PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN VIMECO
I. Khái quát chung về Công ty :
Công ty Cổ phần Vimeco tên giao dịch là Vimeco Joint Stock
Company, tiền thân là Công ty Cơ giới và Lắp máy được thành lập theo quyết
định số179/BXD-TCLĐ ngày 24/03/1997 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Từ
ngày 06/12/2002 Công ty Cơ giới và Lắp máy được chuyển thành Công ty Cổ
phần Cơ giới lắp máy và Xây dựng theo quyết định số 1485/QĐ-BXD ngày
07/11/2002 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh công ty cổ phần số 0103001651 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố
Hà Nội cấp. Công ty có 8 lần thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Vimeco là Doanh nghiệp Hạng I, thành viên thuộc Tổng Công ty cổ
phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam – Vinaconex. Công ty chuyển
sang hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần từ ngày 01/01/2003 . Việc sớm
chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần đã mang đến cho
Vimeco nguồn động lực để phát triển mạnh mẽ. Từ chỗ chỉ có 10 tỷ vốn điều
lệ hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thi công cơ giới và cung cấp bê tông
thương phẩm, đến năm 2006, Vimeco đã điều chỉnh tăng vốn lên thành 35 tỷ
đồng, năm 2007 và 2008 là 65 tỷ đồng với nhiều ngành nghề kinh doanh phù
hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường. Vimeco đã và đang có
mặt tại nhiều công trình lớn trên cả nước như: Nhà máy xi măng Nghi Sơn,
Nhà máy xi măng Cẩm Phả - Quảng Ninh, Nhà máy nhiệt điện Phả Lại, Trung
tâm hội nghị Quốc Gia, Thủy điện Buôn Kuôp, Thủy điện Buôn Tua Srah,
Thủy điện Cửa Đạt, Khu đô thị Trung Hòa- Nhân Chính, Nhà máy xi măng
Bỉm Sơn, Cầu vượt Láng - Hoà Lạc…
Ngày 11/12/2006, Cổ phiếu của Công ty chính thức được niêm yết tại
Trung tâm chứng khoán Hà nội, với mã chứng khoán là VMC, đánh dấu một
bước tiến mới trong quá trình hội nhập vào thị trường tài chính trong nước
cũng như quốc tế.
1
Ngày 29 tháng 5 năm 2008 Công ty đổi tên thành Công ty Cổ phần
Vimeco .
sát xây dựng; giám sát thi công xây lắp, kiểm định chất lượng công trình; thí
nghiệm. Tư vấn đấu thầu; tư vấn chuyển giao thiết bị công nghệ mới; thiết bị
tự động hóa.
Chiến lược kinh doanh của Vimeco là: kinh doanh xây lắp vẫn là
nhiệm vụ trọng tâm; duy trì và mở rộng thị trường cung cấp vật liệu xây dựng
và tiếp tục khẳng định trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản.
