DANH MỤC CÁC BẢNG
i
DANH MỤC CÁC HÌNH
ii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngô (Zea mays L.) thuộc chi Maydeae, thuộc họ hòa thảo Gramineae, là
loại lương thực có tầm quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và kinh tế toàn
cầu. Nhờ có sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật mà nhiều loại giống ngô mới ra
đời có năng suất và chất lượng cao, không ngừng góp phần vào sự tăng
trưởng kinh tế, giải quyết nhu cầu lương thực của người dân. Ở các nước
thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi, người ta sử dụng ngô làm lương thực
chính với phương thức rất đa dạng tùy thuộc vùng địa lý và tập quán từng nơi.
Cây ngô còn là cây thực phẩm có giá trị cao về dinh dưỡng, người ta dùng
bắp ngô bao tử làm rau - một thức ăn cao cấp đang được ưa chuộng.
Trên thị trường quốc tế, ngô đứng hàng đầu trong danh sách những mặt
hàng có khối lượng hàng hóa giao dịch ngày càng tăng, tỷ trọng lưu thông
lớn, thị trường tiêu thụ rộng, sự cạnh tranh gay gắt. Thu nhập về ngoại tệ của
ngô luôn luôn là nguồn lợi lớn đối với nhiều nước. Cây ngô còn là đối tượng
nghiên cứu cho di truyền học tế bào vì bộ nhiễm sắc thể ít (2n = 10), các
giống, các dòng dễ lai tạo và có ưu thể lai cao, đồng thời công tác đột biến
ngày càng được đẩy mạnh nhằm tạo ra các giống ngô giàu lysine và cải tiến
thành phần hóa học.
Việt Nam nằm trong vùng sinh thái nhiệt độ thấp; cây ngô đã được đưa
vào sản xuất cách đây 300 năm. Tuy số lao động làm nghề nông chiếm gần
80%, nhưng khả năng thâm canh, sử dụng giống, áp dụng khoa học kỹ thuật
vẫn chưa được chú trọng. Bởi lẽ đó, năng suất và chất lượng ngô chưa cao.
Mặt khác trong 10 năm trở lại đây sản xuất của nước ta đã không ngừng tăng
lên cả về diện tích lẫn năng suất, nhưng do dân số tăng nhanh nên sản lượng
ngô sản xuất ra vẫn chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu của thị trường.
1
mới cũng như các giống ngô lai triển vọng tại các điều kiện sinh thái khác
nhau là rất cần thiết trong quá trình phát triển một giống mới.
Trước những thực trạng đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “So sánh một số
giống ngô lai vụ Thu năm 2012 và vụ Xuân năm 2013 tại huyện Quản Bạ –
Hà Giang”.
2. Mục đích và mục tiêu của đề tài
2.1. Mục đích
Lựa chọn được một số giống ngô lai mới có năng suất cao, ổn định thích
hợp điều kiện địa phương góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, bổ sung vào
cơ cấu giống ngô lai tại địa phương.
2.2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống ngô lai.
- Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh, chống chịu với các điều kiện
ngoại cảnh bất lợi của các giống ngô lai nghiên cứu.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
ngô lai nghiên cứu.
- Đề xuất được một số giống ngô lai phù hợp cho điều kiện sản xuất ở
địa phương.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Trước những năm 90, nước ta chỉ gieo trồng các giống ngô thụ phấn tự
do, các giống ngô lai tuy có được nghiên cứu nhưng diện tích trong sản xuất
không đáng kể. Những năm gần đây, chương trình ngô lai quốc gia đã có sự
phát triển mạnh mẽ về diện tích, năng suất, sản lượng góp phần quan trọng
đảm bảo an ninh lương thực trong nước. Việc tăng cường đầu tư thâm canh,
tăng vụ, tăng năng suất dựa trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học kỹ
thuật, đặc biệt là việc nghiên cứu, sử dụng và đưa các giống ngô lai có năng
suất cao, ổn định vào sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu về ngô ngày càng tăng.
