Hàng rào kỹ thuật của Nhật Bản đối với ngành thủy sản ở Việt Nam và một số giải pháp để Việt Nam vượt qua những hàng rào này - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
======o0o======
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Đề tài:
Hàng rào kỹ thuật của Nhật Bản đối với ngành
thủy sản ở Việt Nam và một số giải pháp để Việt
Nam vượt qua những hàng rào này
Sinh viên thực hiện: Nhóm 18
Lớp: TMA301.1_LT
Giáo viên hướng dẫn: Thầy Vũ Hoàng Việt
Hà Nội, 3-2012
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
MỤC LỤC
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 2
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, tự do hóa là xu thế chủ đạo trong thương mại quốc tế, theo đó các quốc
gia cắt giảm và tiến tới xóa bỏ những rào cản thương mại, bao gồm quá trình cắt giảm
thuế quan cũng như các hàng rào phi thuế quan, xóa bỏ sự phân biệt đối xử, tạo lập sự
cạnh tranh bình đẳng nhằm tạo môi trường thuận lợi cho thương mại phát triển. Tuy
vậy không có nghĩa là các thị trường đã mở cửa hoàn toàn mà ngược lại, bảo hộ vẫn
tồn tại dưới nhiều hình thức mới, khó phát hiện hơn, dai dẳng hơn. Đặc biệt, nhiều thị
trường nhập khẩu lớn trên thế giới như: EU, Mỹ, Nhật, vv đang ngày càng áp dụng
nhiều hơn hình thức bảo hộ mậu dịch bằng hàng rào kĩ thuật (Technical Barrier to
Trade-TBT) thông qua các yêu cầu về tiêu chuẩn đối với hàng hóa nhập khẩu hết sức
khắt khe. Là một quốc gia lấy chính sách xuất khẩu hàng hóa làm một trong các chính
sách phát triển kinh tế chính, Việt Nam đã đang phải đối mặt với một thách thức lớn
khi xuất khẩu các mặt hàng ra thị trường thế giới. Trong đó, thủy sản là mặt hàng
thuộc nhóm xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam, đem về nguồn lợi nhuận cao cho các
doanh nghiệp nhưng cũng không nằm ngoài nhóm đối tượng mà các hàng rào kỹ thuật
hướng đến.

Hàng rào kĩ thuật là các quy định của nhà nước đối với những nhóm hàng,mặt
hàng nhất định muốn nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu liên quan đưa ra trong các
quy định kĩ thuật,tiêu chuẩn kĩ thuật,thủ tục đánh giá sự phù hợp,kiểm dịch động thực
vật,bảo vệ môi trường,và các quy định nhãn mác hàng.
2. Mục đích và xu hướng áp dụng
2.1. Mục đích áp dụng
− Đối với người tiêu dùng: Dễ dàng lựa chọn và sử dụng những sản phẩm thích
hợp có chất lượng và thông số kĩ thuật phù hợp với yêu cầu của mình.
− Đối với người sản xuất: Giúp cho việc sản xuất theo quy mô lớn theo một thông
số nhất định về kích thước,tiêu hao nguyên liệu,bán thành phẩm được sản xuất từ
nhiều nguồn gốc khác nhau.
− Đối với người bán: Có thể dễ dàng hiểu nhau khi đàm phán về một mặt hàng.
Song đối với một quốc gia ngoài mục đích mang tích chất tích cực trên hầu hết
các nước đều dùng các biện pháp kỹ thuật như một hàng rào nhằm bảo hộ thị trường
nội địa và sản xuất trong nước.
2.2. Xu hướng áp dụng
Trong nhiều năm gần đây, ngày càng có nhiều quốc gia áp dụng các quy định,
tiêu chuẩn kỹ thuật trong các hoạt động thương mại quốc tế. Điều đó có tác dụng to
lớn trong bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng về sự an toàn trong sử dụng, tiêu thụ
sản phẩm thông qua chất lượng sản phẩm tiêu dùng được đảm bảo. Xuất phát từ tác
dụng to lớn này, các quốc gia đã và đang tăng cường xây dựng và thực hiện một chính
sách bao gồm các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng trong hoạt động thương mại
trong nước cũng như thương mại quốc tế.