3
II.Phân tích cơ cấu :
1. Cơ cấu bảng cân đối kế toán :
Đơn vị tính : %
2008 2007 2006 2005 2004
TÀI SẢN 100 100 100 100 100
A Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn 82.77 77.89 71.04 61.45 58.43
I Tiền và các khoản tương đương tiền 7.20 4.41 3.87 7.18 7.84
1 Tiền 7.20 4.41 3.87 7.18 7.84
II Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00
III Các khoản phải thu ngắn hạn 21.87 16.67 15.70 10.67 16.04
1 Phải thu của khách hàng 17.75 13.54 13.45 - -
2 Trả trước cho người bán 3.64 3.08 1.65 - -
3 Các khoản phải thu khác 0.55 0.05 0.60 - -
4 Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi -0.06 0.00 0.00 - -
IV Hàng tồn kho 52.20 53.20 47.93 40.38 32.32
V Tài sản ngắn hạn khác 1.50 3.61 3.54 3.22 2.24
1 Thuế GTGT được khấu trừ 1.01 2.77 2.88 - -
2 Tài sản ngắn hạn khác 0.49 0.84 0.66 - -
B Tài sản cố định và đầu tư dài hạn 17.23 22.11 28.96 38.55 41.57
I Tài sản cố định 14.69 20.56 27.34 34.22 40.20
1 Tài sản cố định hữu hình 12.28 18.97 26.32 33.58 -
2 Tài sản cố định vô hình 0.37 0.51 0.46 0.64 -
lớn trong cơ cấu tài sản ngắn hạn của Vimeco, tỷ trọng này cũng tăng lên qua
các năm, trong đó chủ yếu là sự gia tăng của hàng tồn kho và khoản phải thu,
tiền và các khoản tương đương tiền có xu hướng giảm. Tỷ trọng hàng tồn kho
tăng là do thời gian qua, khối lượng các công trình mà Vimeco đảm nhận
ngày càng tăng lên ở tất cả các lĩnh vực: từ thi công gia cố nền móng, xây
dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng và khu công nghiệp, xây dựng các công
trình công nghiệp, dân dụng, giao thông, thủy lợi, thủy điện đến sản xuất, chế
biến và kinh doanh vật liệu xây dựng. Do đó công ty cấn một lượng hàng tồn
kho lớn để có thể đảm bảo yêu cầu kinh doanh.
Tỷ trọng các khoản phải thu khá lớn chứng tỏ công ty đang bị chiếm
dụng vốn . Công ty cần phải có những biện pháp thu nợ hợp lý. Mặt khác tiền
và các khoản tương đương tiền chiếm tỷ trọng thấp và có xu hướng giảm,
trong khi các khoản nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu. Điều này sẽ
làm giảm khả năng thanh toán của công ty.
Tỷ trọng tài sản cố định giảm mạnh qua các năm, nguyên nhân chủ yếu
là do thời gian đầu sau khi cổ phần hóa, Vimeco phải đầu tư một lượng máy
móc, thiết bị mới để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong
lĩnh vực thi công thủy điện, là lĩnh vực thi công mới của công ty nhưng đã thu
được những kết quả đáng khích lệ.
Giá tri đầu tư dài hạn của Vimeco ngày càng tăng. Điều này hợp với xu
hướng chung của các công ty hiện nay là đa dạng hóa vào những lĩnh vực,
ngành nghề khác. Tỷ trọng đầu tư dài hạn của công ty năm 2008 tăng lên vượt
bậc so với những năm trước, do công ty đã mở rộng liên kết, liên doanh với
các công ty khác. Điển hình là việc kết hợp với công ty Hanel xây dựng tòa
nhà Vimeco – Hanel với tổng mức đầu tư khoảng 700 tỷ đồng…
Trong cơ cấu nợ, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều so với nợ
dài hạn. Như thế, sự đảm bảo tài trợ của tài sản bằng nợ dài hạn là không cao.
Tỷ trọng nợ ngắn hạn của công ty là khá cao so với nợ dài hạn. Như thế, có
6
thể công ty sẽ tiết kiệm được chi phí vốn vì chi phí huy động nợ ngắn hạn
Trong đó: Chi phí lãi vay
2.07 4.29 4.88 6.80 3.91
Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính
-1.54 -3.90 -4.46 -4.27 -0.05
Chi phí bán hàng
0.00 0.00 0.00 0.00 0.00
Chi phí quản lý doanh nghiệp
1.35 1.98 1.84 3.09 2.23
LN/(lỗ) thuần từ hoạt động kinh doanh
3.92 4.11 2.42 3.15 3.85
Thu nhập khác
0.50 0.35 0.17 0.00 0.03
7
Chi phí khác
0.26 0.07 0.03 0.00 0.48
Lợi nhuận khác
0.23 0.28 0.14 0.00 -0.45
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
4.15 4.39 2.56 3.15 3.40
Chi phí thuế TNDN hiện hành
0.72 1.01 0.36 0.44 0.00
LN sau thuế thu nhập doanh nghiệp
3.43 3.39 2.20 2.71 3.4
Lợi nhuận sau thuế của Vimeco có xu hướng tăng lên, thấp nhất là năm
2006, do giá vốn hàng bán và chi phí tài chính của công ty đều ở mức cao. Từ
bảng cân đối kế toán ta có thể thấy năm 2006 là năm mà tỷ trọng nợ vay của
doanh nghiệp ở mức cao nhất, chiếm 92.89% tổng nguồn vốn, làm tăng lãi
vay phải trả, tăng chi phí tài chính của công ty.