Mexico. Cũng có giả thuyết khác cho rằng ngô sinh ra từ quá trình lai ghép
giữa ngô đã thuần hoá nhỏ (dạng thay đổi không đáng kể của ngô dại) với cỏ
ngô thuộc đoạn Luxuriantes. Song điều quan trọng nhất nó đã hình thành vô
số loài phụ, các thứ và nguồn dị hợp thể của cây ngô, các dạng cây và biến
dạng của chúng đã tạo cho nhân loại một loại ngũ cốc có giá trị đứng cạnh lúa
mì và lúa nước.
1.2.2. Các loại giống ngô
Dựa trên cơ sở di truyền và quá trình chọn tạo giống, giống ngô được
chia ra thành 2 loại chính: Giống ngô thụ phấn tự do và giống ngô lai.
1.2.2.1. Giống ngô thụ phấn tự do (Maize Open Pollinated Variety)
Giống ngô thụ phấn tự do là một danh từ chung để chỉ các loại giống mà
trong quá trình sản xuất hạt giống, con người không can thiệp vào quá trình
thụ phấn, chúng được tự do thụ phấn. Gọi như vậy nhằm phân biệt chúng với
loại giống lai sẽ được nói ở phần sau.
5
Theo nghĩa rộng, giống ngô thụ phấn tự do bao gồm các loại sau: Giống
ngô địa phương, giống tổng hợp, giống hỗn hợp.
* Giống ngô địa phương (Local Variety)
Là giống tồn tại trong thời gian dài ở một địa phương nhất định, có các
đặc điểm, đặc trưng xác định khác với các giống khác và các đặc điểm này
được di truyền cho thế hệ sau. Giống này thích nghi cao ở điều kiện địa
phương, chất lượng tốt, năng suất ổn định nhưng không cao, và là nguồn vật
liệu khởi đầu quan trọng trong công tác chọn giống mới.
Hiện nay, các giống địa phương cơ bản đã được thay thế bằng các giống
đã cải tiến và các giống lai. Tuy nhiên ở một số vùng xa xôi, hẻo lánh vẫn sử
dụng giống ngô địa phương, bao gồm các giống ngô như: Gié Bắc Ninh, Lừ
Phú Thọ, Xiêm trắng…(Ngô Hữu Tình, 1997).[12]
* Giống ngô tổng hợp (Synthetic Variety)
Là thế hệ tiến triển của giống lai nhiều dòng bằng con đường thụ phấn tự
do. Nói cách khác: giống tổng hợp là giống được tạo ra bằng con đường tự do
điều kiện về kinh tế và kỹ thuật có lẽ vai trò của các giống ngô lai không quy
ước sẽ thu hẹp và thay thế dần bằng các giống lai quy ước (Ngô Hữu Tình,
1997).[12].
Ở nước ta, nhóm ngô lai không quy ước được sử dụng chủ yếu trong
những năm 1980 vì chương trình ngô lai Việt Nam lúc đó mới bắt đầu. Đó là
những giống như: LS-3, LS-4, LS-7, LS-8 với tiềm năng năng suất đạt 3 - 7
tấn/ha. Hiện nay một số nơi ở miền núi vẫn sử dụng giống LS-7, LS-8.
* Giống ngô lai quy ước (Conventional hybrid)
Là giống ngô lai được tạo ra bằng cách lai các dòng thuần với nhau.
