. điểm mạnh của đội ngũ cán bộ khoa học ở nớc ta:
đợc đào tạo chính quy trong các trờng đại học lớn ở các nớc .tập
hợp đợc nhiều ngời vào loại giỏi nhất của đất nớc thông qua các lớp chuyên và
các lớp thi tuyển . có t duy trừu tợng tốt , sớm nắm
bắt đợc các hớng nghiên cứu hiện đại của thế giới . đã đạt đợc một số thành tựu
nghiên cứu ở trình độ cao trên một số lĩnh vực lý thuyết cơ bản : toán lý thuyết ,
vật lý lý thuyết , cơ học lý thyết .
đợc rèn luyện trởng thành trong thực tiễn việt nam , có tinh
thần chịu đựng gian khổ cao , có tinh thần cần cù lao động và quyết tâm cao
trong sự nghiệp khoa học .
2.thất bại và nhợc điểm của kinh tế tri thức :
sự thách thức đối với nền văn hoá : trong nền kinh tế ri thức - xã hội
thông tin , văn hoá có điều kiện phát triển nhanh và văn hoá là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế xã hội . do thông tin tri thức bùng nổ , trình độ nền văn hoá
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trên đây là bảng sản lợng và lao động theo ngành (năm 1997):
(đơn vị tính %) điểm yếu của cán bộ khoa học ở nớc ta :
do cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu , nên họ yếu thực nghiệm và
hoạt động chủ yếu trong lý thuyết .
thiếu sự gắn bó mật thiết khoa học và đào tạo , khoa học với sản
xuất . thiếu những ngời tài giỏi làm đợc nhiệm vụ chắp nối khoa học cơ bản với
thực tiễn
đội ngũ cán bộ khoa học cơ bản ở nớc ta có tuổi thọ trung bình
cao , cha đạt tới ngỡng tối thiểu về chất lợng , số lợng thông tin ,điều kiện hoạt
động và môi trờng để thực sự đóng vai trò động lực trong sự phát triển kinh tế và
xã hội . nạn thất thoát chất xám đang diễn ra khá phổ biến , dới nhiều dạng khác
nhau
những yếu kém bất lợi nội tại đối với sự phát triển kinh tế của việt
nam : nền kinh tế lạc hậu , di sản của cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp vẫn
tồn tại khá nặng tiềm lực công nghệ và khoa học yếu kém
tri thức và phát triển đối với các nớc đang phát triển : so với những nớc
công nghiệp , khả năng tạo ra tri thức ở các nớc đang phát triển là rất hạn chế .
do chênh lệch về cơ sở hạ tầng thông tin nên khả năng tiếp cận luồng thông tin ở
các nớc đang phát triển rất hạn chế . hiện nay những nớc thu nhập thấp ( chiếm
khoảng 55% dân số thế giới ) nhng chỉ chiếm ít hơn 5% số điên thoại trên thế
giới . các nớc đang phát triển có rất ít các thể chế đảm bảo cho sự an toàn độ tin
cậy của các thông tin nh
xác minh về chất lợng và cỡng chế thi hành các cam kết . hiệu quả thể chế thấp
làm cản trở không nhỏ đến quan hệ giao dich kinh tế
đặc trng của nền kinh tế tri thức :
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tạo nên
bộ mặt mới của nền kinh tế , tạo tiền đề hình thành nền kinh tế tri thức và xã
hội hoá thông tin với những nét đặc trng nổi bật sau:
vai trò quan trọng của công nghệ cao , đặc biệt là công nghệ thông
tin : nền kinh tế nông nghiệp dựa chủ yếu vào máy móc , tài nguyên nền kinh tế
tri thức thì các yếu tố thông tin và tri thức có vai trò hàng đầu
phát triển kinh tế có liên quan nhiều đến sở hữu trí tuệ , sáng tạo và sử dụng
thông tin
khoa học trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp : thời gian từ kết
quả nghiên cứu khoa học đến công nghệ và đa ra sản phẩm đợc rút ngắn ( thế kỷ
19: 60-70 năm ; thế kỷ 20:20-30 năm , riêng thập niên 1990: 3năm ), thị trờng
công nghệ mới , sản phẩm mới gia tăng nhanh chóng : để đạt tới mức 500 triệu
ngời sử dung telephon phải mất 74 năm , radio 38 năm , tivi 13 năm , nhng
internet mất 3năm . phòng thí nghiệm và cơ quan khoa học ngoài nghiên cứu
còn mang chức năng sản xuất và kinh doanh , quá trình đổi mới công nghệ diến
ra nhanh hơn cả khả năng thích nghi của con ngời .phát minh khoa học ngày
càng nhiều và mở ra khả năng khoa học có thể giải quyết hầu hết những gì con
ngời cần để phục vụ cuộc sống cho mình . LLSX tinh thần đang chiếm u thế và
có ý nghĩa hơn nhiều so với LLSX vật chất ; tri thức trở thành sản phẩm có giá trị
cao hơn nhiều so với vật chất khác
thời gian tiến hành công nghiệp hoá đợc rút ngắn : nhờ có cuộc
cách mạng khoa học công nghệ mới , các nớc nghèo có thể tìm cơ hội phát triển ,
nếu tạo ra đợc nguồn nhân lực chất lợng cao , tiếp cân trình độ khoa học công
nghệ hiện đại ( thế kỷ 18 , một nớc muốn CNH phải mất 100năm , cuối thế kỷ
19 và đầu thế kỷ 20 mất khoảng 50-60 năm ,
trong những thập kỷ 70-80 mất 20-30 năm , đến cuối thế kỷ 20 thì khoảng thời
gian này còn ngắn hơn .