Lợi nhuận sau thuế của công ty cao nhất là vào năm 2008. Năm 2008 là
một năm đầy khó khăn cho toàn nền kinh tế nói chung và ngành xây dựng nói
cao chưa hẳn là tốt. Nhìn chung công ty đáp ứng khả năng thanh toán hiện
hành nhưng chưa thật sự tốt
Khả năng thanh toán nhanh đạt trung bình 0.3 lần, cho thấy tài sản lưu
động có tính thanh khoản nhanh của công ty nhỏ hơn nhiều so với giá trị nợ
ngắn hạn. Hay nói cách khác là tài sản lưu động có thể sử dụng ngay của công
ty không đủ đảm bảo cho việc thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn, nếu
các chủ nợ đòi tiền cùng một lúc. Như vậy, nói chung tình hình thanh toán
nhanh của công ty không tốt lắm.
Một vấn đề đáng quan tâm đó là hệ số thanh toán nhanh của công ty
quá thấp so với hệ số thanh toán ngắn hạn. Nguyên nhân là do hàng tồn kho
của công ty chiếm tỷ trọng khá cao trong giá trị tài sản lưu động. Điều này
cũng do đặc điểm của các công ty xây dựng, tuy nhiên công ty cũng cần phải
có những biện pháp để cắt giảm lượng hàng tồn kho, như việc thu mua và sử
dụng hợp lý nguồn nguyên vật liệu, công cụ xây dựng…
Khả năng thanh toán tức thời của công ty rất thấp, thể hiện Tiền và các
khoản tương đương tiền của công ty là rất nhỏ so với Nợ ngắn hạn, công ty
thiếu vốn bằng tiền để thanh toán nợ tức thời. Như thế khả năng thanh toán
ngay các khoản nợ của công ty là rất kém.
9
Cũng cần chú ý rằng, các con số này đều có xu hướng tăng lên. Đây là
một dấu hiệu tốt chứng tỏ khả năng thanh khoản của công ty ngày càng tăng
lên, song cũng có thể phản ánh rằng việc sử dụng tài sản lưu động cũng như
các tài sản có tính thanh khoản cao nhưng suất sinh lợi thấp không hiệu quả.
Khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ đảm bảo thanh toán lãi
vay bằng Lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Hệ số này của công ty đều lớn hơn
1 chứng tỏ công ty có khả năng sử dụng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh
doanh để trang trải lãi vay. Khả năng thanh toán lãi vay năm 2008 tăng 3 lần
so với năm 2005. Năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới khiến cho lãi vay tăng cao, trên 20%. Tuy nhiên khả năng thanh toán lãi
vay của công ty vẫn tăng lên, một lần nữa chứng tỏ công ty công ty thể điều
bình quân hàng tồn kho của công ty quay được 1.52 vòng một năm để tạo ra
doanh thu, bình quân hàng tồn kho là 235 ngày. Vòng quay hàng tồn kho có
xu hướng tăng lên, số ngày tồn kho có xu hướng giảm xuồng, thể hiện công ty
đã sử dụng ngày càng hiệu quả lượng hàng tồn kho để tạo ra doanh thu. Tuy
nhiên ta thấy năm 2007, vòng quay tài sản ngắn hạn, vòng quay hàng tồn kho
của công ty giảm so với các năm còn lại. Nguyên nhân là do năm 2007,
Vimeco đã thực hiện thi công rất nhiều công trình có giá trị lớn như: công
trình thủy điện Srepok, trụ sở Bộ Công an, cầu vượt Lê Thanh Nghị, đường
cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, nhà máy bao bì Vinaconex…khiến cho giá trị
nguyên vật liệu, giá trị xây dựng cơ bản dở dang tăng lên, làm tăng giá trị
hàng tồn kho.Và việc công ty giữ lượng hàng tồn kho lớn đã làm số ngày tồn
kho năm 2007 tăng mạnh.
