A- ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước , nền văn hoá Việt Nam đã hình
thành và phát triển . Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ , kiên cường ,
nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn
vản sắc của dân tộc , chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc
Việt Nam .
Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng
đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước . Nhờ
nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ , dân tộc ta vẫn
giữ vững và phát huy bản sắc của mình , chẳng những không bị đồng hoá , mà còn
quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc , lấy sức ta mà giải phóng cho
ta .
Phát huy truyền thống văn hoá dân tộc , dưới sự lãnh đạo của Đảng , là nhân
lên sức mạnh của nhân dân ta để vượt qua khó khăn , thử thách , xây dựng và phát
triển kinh tế - xã hội , giữ vững quốc phòng , an ninh , mở rộng quan hệ đối ngoại ,
tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta đI vào thế kỷ XXI .
Công cuộc đổi mới toàn diện , đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước , xây dựng chủ nghĩa xã hội , thực hiện thắng lợi mục tiêu “ dân giàu , nước
mạnh , xã hội công bằng văn minh” , đòi hỏi chúng ta phảI xây dựng và phát triển
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc , xây dựng nền tảng tinh
thần của dân tộc ta , coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội .
Đảng và Nhà nước ta đang tiến tới xây dựng một nền kinh tế mở ,hội nhập
với Thế giới . Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại biến chuyển nhanh
chóng , đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá , sự hội nhập khu vực và thế giới với
một tốc độ rất nhanh , từ đó nảy sinh nhu cầu mở rộng giao lưu giữa các nền văn
Trang 1Trang 1
hoá . Trong khi chú trọng giữ gìn , phát huy các truyền thống văn hoá tinh thần tốt
đẹp của dân tộc , văn hóa Việt Nam cần từng bước mở rộng giao lưu quốc tế , tiếp
thụ những tinh hoa văn hoá thế giới và thời đại . Nền văn của chúng ta sẽ đa dạng
hơn , phong phú hơn , tiên tiến hơn nhờ hấp thụ được những yếu tố lành mạnh của
văn hoá các nước khác chi phối , không còn bản sắc riêng của mình .
Với những lý do trên , chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của việc giữ gìn và
phát huy bản sắc dân tộc . Cũng vì thế mà việc nghiên cứu đề tài “Bản sắc dân tộc
trong nền kinh tế mở” là điều tất yếu và cần thiết trong giai đoạn hiện nay .
B / GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .
CHƯƠNG I. QUAN NIỆM VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC TRONG
THỜI KỲ NỀN KINH TẾ MỞ .
I. BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC LÀ GÌ ?
1 . Khái niệm :
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững , những tinh hoa của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng năm đấu tranh dựng
nước và giữ nước . Đó là lòng yêu nước nồng nàn , ý chí tự cường dân tộc , tinh
thần đoàn kết cá nhân - gia đình -làng xã - Tổ quốc ; lòng nhân ái , khoan dung ,
trọng nghĩa tình, đạo lý , đức tính cần cù , sáng tạo trong lao động ; sự tinh tế trong
ứng xử , tính giản dị trong lối sống ... Bản sắc văn hoá dân tộc còn đậm đà trong các
hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo .
2 . Vị trí của bản sắc văn hóa dân tộc :
Bản sắc văn hoá dân tộc giữ vị trí rất quan trọng :
a/. Chính bản sắc văn hoá dân tộc đảm bảo cho dân tộc tồn tại , đứng vững và
phát triển qua các biến động của lịch sử .
b/. Nhờ bản sắc văn hoá dân tộc , chúng ta biểu lộ được trọn vẹn sự hiện diện của
một bản sắc trong giao lưu với quốc tế . Mục tiêu của giao lưu là thông qua giao lưu
với nền văn hoá mới , ta hội nhập với văn hoá thế giới . Chỉ giữ được bản sắc văn
hoá dân tộc thì ta mới có điều kiện giao lưu bình đẳng với các nền văn hoá thế giới .
Còn sao chép , trở thành “ cái bóng” , “ cái đuôi” của người ta thì không còn có gì
mà hội nhập bình đẳng .