nguồn nhân lực trong xã hội nhanh chóng bị tri thức hoá : con ngời
đẩy phát triển sản xuất , vai trò ấy tăng dần cùng quá trình phát triển . trong nền
kinh tế nông nghệp vốn tri thức con ngời còn rất ít , hầu nh không đổi mới tác
dụng của tri thức và công nghệ chứa rõ rệt . những thành tựu khoa học thế kỷ 17
dẫn tới cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất thúc đẩy sự chuyển biến từ nền
kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp . kinh tế công nghiệp đã phát
triển trong hơn 200 năm qua , tạo ra nhiều của cải vật chất , khoa học công nghệ
ngày càng đóng góp vào sự tiến bộ của kinh tế xã hội và ngày càng có điều kiện
phát triển nhanh hơn . những thành tựu nổi bật của khoa học vào đầu thế kỷ 20
với vai trò dẫn đầu của thuyết tơng đối và thuyết lợng tử là tiền đề cho cuộc cách
mạng công nghệ hiện đại ra đời và phát triển vào giữa thế kỷ 20 và trong một
phần t cuối cùng của thế kỷ bớc sang một giai đoạn mới- bùng nổ thông tin tri
thức và công nghệ , đặc biệt là công nghệ thông tin ( nhất là siêu xa lộ thông tin ,
internet , thực tế ảo ) , công nghệ sinh học (đặc biệt là công nghệ gen ,công
nghệ tế bào ), công nghệ vật liệu mới , công nghệ năng
lợng làm tăng nhịp độ tăng trởng kinh tế , dịch chuyển mạnh cơ cấu kinh tế ,
tạo sự nhảy vọt trong LLSX ; LLSX bớc sang một giai đoạn mới phát triển về
chất , trong đó tri thức và thông tin trở thành yếu tố hàng đầu
của sản xuất ,khoa học và công nghệ trở thành LLSX trực tiếp . đây không chỉ là
cuộc cách mạng khoa học công nghệ , trong sự phát triển LLSX mà còn là cách
mạng trong quan niệm các cách tiếp cận . ROMER đã coi tri thức và công nghệ
là yếu tố thứ ba của sản xuất bên cạnh vốn và lao động .
cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại , nhất là cách mạng
công nghệ thông tin thúc đẩy sự ra đời của kinh tế tri thức : so với sự chuyển
biến từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp thì sự chuyển biến từ kinh
tế công nghệp sang kinh tế tri thức có nhiều ý nghĩa và trọng đại hơn :
trớc hết đó là sự chuyển đổi từ một nền sản xuất dựa vào tài nguyên
lao đông là chính sang nền sản xuất dựa vào trí tuệ con ngời là chính , cũng có
nghĩa là từ LLSX vật chất là chính sang LLSX tinh thần là chủ yếu .
thứ hai là sự thay đổi trong mọi lĩnh vực . mà trớc hết là công nghệ
dân :
tạo điều kiện cho ngời dân , mọi thành phần kinh tế khát huy hết khả
năng của mình đóng góp vào sản xuất . nhà nớc quản lý biện pháp luật , bằng
cơ chế chính sách , tạo mội trờng thuân lợi cho sự cạnh tranh lành mạnh , chăm
la phúc lợi xã hội , giáo dục ,khoa học mà không nên can thiệp vào sản xuất
kinh doanh . để mỗi doanh nghiệp mỗi ngời dân phát huy hết quyền chủ động
sáng tạo của mình .
phải thực sự giải phóng LLSX , phát huy mọi thành phần kinh tế nh các
Nghị Quyết của Đảng đã nêu .(hiên nay còn nhiều vớng mắc, lúng túng trong
chính sách , mà chủ yếu là do nhận thức về mối quan hệ giữa cơ chế thị trờng và
sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN chc đợc sáng tỏ ) . vậy nhiệm vụ
trung tâm là phải phát triển LLSX , phải xây dựng và phát triển QHSX sao cho
thúc đẩy phát triển LLSX.