Bình quân công ty mất 74 ngày để có thể thu hồi được khoản phải thu,
tức thời gian bình quân từ lúc công ty bán hàng hàng hay hoàn thành bàn giao
công trình cho đến khi thu được tiền là 74 ngày. Số ngày nợ bình quân của
công ty là 71 ngày, tức thời gian bình quân từ lúc công ty mua hàng cho đến
khi phải thanh toán tiền hàng là 71 ngày. Con số này không chênh lệch so với
số ngày thu tiền bình quân là mấy, chứng tỏ công ty không đi chiếm dụng vốn
và cũng không để tình trạng công ty bị chiếm dụng vôn.
3.Phân tích khả năng sinh lời :
11
Các chỉ tiêu 2008 2007 2006 2005
Thu nhập trên tổng tài sản (ROA) 3.54% 2.25% 1.61% 1.74%
Thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) 26.73% 21.03% 21.93% 20.51%
Thu nhập trên một cổ phiếu EPS(đ/cp) 5712 2935 3054 2342
Giá trên thu nhập của CP thường (P/E) 4.5 17.8 45.5
Cổ tức trên một cổ phiếu DPS (đ/cp) 1500 1500 1500 1500
Thu nhập trên tổng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để
đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư. Chỉ tiêu thu nhập trên
vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu. Đứng trên
tế nói chung và đối với ngành xây dựng nói riêng. Đây là một năm mà hoạt
động kinh doanh của ngành xây dựng liên tục phải đối diện với nhiều trở ngại.
Có thể nói chưa bao giờ trong suốt những năm đổi mới, doanh nghiệp ngành
xây dựng lại phải trải qua những thử thách ở cường độ cao và trên diện rộng
như năm 2008.
Những khó khăn do lạm phát và khủng hoảng kinh tế tác động mạnh
lên cả ba lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng là xây lắp, vật
liệu xây dựng (VLXD) và địa ốc. Khiến các doanh nghiệp cảm thấy chới với
trước một thực tế biến đổi khôn lường khi mà năm trước đó (năm 2007) các
doanh nghiệp xây dựng làm không hết việc và luôn đạt tốc độ tăng trưởng
bình quân hơn 30%/năm .
Một trong những khó khăn lớn nhất của năm 2008 là giá cả trên thị
trường VLXD tăng cao trong sáu tháng đầu năm: sắt thép tăng 90%, gạch
tăng 300% khiến chi phí VLXD chiếm đến 60-70% giá thành xây lắp. Song
song đó, chi phí nhân công cũng tăng 30-55% và đặc biệt là lãi suất cho vay
tăng mạnh (cao nhất là 21%/năm) càng khiến cho chi phí đầu vào vượt quá
sức chịu đựng của phần lớn doanh nghiệp. Các chủ công trình buộc phải trì
hoãn tiến độ dự án để tránh bị lỗ. Mới bước vào đầu quí 2, tình hình thi công
dự án đã rơi vào đình trệ, cộng đồng doanh nghiệp xây dựng teo tóp lại. Phần
lớn những doanh nghiệp nhỏ yếu vốn, yếu công nghệ hầu như không có doanh
thu, phải quay trở lại hình thức các đội nhóm nhận thầu khoán một số phần
việc ở các công trình nhà tư nhân hoặc nghỉ việc. Số doanh nghiệp loại này
13
ước tính chiếm đến 40% trong tổng số hơn 2.000 doanh nghiệp tại TPHCM
(số thực sự có làm nghề thi công tại TPHCM). Bên cạnh đó, đến cuối quí 1,
giá nhà đất bắt đầu giảm từ 20% đến 60-70% khiến những nhà thầu có tên
tuổi cũng phải lao đao bởi các chủ dự án mất thị trường.