Trước yêu cầu của thời kỳ phát triển mới , trước nguy cơ “ đồng nhât” về văn hoá
thực chất là sự thống trị của văn hoá nước lớn , nước giàu thì bản sắc văn hoá dân
tộc có ý nghĩa cực kỳ lớn .
3. Bản sắc dân tộc - hệ giá trị .
Nói dân tộc và bản sắc văn hoá dân tộc không thể tách khỏi quan hệ với thế giới .
Chúng ta đang chứng kiến xu thế toàn cầu hoá đời sống loài người . Đó là xu thế
khách quan , tất yếu mang tính thời đại , trước hết trong lĩnh vực kinh tế . Xu thế
toàn cầu hoá tạo điều kiện cho các quốc gia , dân tộc xích lại gần nhau , hiểu biết
nhau , bổ sung cho nhau , làm phong phú và hỗ trợ lẫn nhau . Đất nước ta nhất định
nắm lấy xu thế này coi như là một thời cơ lớn , ra sức tận dụng mọi điều kiện có lợi
do xu thế ấy tạo ra , đặc biệt để tranh thủ những khả năng vật chất , kỹ thuật , công
nghệ , những kinh nghiệm và tri thức hiện đại rất cần thiết cho sự nghiệp công
nghiệp hoá , hiện đại hoá . Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay , không một quốc gia
nào có thể đứng biệt lập mà có thể tồn tại và phát triển . Mặt khác , phải thấy toàn
cầu hoá là một quá trình đầy mâu thuẫn phức tạp . Mặt tất yếu kỹ thuật - kinh tế là
mặt tích cực , có lợi , ta phải tận dụng . Song , mặt khác không thể bỏ qua là mặt xã
hội - kinh tế , mặt bản chất giai cấp của quá trình toàn cầu hóa . Xét về mặt này ,
trên thế giới hiện nay đang có những lực lượng nuôi tham vọng lớn toàn cầu hoá chủ
nghĩa tư bản , họ muốn áp đặt hệ giá trị của riêng họ lên cả toàn cầu . Quên điều đó
là ngây thơ về chính trị và trong thực tiễn không tránh khỏi phải trả giá đắt .
Trong những điều kiện nêu trên về xu thế toàn cầu hoá hiện nay , chúng ta càng
thấy đường lối mở rộng quan hệ quốc tế trên cơ sở độc lập tự chủ của Đảng ta nói
chung và nói riêng trong xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam vừa tiên tiến
vừa đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc là hết sức đúng đắn và sáng suốt .
Nghị quyết Hội Nghị Trung ương 5 chỉ rõ : “ phương hướng chung , đồng thời là
nhiệm vụ bao quát của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và
truyền thống đại đoàn kết dân tộc , ý thức độc lập tự chủ , tự cường xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa , xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc , tiếp thụ những tinh hoa văn hoá nhân loại , làm cho văn
hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội , vào từng người , từng gia
đình , từng tập thể và cộng đồng , từng địa bàn dân cư , vào mọi lĩnh vực sinh hoạt
và quan hệ con người , tạo nên trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp , trình độ
dân trí cao , khoa học phát triển phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện
đại hoá vì mục tiêu dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng văn minh , tiến bước
dân tộc được thể hiện cả trong nội dung và hình thức .
Khi nói tới bản sắc dân tộc luôn luôn gắn bó với nhau như trên đã trình bày . Khi
nói tới bản sắc văn hoá dân tộc cần tránh những khuynh hướng không đúng . Đó là :
“ đóng cửa , thu mình” , chỉ “ khư khư” giữ bản sắc truyền thống , không sáng tạo
mới , không mở cửa giao lưu , tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới trở thành
dân tộc hẹp hòi , cực đoan , kiêu ngạo . Hoặc là “ mở toang cửa” không chọn lọc ,
bản sắc dân tộc bị chèn ép , lu mờ , trở thành nền văn hoá thiếu bản sắc . Hoặc phục
hồi tất cả kể cả những cáI lạc hậu , lỗi thời trong quá khứ , không còn thích hợp
trong xã hội mới ...
Chương II: Tại sao phải đưa ra vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong
thời kỳ nền kinh tế mở .