Dựa vào số dòng thuần tham gia tạo giống, giống lai quy ước được
7
phân thành:
- Giống lai đơn (A x B): là giống lai giữa hai dòng thuần. Các giống ngô
được tạo bằng lai đơn có năng suất cao, phẩm chất tốt được ưa chuộng là
giống LVN10, LVN 4, LVN20, LVN99…
- Giống lai ba [(A x B) x C]: được tạo thành bằng cách lai giữa giống lai
đơn với một thuần. Những giống lai ba đang được sử dụng như: LVN17,
LVN27, LVN29…
- Giống lai kép [(A x B) x (C x D)]: Là giống lai tạo ra bằng cách lai
giữa hai giống lai đơn với nhau. Các giống lai kép như: Biossed 9670, P11,
LVN12…
Lai đơn là giống lai ưu tú nhất, thể hiện ưu thế lai cao nhất song giá
thành sản xuất hạt giống cao nên giá bán đắt. Giống lai ba và lai kép chỉ là
biện pháp làm giảm giá giống nhằm phổ cập nhanh giống lai vào sản xuất,
không có ý nghĩa gì về việc cải thiện tính di truyền của giống.
Cùng với ý nghĩa trên, trong sản xuất có thể gặp một số giống lai cải tiến như:
+ Lai đơn cải tiến: là giống lai giữa một dòng thuần và một giống lai
dòng chị em, ví dụ: (A x A’) x B hoặc giữa hai cặp lai dòng chị em (A x A’) x
(B x B’).
+ Lai ba cải tiến: là lai giữa một lai đơn và một cặp lai dòng chị em, ví
2005 147,5 48,4 713,4
2006 148,8 47,5 706,7
2007 157,0 49,6 789,5
2008 161,1 51,3 826,2
2009 159,5 51,2 817,1
2010 184,9 51,6 823,9
Nguồn: FAOSTAT, 2011.[17]
Theo dự báo của việc nghiên cứu chương trình lương thực thế giới, năm
2020 tổng nhu cầu ngô của thế giới là 825 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm
lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho
công nghiệp. Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% sản lượng ngô làm lương
thực nhưng ở các nước đang phát triển ngô sử dụng làm lương thực chiếm
22%, (Trần Hồng Uy và cộng sự, 2002).[11]
Thực tế cho thấy, nhu cầu ngô trên thế giới từ 2007 đến 2020 sẽ thay đổi
9
rất lớn, đặc biệt ở các nước phát triển. Trong đó Đông Á và cận Sahara - Châu
Phi là hai khu vực có mức độ thay đổi lớn nhất dự báo nhu cầu năm 2020 tăng
85% và 79%. Nguyên nhân là do dân số thế giới tăng nhanh, nhu cầu sử dụng
thực phẩm có nguồn gốc động vật tăng đòi hỏi cần lượng ngô lớn dùng cho
chăn nuôi.
Vấn đề đặt ra là 80% nhu cầu ngô thế giới tăng (từ 586 triệu đến 852
triệu tấn) lại tập trung ở các nước đang phát triển. Trong khi đó chỉ khoảng
10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp có thể xuất sang các nước đang
phát triển. Vì vậy các nước đang phát triển phải tự đáp ứng nhu cầu của mình
bằng cách thúc đẩy sản xuất ngô trong nước phát triển
Bảng 1.2: Dự báo nhu cầu ngô thế giới năm 2020
Vùng
Năm 2007
(triệu tấn)
Năm 2020
đặc biệt là các nước đang phát triển có sự tăng diện tích ở những nơi có khả
năng gieo trồng ngô nhưng là một tỉ lệ nhỏ.
Hiện nay thị trường ngô trên thế giới được đánh giá là một thị trường
tương đối khả quan. Với tình hình sản xuất và tiêu thụ hiện nay thì cây ngô sẽ
càng khẳng định được vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới.
1.4. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô ở Việt Nam
Năng suất ngô ở Việt Nam chỉ đạt trên 1 tấn/ha, với diện tích hơn
200.000 ha, đến đầu năm 1980 năng suất cũng chỉ đạt 1,1 tấn/ha và sản lượng
hơn 400.000 tấn (do vẫn trồng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh
tác lạc hậu).
Năm 1991 diện tích trồng ngô lai chưa đến 1% trên hơn 400.000 ha trồng
ngô, năm 2007 giống ngô lai chiếm khoảng 95% trong số hơn 1.000.000 ha.
Năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bình thế
giới trong suốt 20 năm qua. Năm 1980, năng suất ngô nước ta chỉ bằng 34%
so với trung bình thế giới (11/32 tạ/ha), năm 1990 bằng 42% (15,5/37 tạ/ha),
11
năm 2000 bằng 60% (25/42 tạ/ha), năm 2005 bằng 73% (36/49 tạ/ha), năm
2007 đã đạt 81,0% (39,6/49 tạ/ha).
Năm 1994 sản lượng ngô Việt Nam vượt ngưỡng 1.000.000 tấn, Năm
2000 vượt ngưỡng 2.000.000 triệu tấn và năm 2007 chúng ta đã đạt diện tích,
năng suất và chất lượng cao nhất từ trước đến nay. Diện tích: 1.072.800 ha,
năng suất 39,6 tạ/ha, sản lượng 4.250.900 tấn.
Năm 2002, diện tích ngô nước ta chỉ là 810,4 nghìn ha, năng suất 28,6
tạ/ha, sản lượng 2314,7 nghìn tấn nhưng năm 2008 diện tích ngô đã tăng lên
đạt 1125,9 nghìn ha, năng suất đạt 40,2 tạ/ha và sản lượng đạt 4.500 nghìn
tấn. Như vậy chỉ trong vòng 6 năm, diện tích ngô đã tăng lên 315,5 nghìn ha,
năng suất tăng lên 11,6 tạ/ha, sản lượng là 2.185,3 nghìn tấn.
Chương trình nghiên cứu phát triển ngô lai ở Việt Nam đã được các tổ
chức quốc tế đánh giá rất cao vì có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Năm
1990 là năm đầu tiên Việt Nam áp dụng công nghệ sản xuất hạt giống ngô lai
do Viện đã xác định đúng hướng đi trong nghiên cứu, xây dựng cơ chế
thích hợp, chú trọng phát huy sức mạnh nội lực Những kinh nghiệm này
cần được các nhà quản lý quan tâm, các cơ quan nghiên cứu - triển khai
tham khảo, học tập.
Thành quả trong nghiên cứu khoa học của Viện nghiên cứu ngô là rất
đáng trân trọng: 13 giống ngô thụ phấn tự do (TH2 A, TH2 B, VM1, MSB49,
TSB1, TSB2, Q2, VN1, CV1, MSB49B, nếp tổng hợp, nếp VN2, đường VSB3);
8 giống ngô lai (LVN10, LVN4, LVN5, LVN12, LVN17, LVN20, LVN23,
LVN 251) được công nhận là giống quốc gia; 9 giống ngô được khu vực hóa.
Ngoài ra còn có 8 giống ngô lai không qui ước được dùng rộng rãi trong thời kỳ
chuyển tiếp giữa giống ngô thụ phấn tự do sang giống lai qui ước (hiện một số
vùng khó khăn vẫn còn sử dụng). Gần đây, các giống ngô HQ2000 (hàm lượng
đạm cao); ngô rau; LVN 22, là những giống mới có triển vọng đang được trình
diễn , mở rộng trong sản xuất. Viện cũng là nơi lưu trữ, bảo tồn, phân loại gần
500 nguồn gen ngô, trong đó có 206 giống ngô địa phương.
Công tác chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất được Viện nghiên
cứu ngô rất chú trọng theo phương châm kết quả nghiên cứu phải qua thực tế
sản xuất kiểm nghiệm và phải được nông dân chấp nhận. Hiện nay, hàng năm
13
Viện cung ứng khoảng 5000 tấn hạt giống ngô lai cho cả nước (chiếm khoảng
60% thị phần) với giá trung bình là 60000 đồng/kg. Nếu so với giá ngô lai
của nước ngoài là trên 70000 đ/kg (thậm chí có giống tới 100000 đ/kg) thì
hàng năm Viện đã tiết kiệm cho nhân dân khoảng hai chục tỷ đồng. Thành
công này của Viện là điều kiện quan trọng đưa nước ta trở thành nước có tốc
độ ngô lai hóa cao nhất khu vực. Cụ thể: Năm 1990 là 0 %, đến năm 2000 là 60%.