Bên cạnh đó khả năng đàm phán lại với chủ đầu tư ở những dự án vốn
tư nhân và vốn nước ngoài để điều chỉnh mức trượt giá là không nhiều, nhiều
nhà thầu cầm chắc chữ “lỗ”, nhiều trường hợp chấp nhận phạt hoặc mất khoản
đến năm 2008, tỷ lệ tăng trưởng của ngành này chỉ còn 0,2%/năm, thấp nhất
trong lịch sử hơn 20 năm tiến hành đổi mới.
Các chuyên gia cho rằng, dù chưa biết thời gian nào mới chấm dứt suy
giảm kinh tế nhưng khả năng nền kinh tế Việt Nam phục hồi vào cuối năm
2009 hoặc đầu năm 2010 là rất lớn và do ngành xây dựng thường đi trước một
bước nên thị trường cũng hồi phục trước. Có thể thấy thị trường xây dựng
đang có bước chuyển mình trong nửa cuối quý 1-2009 nhờ sức tiêu thụ vật
liệu xây dựng tăng đáng kể so với những tháng trước đó. Khủng hoảng đã
giúp sắp xếp lại “bản đồ” doanh nghiệp xây dựng và “chính trong những hoàn
cảnh khó khăn nhất, năng lực và tư cách của mỗi nhà thầu được bộc lộ rõ”.
Do vậy, lợi thế hiện đang có phần nghiêng về những nhà thầu đã thể hiện
được tính thích ứng cao trong năm 2008 đầy khó khăn. Ngoài ra, nhu cầu xây
dựng, sửa chữa nhà tư nhân cũng sôi động trở lại.
Một nguyên nhân cộng hưởng hết sức quan trọng khác là do giá các
mặt hàng vật liệu xây dựng cơ bản giảm mạnh, nhiều chủ đầu tư có điều kiện
trả được phần lớn nợ vay nên đã mạnh dạn vay tiếp với lãi suất thấp để thúc
đẩy dự án. Phân khúc nhà tư nhân cũng tranh thủ lợi thế này mà trở nên sôi
động hơn
Một tín hiệu đáng mừng nữa là hôm 5/5 vừa đây Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đã
đưa ra nhận định : “Ngành xây dựng dẫn đầu trong tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam” . Theo IMF, ngành xây dựng ở Việt Nam đã tăng 6,9% trong quý
I/2009 và các số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy tổng mức bán lẻ hàng
15
hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 4 tháng đầu năm 2009 đã tăng
21,5% so với cùng kỳ
Theo các chuyên gia của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhận định kinh tế
Việt Nam đang thể hiện sức mạnh trong các lĩnh vực như xây dựng và tiêu thụ
nội địa và dự kiến sẽ là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao
nhất châu Á trong năm nay.
Vậy với góc nhìn lạc quan, chúng ta có thể tin tưởng bức tranh ngành
- Tổng hợp tất cả các yếu tố trên sẽ cho ta kết quả của hệ số ROE có xu
hướng tăng cao hơn trong những năm trở lại đây. Phân tích nhân tố cho thấy
nhìn chung hiệu quả kinh doanh của Vimeco là tốt.
III. Kết luận và khuyến nghị :
Kết quả phân tích tài chính của Vimeco cho thấy:
- Nhìn chung việc quản lí thanh khoản, quản lí tài sản của Vimeco
tương đối tốt. Các tài sản cũng như các nguồn thu nhập đảm bảo cho các
khoản nợ đến hạn là khá tốt,tuy nhiên việc dữ trữ quá nhiều tài sản ngắn hạn
sẽ làm giảm suất sinh lời của chúng. Đồng thời với tỷ trọng nợ vay quá cao so
với nguồn vốn chủ sở hữu sẽ tạo nguy cơ rủi ro cao cho công ty. Do đó
Vimeco cần phải điều chỉnh lại cơ cấu nợ và vốn hợp lý hơn.