I /. Tính tất yếu của việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc
dân tộc .
1. Điều kiện xã hội :
Thực trạng đời sống văn hoá nước ta hiện nay không phải là vấn đề dễ đánh giá .
Có người quá bi quan với tình hình cho là trong khi đời sống kinh tế có khá lên từ
đổi mới đến nay thì đời sống tinh thần lại sa sút như chưa bao giờ có . Ngược lại ,
có người quá lạc quan cho mọi sự đều tốt đẹp , những hiện tượng tiêu cực là tự
nhiên và không đáng kể . Thật ra , bức tranh không chỉ có một màu , hoặc toàn tối
hoặc toàn sáng .
Trước hết , cần khẳng định đời sống văn hoá xã hội ta so với thời kỳ trước có
bước tiến bộ rõ rệt . Điều dễ thấy là tính năng động xã hội - kinh tế và tính tích cực
công dân được khơi dậy và phát huy thay cho tâm lý thụ động , ỷ lại trong cơ chế cũ
. Bầu không khí dân chủ , cởi mở trong xã hội tăng lên . Mặt bằng dân trí được nâng
cao , sở trường , năng lực cá nhân con người được khuyến khích , tôn trọng . Những
nét mới nổi bật ấy trong đời sống được phản ánh qua hoạt động khởi sắc , phong
phú , đa dạng trên các lĩnh vực báo chí , xuất bản , phát thanh , truyền hình , giáo
dục , văn học , nghệ thuật , v.v... Trong sự phong phú , đa dạng và bộn bề của đời
sống và hoạt động văn hoá , chủ nghĩa Mác - Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh được
Đảng ta vận dụng và phát triển sáng tạo vẫn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam
là “ tiên tiến” ? Thế nào là “ đậm đà bản sắc dân tộc” ?
a>. Nền văn hoá tiên tiến
Đọc Nghị quyết Trung ương 5 , ta có thể hiểu nền văn hoá tiên tiến có mấy đặc
trưng :
Một là , yêu nước .
Hai là , tiến bộ .
Ba là , có nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới
ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh .
Bốn là , nhân văn : tất cả vì con người ...
Năm là , tiên tiến không chỉ trong nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu
hiện , trong các phương tiện chuyển tải nội dung .
Đất nước ta đang ở thời kỳ quá độ với nền kinh tế nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa . Sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá nhằm xây dựng
cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội đòi hỏi huy động tối đa tiềm năng vật
chất và tinh thần của cả dân tộc , của tất cả các thành phần kinh tế . Chủ nghĩa yêu
nước ở đây là một động lực cực kỳ to lớn . Nền văn hóa tiên tiến do đó trước hết
phải là một nền văn hoá yêu nước . Có thể coi yêu nước là tién bộ đặc trưng bao
quát nhất củavăn hoá tiên tiến .Yêu nước là ý chí đưa đất nước thoát khỏi cảnh
nghèo nàn , lạc hậu , phấn đấu vì dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng văn minh
- đó là một nội dung tư tưởng lớn của nền văn hoá tiên tiến . Gắn liền với yêu nước
là tiến bộ . Nền văn hoá tiên tiến phải là nền văn hoá kết tinh tất cả những gì là tiến
bộ , là chân , là thiện , là mỹ của dân tộc , của thời đại , của loài người .
Nếu đặc trưng bao quát nhất của nền văn hoá tiên tiến là yêu nước, thì hạt nhân
cốt lõi của nền văn hoá tiên tiến là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới
ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh . Nói văn hóa không thể
không nói hệ tư tưởng . Vì hệ tư tưởng chi phối quan niệm về giá trị , chi phối đạo
đức , lối sống và hành vi con người . Đành rằng hệ tư tưởng không đồng nhất với
văn hoá , không thể quy toàn bộ các giá trị văn hoá vào hệ tư tưởng ; nhưng xét
chung và xét cho cùng , trong xã hội có giai cấp , văn hóa bao giờ cũng có cốt tuỷ là
hệ tư tưởng giai cấp . Vì vậy , thật sai lầm nếu đồng nhất hệ tư tưởng với văn hoá ,