2.chăm lo phát triển nguồn nhân lực , năng cao dân trí , đào tạo nhân
tài :
phải tiến hành cải cách trong giáo dục , đây là yếu tố quyết định thúc
đẩy đất nớc đi nhanh vào nền kinh tế tri thức . vì khoảng cách giữa nớc ta với
các nớc phát triển chủ yếu là tri thức . ta có thể rút ngắn
khoảng cách bằng xây dựng và phát triển mạnh nền giáo dục tiên tiến phù hợp
với xu thế phát triển của thời đại . với những biện pháp sau :
trong 5 năm : phải phổ cập giáo dục THCS trong toàn quốc
THPT trong các thành thị , khu công nghiệp , vùng đồng bằng đông dân .
mở rộng quan hệ quốc tế hợp tác GD-ĐT với nớc ngoài .
Cải thiện đời sống và bồi dỡng năng lực chuyên môn thờng
xuyên cho thầy cô giáo để họ toàn tâm toàn ý cho việc dạy học và tham gia vào
công việc GD-ĐT
Cải cách chế độ thi cử , tuyển chọn , tuyển dụng đề khắc phục
tình trạng học chỉ để thi , học vì bằng cấp , nạn bằng giả
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
ơng tiện và phơng pháp tiên tiến hiện đại , dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ khoa học-công nghệ , tạo ra nhiều sức lao động xã hội
cao
Kết luận
Nh vậy , kinh tế tri thức đang ngày càng phát triển . đó cũng chính là
các mục tiêu mà các quốc gia cần vơn lền để phát triển đất nớc . Đây là xu thế tất
yếu trong quá trình phát triển sức sản xuất , là thành tựu quan trọng của loài ngời
mà chủ nghĩa xã hội cần nắm lấy và vận dụng để phát triển LLSX , xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho CNXH.
Cùng với xu hớng toàn cầu hoá , quá trình phát triển kinh tế tri thức
phản ánh những sự thay đổi sâu rộng về kinh tế tử bản thân các yếu tố sản xuất
đến các phơng thức sản xuất và các sản phẩm làm ra . mặt khác kinh tế tri thức
có tác động hêt sức to lớn tới cấu trúc kinh tế , phơng thức hoạt động và tổ chức
quản lý kinh tế và xã hội trong mội một quốc gia. ngày nay , các nớc phát triển
trên thế giới đang bớc sang một giai đoạn phát triển mới về chất , chuyển từ nền
kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lực vật chất sang nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri
thức , với đặc trng cơ bản của nền kinh tế mới là tri thức là nhân tố quan trọng
quyết định mức sống
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Một nhà khoa học đã nhận định rằng : tri thức của loài ng ời ở thế kỷ
thứ XIX cứ khoảng 50 năm thì tăng gấp đôi ; sang đầu thế kỷ XX c khoảng 30
năm thì tăng gấp đôi ; vào giữa thế kỷ XX , cú khoảng 10 năm tăng gấp đôi ; đến
thập kỷ 70 cứ 5 năm thì tăng gấp đôi ; tới thập kỷ 80 cứ khoảng 3 năm thì tăng
gấp đôi
Nhờ có sự phát triển của kinh tế tri thức mà đời sống đợc nâng cao cả
về mặt vật chất lẫn tinh thần . nhất là đối với VIệT NAM thì kinh tế tri thức
càng quan trọng , chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH vì vậy mà hội
nhập kinh tế quốc tế đó là một tất yếu . qua quá trình nghiên cứu đề tài nay mà
1. giáo trình triết học mác - lênin . nhà xuất bản Chính Trị quốc gia .
hà nội - 2006
2. C.MAC & ĂNGGHEN .Toàn tập . Nhà xuất bản Chính Trị quốc gia
3. nền kinh tế thế kỷ XXI . BUSINEES WEEK
4. CNSH. Nhà xuất bản đại học quốc gia
5. tạp trí xã hội học năm 1998-1999
6. xã hội hoá giáo dục . NXB. Giáo dục .năm 1995
7. gS đặng hựu : kinh tế tri thức
15