- Các tỷ số sinh lời của công ty khá ổn định và có mức tăng trưởng tốt.
Song các con số này còn thấp so với các công ty khác trong ngành. Điều đó
đặt ra yêu cầu công ty cần tăng cường hiệu quả sử dụng các yếu tố trong hoạt
động để giảm chi phí và nâng cao lợi nhuận cho công ty.
- Vimeco cần có biện pháp thu mua và sử dụng hợp lý lượng hàng tồn
kho, tránh tình trạng vốn bi ứ đọng dưới hình thức hàng tồn kho, gây giảm
khả năng thanh khoản cũng như gia tăng chi phí của công ty.
- Vimeco tiến hành đầu tư và tham gia vào nhiều dự án và lĩnh vực hoạt
động khác. Tuy vậy cần phải xem xét kĩ lĩnh vực nào công ty có thể thu được
lợi nhuận, tránh đầu tư tràn lan, không hiệu quả, gây lãng phí. Đặc biệt trong
điều kiện nền kinh tế còn chưa thật sự thoát khỏi khủng hoảng như hiện nay.
17
18
Các chỉ tiêu 2008 2007 2006 2005
I.PHÂN TÍCH CÁC TỶ SỐ CHUNG
1. Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Hệ số thạnh toán hiện hành (lần) 1.07 1.08 1.00 0.79
Tài sản lưu động 966,519 725,150 542,749 343,716
Nợ ngắn hạn 907,123 668,809 540,133 435,271
Các khoản phải thu bình quân 205,292 137,572 89,805 60,379
Kỳ thu tiền bình quân (ngày) 68 88 67 72
Số ngày trong năm 360 360 360 360
Vòng quay các khoản phải thu 5.27 4.09 5.4 5.02
Vòng quay các khoản phải trả 5.92 4.50
Giá vốn hàng bán 1,008,764 507,035 442,926 271,108
Các khoản phải trả bình quân 170,484 112,702
Số ngày nợ bình quân (ngày) 61 80
19
Số ngày trong năm 360 360 360 360
Vòng quay các khoản phải trả 5.92 4.50
3.Chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Tỷ số thu nhập trên tổng tài sản ROA (%) 3.54% 2.25% 1.61% 1.74%
Lợi nhuận sau thuế 37,127 19,076 10,683 8,197
Tổng tài sản bình quân 1,049,324 847,500 661,673 470,104
Tỷ số thu nhập trên vốn chủ sỡ hữu ROE (%) 26.73% 21.03% 21.92% 20.51%
Lợi nhuận sau thuế 37,127 19,076 10,683 8,197
Vốn chủ sỡ hữu bình quân 138,908 90,709 48,745 39,969
Thu nhập trên 1 cổ phiếu EPS (đ/cổ phiếu) 5,712 2,935 3,052 2,342
Lợi nhuận ròng 37,127 19,076 10,683 8,197
Số cổ phiếu thường bình quân lưu hành 6,500,000 6,500,000 3,500,000 3,500,000
Tỷ số P/E (lần) 4.5 17.8 45.5
Cổ tức trên 1 cổ phiếu (DPS) 1,500 1,500 1,500 1,500
II.Phân tích nhân tố ( DU POINT)
ROE(%) 26.73% 21.03% 21.92% 20.51%
Gánh nặng thuế= LNR/LN trước thuế 0.83 0.77 0.86 0.86
Gánh năng lãi vay=LN trước thuế/EBIT 0.76 0.55 0.37 0.42
Tỷ suất lợi nhuận biên = EBIT/doanh thu 0.05 0.08 0.07 0.07
Vòng quay tổng tài sản=Doanh thu/TS bìnhquân 1.03 0.66 0.73 0.64
Hệ số nợ=Tài sản/Vốn chủ sỡ hữu 7.75 7.33 14 11