Khi một quốc gia muốn xuất khẩu sản phẩm của nước mình ra nước ngoài, ngoài
việc sản phẩm đó đáp ứng được các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật trong nước còn phải
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 5
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
phù hợp với các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật của các nước nhập khẩu – đây mới
chính là yếu tố quyết định đến việc sản phẩm của quốc gia đó có xuất khẩu được hay
không cũng như có thể được thị trường nước nhập khẩu chấp nhận hay không.

chúng nhằm mục đích cơ bản là bảo đảm an toàn thực phẩm nhằm ngăn ngừa các bệnh
tật lây lan qua động vật và thực vật không cho nhập vào một quốc gia.
3.3. Quy định về bảo vệ môi trường
Ngày nay, để bảo vệ môi trường trong nước, tạo điều kiện cho hàng hoá của
mình xâm nhập thị trường nước ngoài, nhiều quốc gia đã gắn nhãn sinh thái cho hàng
hoá của mình.
Theo tổ chức thương mại thế giới WTO và Ngân hàng thế giới WB, nhãn sinh
thái là một loại nhãn được cấp cho những sản phẩm thoả mãn một số tiêu chí nhất định
do một cơ quan chính phủ hoặc một tổ chức được chính phủ uỷ nhiệm đề ra. Các tiêu
chí này tương đối toàn diện nhằm đánh giá tác động đối với môi trường trong những
giai đoạn khác nhau của chu kỳ sản phẩm: từ giai đoạn sơ chế, chế biến, gia công,
đóng gói, phân phối, sử dụng cho đến khi bị vứt bỏ. Cũng có trường hợp người ta chỉ
quan tâm đến một tiêu chí nhất định đặc trưng cho sản phẩm, ví dụ mức độ khí thải
phát sinh, khả năng tái chế…
Về mặt hình thức, nhãn sinh thái có thể mang tên gọi khác nhau ở từng nước. Ví
dụ các nước Bắc Âu có nhãn Thiên nga trắng, Đức có nhãn Thiên thần xanh, trong khi
ở Singapore lại gọi là Nhãn xanh.
3.4. Quy định về nhãn mác bao bì
Biện pháp này được quy định chặt chẽ bằng hệ thống văn bản pháp luật, theo đó
các sản phẩm phải được ghi rõ các thông tin thuộc nội dung bắt buộc: hàng hóa, thành
phần cấu tạo, chỉ tiêu chất lượng chủ yếu, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, thời hạn
bảo quản, hướng dẫn sử dụng, xuất xứ hàng hóa, vv. Đây là một rào cản thương mại
được sử dụng rất phổ biến trên thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển.
Chương 2: Tổng quan về thủy sản ở Việt Nam
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 7
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
1. Tổng quan về xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trên một số thị trường lớn
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), khép lại
năm 2011, xuất khẩu (XK) thủy sản Việt Nam đã đem về cho đất nước 6,11 tỷ USD,
tăng 21% so với năm 2010. Đây là thắng lợi lớn của ngành thủy sản Việt Nam, nhất là

27,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhuyễn thể hai mảnh vỏ cũng đang có chiều hướng
tăng tích cực trong những tháng cuối năm, đặc biệt là tại hai thị trường Canada và
Australia.
Trước những kết quả đạt được của xuất khẩu thủy sản năm 2011, Bộ
NN&PTNT đã đặt mục tiêu mới cho xuất khẩu thủy sản năm 2012, phấn đấu đạt 6,3 –
6,5 tỷ USD, tăng 5% so với năm 2011.
2. Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.
2.1.Tình hình sản xuất thủy sản ở Việt Nam
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, chỉ riêng năm 2010, giá trị sản xuất nông,
lâm nghiệp và thuỷ sản (theo giá so sánh 1994) tăng 4,7% so với năm 2009, trong đó
thuỷ sản tăng 6,1%. Tổng sản phẩm trong nước của khối nông, lâm nghiệp và thủy sản
tăng 2,78%, trong đó thủy sản tăng 4,38%. Tổng sản lượng thủy sản năm 2010 ước đạt
5,07 triệu tấn, tăng 4,5% so với năm 2009, trong đó sản lượng NTTS ước đạt 2,69
triệu tấn, tăng 4,7%. Sang năm 2011, sản lượng thủy sản cả nước đạt 5.457 ngàn tấn,
tăng 5,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, sản lượng khai thác thủy sản đạt
2.527 ngàn tấn, tăng 4,6%; sản lượng nuôi trồng đạt 2.930 ngàn tấn, tăng 7,4% cùng
kỳ năm 2010.