Diện tích, năng suất và sản lượng cũng tăng đáng kể: Năm 1990 - 430 ngàn hecta,
năng suất 1,55 tấn/ha, sản lượng 670 ngàn tấn; năm 2000 - 714 ngàn hecta, năng
suất 2,7 tấn/ha, sản lượng 1930 ngàn tấn và năm 2001 sản lượng là 2183 ngàn tấn.
Ngoài các giống ngô lai lấy hạt, Viện cũng đã chọn tạo được giống ngô rau vừa
cho hiệu quả kinh tế cao vừa cho thân lá phục vụ chăn nuôi.
quyết của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và
Công nghệ, là kết quả của những chính sách có tính chất đòn bẩy của nhà
nước và địa phương, của sự phát huy tối đa về lực lượng, đi tắt đón đầu kết
hợp giữa truyền thống và hiện đại của Viện nghiên cứu ngô Trung ương và
một số Viện nghiên cứu khác phối hợp với cục Khuyến nông và các công ty
giống Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất là kết quả của sự lao động
vô cùng sáng tạo của hàng triệu Nông dân và được sự cổ vũ mạnh mẽ của hệ
thống thông tin đại chúng. Bắt đầu từ những năm 1993 nước ta mới bắt đầu
đưa giống ngô lai vào sản xuất đại trà đến nay đã đạt được những bước phát
triển lớn, sự phát triển ngô lai ở nước ta đã được Trung tâm cải tạo giống ngô
và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT) và Tổ chức Nông Lương của Liên hiệp quốc
(FAO) cũng như các nước trong khu vực đánh giá cao. Trong vòng 7 - 8 năm
chúng ta đã đuổi kịp các nước trong khu vực về trình độ nghiên cứu tạo giống
ngô lai và đang ở giai đoạn đầu đi vào công nghệ cao, đặc biệt là ứng dụng
thành tựu công nghệ sinh học của thế giới vào nghiên cứu chọn tạo giống.
Trong hơn 20 năm qua công tác chọn tạo giống ngô ở Việt Nam đã đạt
được những vấn đề sau:
15
- Thu thập, bảo tồn giống ngô địa phương.
- Thu thập, nghiên cứu các giống ngô nhập nội.
- Nghiên cứu phục tráng các giống ngô địa phương.
- Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô thụ phấn tự do.
- Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô lai.
- Ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật về công nghệ sinh học trong chọn tạo
giống ngô.
Điều tra thu thập, bảo tồn và phân loại 585 nguồn nguyên liệu ngô. Chọn
tạo và đưa ra sản xuất hàng loạt các giống ngô thụ phấn tự do, đặc biệt trong giai
đoạn 1985 - 1995: giống MSB49, TSB2, HLS công nhận năm 1987; TSB1 công
nhận giống năm 1990; Q2(1991), CV1, TSB3 (1996), nếp VN2 (1998),…
Chọn tạo và được công nhận nhiều giống ngô lai có thời gian sinh trưởng
chống bệnh đốm lá, không hở bắp, chống khô vằn trung bình), LVN17 (giống có
khả năng chịu rét, chịu phèn, chống đổ, sâu bệnh tốt), LVN20, LVN23 (ngô rau).