2.1.1. Khai thác thủy sản
Theo báo cáo từ các địa phương, vụ cá Bắc 2010-2011, tình hình ngư trường
gặp nhiều biến động về thời tiết, mùa vụ và kết hợp với giá nhiên liệu tăng cao, nên
tàu thuyền nằm bờ nhiều và sản lượng khai thác đạt thấp. Trong năm, sản lượng khai
thác chủ yếu tập trung vào vụ cá. Năm 2011, nhờ thời tiết và ngư truờng thuận lợi, liên
tục xuất hiện các đàn cá nổi với trữ lượng lớn, tại ngư trường vùng khơi các nghề khai
thác như câu vàng, lưới kéo, lưới rê, chài chụp kết hợp ánh sáng khai thác các đối
tượng có giá trị kinh tế cao như cá song, cá dưa, cá hố, cá dưa và các loại mực; nhóm
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 9
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
loài cá nổi lớn và trung bình xuất hiện dày hơn mọi năm, nên sản lượng khai thác hải
sản tăng cao hơn năm 2010.
Tổng sản lượng khai thác thủy sản năm 2011 ước đạt 2.527 ngàn tấn, tăng 4,6%

phẩm thủy sản của Việt Nam xuất sang thị trường Nhật Bản bao gồm chủ yếu tôm và
các loại cá như cá tra, cá basa, cá hồi, cá đuối, cá bò, cá ghim, cá ngừ hun khói, mực,
bạch tuộc, ghẹ. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản trung bình hàng năm sang
Nhật Bản đạt bình quân 5,4% (2004-2009
Năm 2009, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Nhật Bản chiếm 17,8% tổng
giá trị kim ngạch xuất khẩu, đạt 757.92 triệu tấn. Năm 2010, Nhật Bản tiếp tục giữ vị
trí nhà nhập khẩu thủy sản lớn thứ hai của Việt Nam (sau EU) với kim ngạch xuất khẩu
đạt 549 triệu USD (tăng 18,9%) trong 8 tháng đầu năm 2010.
Nhiều người nói rằng sau thảm hoạ động đất sóng thần, việc xuất khẩu sang
Nhật sẽ gặp khó khăn. Tuy nhiên, chính thảm hoạ đó đã tạo thành một “cú hích” cho
nhu cầu nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài. Lâu nay, vùng tâm động đất sóng thần là
trung tâm cung ứng nông sản, thực phẩm cho nước Nhật, do vậy sau thảm hoạ chính
đây lại là điều kiện thuận cho các nước xuất khẩu.
Theo thống kê của Tổng cục Hải Quan, kim ngạch xuất khẩu thủy sản 15 ngày
đầu tháng 12 năm 2011 đạt 268,7 triệu USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ tháng trước,
nâng tổng kim ngạch từ 1/1 – 15/12/2011 đạt 5,8 tỷ USD. Với tốc độ xuất khẩu như
hiện nay, gần như chắc chắn xuất khẩu thủy sản cả năm sẽ đạt tới mốc 6 tỷ USD. Tổng
cục Thống kê ước tính xuât khẩu thủy sản tháng 12/2011 đạt 580 triệu USD, nâng tổng
kim ngạch cả năm 2011 đạt 6,107 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2011. Bộ
NNPTNT và Tổng cục Thủy sản cũng đều ước tính kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt
trên 6 tỷ USD.
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 11
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Năm 2012, Tổng cục Thủy sản đặt ra một số chỉ tiêu ngành thủy sản như: Diện
tích NTTS đạt 1.110 ha, bằng 101,5% so với ước thực hiện của năm 2011; sản lượng
thủy sản nuôi đạt 3.150 tấn, bằng 105% so với ước thực hiện của năm 2011; khai thác
thủy sản đạt 2.200 tấn và kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 6,3- 6,5 tỷ USD.
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Nhật Bản chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, song chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ giá trị nhập khẩu thủy
sản của Nhật Bản. So với tiềm năng sản xuất và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, tỷ

Nhật Bản đánh giá cao về chất lượng. Tuy nhiên cũng giống như mặt hàng mực, bạch
tuộc được đánh bắt tự nhiên nên khả năng tăng trưởng của sản phẩm cá ngừ cũng bị
hạn chế. Việt Nam đã chủ động tìm nguồn nguyên liệu cá hồi thay thế. Xuất khẩu cá
hồi sang Nhật Bản trong 6 tháng đầu năm 2010 đạt gần 60 triệu USD.
Tuy nhiên, càng thâm nhập sâu vào thị trường Nhật thì giới xuất khẩu thủy sản
Việt Nam càng gặp nhiều khó khăn hơn do các hàng rào phi thuế quan, đặc biệt là
hàng rào kĩ thuật. Vì vậy, cần tìm ra những biện pháp để Việt Nam vượt qua hàng rào
kĩ thuật của Nhật Bản đối với ngành thủy sản nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam sang thị trường Nhật và tăng uy tín của hàng thủy sản Việt Nam trên
trường thế giới.
Chương 3. Hàng rào kĩ thuật của Nhật Bản và tác động của nó tới việc xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam
1. Hàng rào kĩ thuật của Nhật Bản đối với mặt hàng thủy sản.
1.1.Những nhận định tổng quan về hàng rào kĩ thuật của Nhật Bản
Nhật Bản sử dụng hàng rào kỹ thuật như một biện pháp để đảm bảo đảm bảo
cho người tiêu dùng được sử dụng các thực phẩm an toàn và chất lượng cao, đảm bảo
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 13
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
tính bền vững của môi trường cũng như sự phát triển xã hội. Đồng thời qua đó, họ
muốn dựng lên một hàng rào bảo hộ vô hình đối với sản xuất trong nước.
Nhật Bản áp dụng Luật VSATTP; Luật Chống gây nhiễm và kiểm soát các loại
dịch bệnh; Luật Ngoại thương và Ngoại hối; Luật Thương mại… chỉ cho phép nhập
vào Nhật Bản những loại thực phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, không gây
hại cho sức khỏe của con người.
Những loại thực phẩm không được phép nhập vào Nhật Bản bao gồm: các loại
thực phẩm chứa các thành phần độc tố hoặc có hại, hoặc bị nghi vấn có chứa các thành
phần độc tố; các loại thực phẩm bị thối rữa hoặc bị hỏng; các loại thực phẩm không
đáp ứng được tiêu chuẩn và đặc điểm kỹ thuật trong quá trình chế biến, công thức chế
biến hoặc nguyên liệu chế biến; các loại thực phẩm sử dụng chất phụ gia quá mức cho
phép; các loại thực phẩm không kèm theo các chứng từ chứng minh.

phép sử dụng Enrofloxacin cho động vật thủy sinh và đã có mức MRL cụ thể, nếu Việt
Nam muốn Nhật Bản áp dụng mức MRL tương đương, phía Việt Nam cần gửi đăng ký
theo mẫu của MHLW Nhật Bản kèm theo dữ liệu về mức giới hạn yêu cầu.
b. Tiêu chuẩn Global Gap
GLOBAL GAP (Global Good Agricultural Practices) là tiêu chuẩn về thực
hành nông nghiệp tốt trong quá trình sản xuất, thu hoạch và xử lý sau thu hoạch. Đây
là tiêu chuẩn kiểm tra an toàn thực phẩm xuyên suốt từ A đến Z của dây chuyền sản
xuất, bắt đầu từ khâu chuẩn bị trang trại, ương nuôi đến khâu thu hoạch, chế biến, tồn
trữ; bao gồm những yếu tố liên quan đến sản xuất như môi trường, các loại thuốc, hóa
chất sử dụng, bao bì và ngay cả điều kiện làm việc và phúc lợi của người làm việc
trong nông trại.