Những giống ngô này có thể cho năng suất từ 5 -10 tấn/ha, chất lượng tốt, tính
chống chịu cao, thích hợp với nhiều vùng sinh thái và mùa vụ khác nhau, không
kém các giống ngô nước ngoài. Năm 1994 có bốn giống ngô lai chín sớm, chín
trung bình được phép khu vực hoá: LVN24, LVN25, LVN32, LVN33, (Trương
Đích, Phạm Đồng Quảng, Phạm Thị Tài, 2002).[4]
Trong năm 2002, Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương
đã tiến hành khảo nghiệm 43 giống ngô mới nguồn gốc lai tạo trong nước và
một số giống nhập nội ở phía Bắc kết quả là các giống ngô đã khảo nghiệm 2
- 3 vụ có triển vọng đề nghị mở rộng diện tích sản xuất thử để khu vực hoá và
công nhận chính thức là: Nhóm chín sớm gồm có LVN9, LVN99, NK4300;
Nhóm chín trung bình bao gồm các giống T9, CPA963, TX2001; Nhóm chín
17
muộn LVN98, LCH9. Còn các giống LVN35, NMH2002, C5252, TC47HB,
NK52 cần được khảo nghiệm cơ bản kết hợp với khảo nghiệm sản xuất.
Cũng trong năm này tại Trại khảo nghiệm giống cây trồng Miền Trung
đã khảo nghiệm một số giống ngô lai mới có năng suất cao, ổn định thời gian
chín trung bình và chống đổ tốt có nhiều đặc tính nông sinh học quý, có triển
vọng cho sản xuất bao gồm: B9999, LVN98, LVN9, VN9860, MT26, CP
989, trong đó các giống B9999, LVN98, VN9860, MT26, CP989 cần được
khảo nghiệm sản xuất tại các tỉnh trong vùng (Trần Văn Mạnh, Lê Thị Cúc,
Lê Quý Tường và CTV 2003).
Còn tại phòng khảo nghiệm giống cây trồng quốc gia phía Nam đã tiến
hành khảo nghiệm 15 giống ngô lai có triển vọng nhất của các công ty trong
và ngoài nước tại vùng Đông Nam Bộ và Cao nguyên Nam Trung Bộ đã xác
định được một số giống ngô có triển vọng như: C5252, NK46, NT5449,
NT6271, A8864, VN8960, DK171, H13V00 (kết quả khảo nghiệm và kiểm
nghiệm giống cây trồng năm 2003). Bên cạnh công tác khảo nghiệm các
giống ngô mới thì công tác lai tạo các giống ngô thích hợp với nhiều vùng
(Mèn Mén) cho nên cây ngô có vai trò hết sức quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp tại tỉnh Hà Giang. Trong những năm gần đây sản xuất nông lâm
nghiệp của tỉnh tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, trong đó cây ngô được xác
định là cây trồng hàng hóa có thế mạnh của tỉnh, hàng năm cơ cấu giống lai
chiếm tỷ lệ tương đối cao trong cơ cấu sản xuất, và đã thu được nhiều kết quả
nhất định nhờ có các thành tựu khoa học kỹ thuật mới, được nông dân ứng
dụng mạnh mẽ vào sản xuất ngô cho nên diện tích, năng suất và sản lượng
ngô trên địa bàn toàn tỉnh đã tăng nhanh trong những năm gần đây.