Về lĩnh vực thủy sản, tôm sú và cá tra là 2 mặt hang đầu tiên của
Việt Nam được cấp chứng nhận Global GAP.Tiêu chuẩn Global GAP có thể coi như
một giấy thông hành cho hàng thủy sản Việt Nam thâm nhập thị trường các nước phát
triển như Nhật Bản.
1.2.2. Quy định về nhãn mác hàng hóa
a. Tiêu chuẩn JAS
− Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản ban hành Tiêu chuẩn ghi nhãn
chất lượng theo Luật Tiêu chuẩn hóa liên quan và ghi nhãn phù hợp cho các sản phẩm
nông nghiệp và Lâm nghiệp (gọi tắt là Luật JAS) cho thực phẩm tươi sống và thực
phẩm chế biến lưu thông trên thị trường nội địa. Hệ thống tiêu chuẩn bao gồm hai loại:
• Hệ thống tiêu chuẩn ghi nhãn chất lượng (bắt buộc)
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 15
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Hệ thống tiêu chuẩn ghi nhãn chất lượng yêu cầu tất cả các nhà sản xuất, phân
phối và các bên liên quan khác phải ghi nhãn phù hợp với các tiêu chuẩn ghi nhãn chất
lượng do Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản ban hành. Tất cả các thực phẩm
trước khi bán cho người tiêu dùng phải được ghi nhãn theo tiêu chuẩn quy định.
• Hệ thống tiêu chuẩn JAS (tự nguyện)
Hệ thống tiêu chuẩn JAS đề cập đến hệ thống chứng nhận để gắn dấu JAS vào

• Luật khuyến khích sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên
• Luật chống lại việc đánh giá cao sai sự thật và mô tả gây hiểu lầm
• Luật bảo vệ sở hữu trí tuệ (ví dụ Luật tránh cạnh tranh không lành mạnh, Luật về bằng
sáng chế).
− Một số thông tin chi tiết cần cung cấp trên nhãn xuất xứ:
• Tên sản phẩm
• Thành phần thực phẩm
• Phụ gia thực phẩm
• Ngộ độc thực phẩm
• Trọng lượng thành phần thực phẩm
• Hạn sử dụng
• Cách thức bảo quản sản phẩm
• Nước xuất xứ
• Chất lượng
• Nhà nhập khẩu
• Thông tin dinh dưỡng (Hàm lượng calo, Protein, Chất béo, Hy-đrát các-bon, Natri, …)
• Bao bì và đóng gói
• Mô tả sản phẩm
1.2.3. Quy định về kiểm định động thực vật
Quy định về kiểm dịch động thực vật Nhật Bản quy định tất cả thực phẩm phải
trải qua trạm kiểm dịch vệ sinh thực phẩm là nơi xác nhận an toàn thực phẩm đối với
sức khoẻ con người, cũng như phải qua trạm kiểm tra hải quan. Ngoài ra, thực vật để
xác nhận độ an toàn đối với sản phẩm động, thực vật. Do vậy, những sản phẩm này
phải trải qua 3 trạm kiểm tra.
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 17
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Sơ đồ 1. Sơ đồ thủ tục nhập khẩu thực phẩm
Ghi chú:
Theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, kiểm tra vệ sinh thực phẩm và kiểm dịch
động, thực vật có thể tiến hành đồng thời. Nhà nhập khẩu nào muốn thực hiện như vậy

GAP, giá trị thương hiệu cũng như niềm tin của khách hàng vào sản phẩm gia tăng lên
rất nhiều.
Bên cạnh đó, ngày 16/01/2012, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
(NN&PTNT) đã ban hành Thông tư số 03/2012/TT-BNNPTNT. Thông tư này sửa đổi,
bổ sung Thông tư số 15/2009/TT-BNN của Bộ NNPTNT v/v ban hành Danh mục
thuốc, hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng đã ban hành ngày
17/03/2009. Cụ thể như sau:
- Đưa các chất Cypermethrim, Deltamethrin và Enrofloxacin ra khỏi Danh mục
hoá chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản tại Phụ lục 3
ban hành kèm theo Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17/3/2009 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Bổ sung các chất Cypermethrin, Deltamethrin và Enrofloxacin vào Danh mục
hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản tại Phụ lục 1
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 19
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
ban hành kèm theo Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17/3/2009 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn.
Ngay sau khi Bộ NN&PTNT cấm sử dụng Enrofloxacin trong sản xuất, kinh
doanh thủy sản, tình trạng sử dụng hóa chất này trong nuôi tôm đã được cải thiện đáng
kể.
Theo thông tin cảnh báo mới đây nhất của Nhật Bản, trong tháng 3 chỉ duy nhất
có 1 lô tôm của Việt Nam bị phát hiện nhiễm Enrofloxacin. Kết quả này đã phản ánh
những nỗ lực của cả doanh nghiệp, người nuôi tôm và các cơ quan quản lý thời gian
qua trong việc đẩy mạnh công tác kiểm soát dư lượng Enrofloxacin ở tôm nguyên liệu
cũng như sản phẩm XK.
Như vậy, sau một thời gian dài, những cố gắng của doanh nghiệp, người nuôi
tôm và cơ quan quản lý nhà nước nhằm kiểm soát chất Enrofloxacin trong sản xuất,
kinh doanh thủy sản đã bước đầu có kết quả, hình ảnh một sản phẩm tôm Việt Nam
trên thị trường Nhật Bản đạt chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm đã được khôi phục.
2.2.Tác động tiêu cực

nữa, doanh nghiệp xuất khẩu tôm sẽ bị mất uy tín khi bị nêu tên trong hệ thống cảnh báo
của Nhật Bản. Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải hết sức thận trọng khi xuất hàng
sang Nhật Bản và chỉ khi nào doanh nghiệp đảm bảo 100% lô hàng tôm không bị nhiễm
Enrofloxacin mới dám xuất khẩu sang thị trường này.
Các doanh nghiệp xuất khẩu còn hạn chế thông tin về tiêu chuẩn, chất lượng sản
phẩm, đối thủ cạnh tranh hàng hóa cùng loại nên khó có những bước đi thích hợp để tạo
ra lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa của mình, đặc biệt là chất lượng. Các doanh nghiệp đó
đang gặp rất nhiều khó khăn từ vốn, nguyên liệu sản xuất, nhân công, phí vận chuyển
cho đến thị trường xuất khẩu. Hiện nay, việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng, các vấn
đề về an toàn kỹ thuật (hoặc vệ sinh thực phẩm), bảo vệ môi trường… từ các nước tiên
tiến như Nhật Bản không hẳn quá khó do các nước đó đã có sẵn các bộ tiêu chuẩn.
Nhưng vấn đề mới đặt ra là chúng ta cần đầu tư thiết bị, học hỏi và sản xuất theo công
nghệ của họ. Việc phân tích các hàng rào kỹ thuật và tác động tích cực cũng như tiêu cực
của chúng là cơ sở để các doanh nghiệp và nhà nước ta đưa ra biện pháp hiệu quả nhất
để nâng cao sản lượng xuất khẩu thủy sản sang một thị trường ngày càng khó tình như
Nhật Bản.
Chương 4. Một số giải pháp khắc phục hạn chế mà Hàng rào kĩ thuật của Nhật
Bản gây ra cho thủy sản Việt Nam
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 21
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
1. Một số giải pháp giúp tăng chất lượng thủy sản Việt Nam
1.1.Đối với người nuôi trồng, khai thác
1.1.1. Giải pháp cho nuôi trồng
Nhìn chung chất lượng thủy sản Việt nam còn chưa đảm bảo từ khâu sản xuất,
nuôi trồng tới chế biến xuất khẩu. Muốn nâng cao chất lượng thủy sản trước hết cần
thực hiện đồng bộ những giải pháp cải thiện giống,thức ăn, trình độ của người dân.
a. Giống thủy sản
Bộ NN&PTNT cần đưa ra các giải pháp cơ bản để đảm bảo sản xuất đủ giống
đạt tiêu chuẩn chất lượng các giống thủy sản phục vụ xuất khẩu. Xây dựng tiêu
chuẩn quốc gia về giống thủy sản; ban hành quy chế quản lý, giám sát giống thủy sản

c. Trình độ của người dân
Trước những diễn biến ngày càng phức tạp của môi trường, thời tiết, khí hậu,
yêu cầu người nuôi tôm cần có đủ kiến thức để thường xuyên đối mặt và phải ứng phó
kịp thời, phù hợp với tình hình dịch bệnh tôm, thì phương thức chuyển giao kỹ thuật
như cách làm cũ là chưa đạt.