Qua bảng 2.5 cho thấy: Từ năm 2001 đến năm 2010, diện tích ngô của
tỉnh Hà Giang tăng từ 43.200 ha đến 47.559,4 ha. Năng suất ngô của tỉnh tăng
đều từ 18,3 ta/ha năm 2000 lên 27,8 ta/ha vào năm 2010, tăng 10,4 ta/ha so
với năm 2000. Sản lượng tăng từ 79.200 tấn năm 2000 lên 136.341 tấn vào
năm 2010, tăng 57.141 tấn so với năm 2000.Tuy nhiên năng xuất ngô của tỉnh
Hà Giang vẫn thấp hơn nhiều so với năng suất ngô của cả nước, năng suất ngô
hiện tại của tỉnh chỉ bằng 70,1 % năng suất ngô của cả nước. Sản lượng ngô
19
năm 2010 đạt 136.341 nghìn tấn. Điều này chứng tỏ trong những năm gần đây
ở Hà Giang, cây ngô đã được Đảng bộ và Chính quyền tỉnh chú trọng đầu tư
phát triển và đạt được những thành tựu như vậy là nhờ áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất ngô như; sử dụng giống mới, kỹ thuật
canh tác.Tuy nhiên, sản xuất ngô ở Hà Giang cần được quan tâm đầu tư phát
triển nhiều hơn nữa như; tăng diện tích gieo trồng ngô xuống ruộng 1 vụ, gieo
trồng ngô trên đất đồi bãi ở vụ Hè Thu, sử dụng giống mới, thâm canh tăng
năng suất nhằm khai thác tối đa tiềm năng sẵn có của tỉnh. Trước thực trạng
về sản xuất ngô tại Hà Giang nhằm đáp ứng yêu cầu cho thực tiễn sản xuất
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần cho công tác nghiên
cứu giống ngô lai cho tỉnh Hà Giang.
Bảng 1.5: Sản xuất ngô tỉnh Hà Giang giai đoạn 2001 - 2010
Năm
Diện tích
Bioseed 9698, CP 888, CP989, CP999, NK4300, NK66, NK54, DK 9901,
DK9955, DK9919, Tuy nhiên việc nghiên cứu và đánh giá các giống ngô lai
chưa được tổ chức hệ thống bài bản, các tổ hợp ngô lai chịu hạn chưa được
nghiên cứu để khuyến cáo cho sản xuất cho nên năng suất ngô nói chung của
Hà Giang còn thấp so với mặt bằng năng suất ngô của toàn quốc, năm 2010
đạt 70,1%. Trước thực trạng về sản xuất ngô tại Hà Giang nhằm đáp ứng yêu
cầu cho thực tiễn sản xuất chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm
góp phần cho công tác nghiên cứu giống ngô lai cho các huyện tỉnh Hà Giang.
Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về cây
ngô trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, song vẫn
còn nhiều vấn đề đặt ra cho các nhà nghiên cứu phát triển ngô, đặc biệt là khi
nước ta trở thành thành viên của WTO. Năng suất ngô của nước ta vẫn thấp
so với trung bình thế giới, năng suất thực tế thấp hơn nhiều so với năng suất
tiềm năng; giá thành sản xuất ngô ở nhiều vùng vẫn còn cao; bộ giống ngắn
ngày, chống chịu tốt, đặc biệt là hạn và một số đối tượng sâu bệnh hại chính
chưa nhiều; các giống ngô đường và nếp lai chưa có; nhiều biện pháp kỹ thuật
canh tác chưa được nghiên cứu sâu; sản xuất ngô ở một số vùng đang gây nên
tình trạng suy thoái môi trường; công nghệ bảo quản và chế biến ngô chưa
phát triển, sản phẩm về ngô còn nghèo nàn; bộ giống do Viện nghiên cứu Ngô
chọn tạo ở phía Bắc đã có thể cạnh tranh được với giống của các công ty nước
21
ngoài, nhưng cho phía Nam còn thiếu; ứng dụng công nghệ sinh học trong
chọn tạo giống đã đạt được một số kết quả bước đầu, song vẫn còn tụt hậu so
với những thành tựu mà thế giới đã đạt được kể cả trong sử dụng chỉ thị phân
tử và biến nạp gen,
Để đạt được mục tiêu mục tiêu 4,20 - 4,27 tấn/ha giai đoạn 2012 - 2020,
cần tiếp tục đa dạng hoá hình thức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật,, đặc biệt chú
ý việc kết hợp với các địa phương nhằm phát triển nhanh các kết quả nghiên
cứu ra sản xuất một cách hiệu quả.
Chương 2
2 VN02 Viện nghiên cứu ngô
3 VN03 Viện nghiên cứu ngô
4 VN04 Viện nghiên cứu ngô
5 VN05 Viện nghiên cứu ngô
23