Hiện nay, trước yêu cầu nâng cao kiến thức cho nông dân về nghề nuôi trồng
thủy sản theo hướng đa canh bền vững, về đời sống con tôm, để nâng cao trình độ kỹ
thuật cho bà con, thì việc tập huấn kỹ thuật, đào tạo chuyên môn cho nông dân càng
trở nên bức xúc và đòi hỏi phải được đổi mới để nâng cao chất lượng.
Để làm được điều đó, thời gian tới đối với việc tập huấn kỹ thuật cho các mô
hình nuôi tiên tiến, người học cần phải được chọn lựa, sàng lọc về mặt trình độ kiến
thức và phải là người sẽ trực tiếp nuôi tôm, cũng chính là người phải theo xuyên suốt
bài học, phải có lòng nhiệt tình ham muốn hiểu biết và chịu khó theo dõi thực hành các
công đoạn nuôi để tiếp thu kiến thức được truyền đạt một cách tốt nhất. Và phải có
điều kiện thực hành vận dụng, đồng thời cũng phải chịu khó thường xuyên cập nhật
kiến thức thông qua tài liệu, sách báo. Có điều kiện thì nên tham dự các cuộc hội thảo
có liên quan…
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 23
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Ngoài nội dung chung cần chuyển tải đến học viên, cần đi sâu và nhấn mạnh
nguyên nhân, nguồn phát sinh dịch bệnh, đồng thời chuyển giao các kỹ năng nhận biết,
chẩn đoán và cách phòng chống có hiệu quả các loại dịch bệnh phổ biến trên tôm nuôi
hiện nay.
1.1.2. Giải pháp cho khai thác
Để đảm bảo chất lượng thủy hải sản xuất khẩu không chỉ đòi hỏi nâng cao chất
lượng trong nuôi trồng mà còn đòi hỏi cải thiện trong khâu khai thác. Cần thiết phải
đổi mới phương thức khai thác, phương tiện khai thác,phương thức bảo quản, hoàn
thiện hệ thống bến cảng
Tuy nhiên cần nhận thức rõ rằng cần có sự chung tay giữa nhà nước, doanh
nghiệp và người dân trong cả khai thác, nuôi trồng, mở rộng ngư trường, thu mua sản

2.1.Đối với nhà nước
Chính phủ có thể tăng cường đầu tư khuyến khích nuôi trồng thủy sản. Cấp vốn
tài trợ hoạt động nuôi trồng thủy sản sạch.
Chính phủ tham gia kí kết đàm phán với các nước nhập khẩu, công nhận lẫn
nhau kết quả kiểm nghiệm của cơ quan có thẩm quyền với mặt hàng thủy sản. Phổ
biến tiêu chuẩn kĩ thuật của Nhật Bản với doanh nghiệp Việt Nam.
Bộ NN&PTNT chỉ đạo các địa phương cần rà soát, quy hoạch lại diện tích nuôi
trồng thủy sản, đảm bảo các điều kiện nuôi thâm canh, an toàn dịch bệnh, thực hiện
việc đánh số cơ sở, vùng nuôi đối với một số đối tượng nuôi chủ lực như: tôm sú, cá
tra, tôm thẻ chân trắng Đặc biệt tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất nuôi tôm, cá tra
có hiệu quả.
Bộ NN&PTNT tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của thủy sản
xuất khẩu, trong đó trọng tâm là thực hiện chương trình ATVSTP phục vụ tiêu dùng
và xuất khẩu. Giải pháp mà bộ đưa ra là: tập trung rà soát lại danh mục các loại hóa
Nhóm 18- Lớp TMA301.1_LT Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status