TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NHÓM 11
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁVÀ DỊCH VỤ
TRONG TKQĐ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM
I. ĐỀ CƯƠNG SƠ LƯỢC
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Đề tài phù hợp với thực trạng phát triển thị trường Việt Nam trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt là thị trường hàng hoá và dịch vụ
- Để từ đó đưa ra được giải phát thích hợp để phát triển thị trường.
- Đề tài đã được sự thống nhất của cả nhóm.
2. NỘI DUNG CHÍNH
- Kinh tế Việt Nam trong TKQĐ lên CNXH
- Vai trò của thị truờng hàng hoá dịch vụ trong kinh tế thị trường
- Những nhân tố chính góp phần xây dựng và phát triển thị trường hàng hoá
và dịch vụ .
- Tìm hiểu rõ những vấn đề liên quan đến phát triển thị trường hàng hoá và
dịch vụ trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
- Chính sách của nhà nước
- Đưa ra được thực trạng phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ.
- Chính sách của Nhà nước liên quan đến thị trường hàng hoá dịch vụ
- Đưa ra giải pháp phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ
- Những thành tựu đạt được sau 20 năm đổi mới
- Định hướng phát triển thị trường hàng hoá, dịch vụ
3.KẾT LUẬN
1
II. NỘI DUNG
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Đề tài phù hợp với thực trạng phát triển thị trường Việt Nam trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt là thị trường hàng hoá và dịch vụ
trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó
chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà
nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Trên
2
cơ sở mô hình tổng quát của nền kinh tế thị trường, đường lối kinh tế của
nước chúng tôi được xác định trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI là : đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đưa
nước chúng tôi trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng
sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên
ngoài và chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nhanh , có hiệu quả và bền
vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá từng bước cải thiện
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng
cường quốc phòng, an ninh; mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.”
2.2 Vai trò của thị trường hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế
thị trường
Thị trường:
- Chuyển việc mua bán hàng hoá từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang
mua bán theo cơ chế thị trường, giá cả được hình thành trên cơ sở cung cầu.
Nét nổi bật trong đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước về Thương
nghiệp là xoá bỏ cơ chế bù lỗ.
- Chuyển thị trường từ trạng thái chia cắt, khép kín theo địa giới hành chính
"tự cấp, tự túc" sang tự do lưu thông theo quy luật kinh tế thị trường và theo
pháp luật.
- Doanh nghiệp Nhà nước được sắp xếp lại, đội ngũ các nhà quản lý được đào
tạo trong cơ chế mới, ý thức về hiệu quả được tăng cường hơn.
Sau khi có Quyết Định 12 TW của Bộ Chính trị Thương nghiệp ở thị trường
Trong những năm hậu "chiến tranh lạnh", các công ty đa quốc gia (các công
ty hoạt động xuyên biên giới) trở nên toàn cầu hóa hơn do đặt các nhà máy
sản xuất ở nước ngoài để lợi dụng chi phí lao động rẻ và gần với thị trường
hơn.
Hiện nay, toàn cầu hóa thậm chí khó nhận diện hơn do 1/3 thương mại được
thực hiện trong phạm vi các công ty, ví dụ Toyota chở phụ tùng ô tô từ Nhật
Bản sang Mỹ để lắp ráp. Một số công ty đa quốc gia khác, chẳng hạn như Ép-
pồ (Apple), đã chuyển phần lớn sản xuất tới châu Á.
- Vai trò của ngành du lịch
+ Kính thính các ngành sản xuất vật chất phát triển
+ Sử dụng tốt hơn nguồn lao động trong nước, tạo việc làm cho người
dân
2.3 Những nhân tố chính góp phần xây dựng thị trường
hàng hoá và dich vụ trong TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam
- Việc chuyển dần từ cơ chế tập chung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trường tạo tự do hoá giá cả, khôi phục các quan hệ hàng hoá tiền tệ cho thị
trường hàng hoá và dịch vụ có cơ hội phát triển.
Đại hội đảng VI ( tháng 12/1986 ) đã quyết định : “ xoá bỏ chế độ tập
chung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước, theo định hướng XHCN ”. ( Đảng Cộng Sản Việt Nam, tài liệu đã dẫn,
tr.98 ).
Trong nền kinh tế tập chung trước đây, Nhà nước quy định giá cả thu
mua nông sản của nông dân, giá cả với hầu hết các hàng hoá vật tư, nguyên
liệu nhiên liệu là đầu vào của sản suất và quản lý phân phối các loại hàng hoá
này thông qua các hệ thống các cơ quan cung ứng vật tư của nhà nước. Giá cả
hàng hoá tiêu dùng nói chung cũng đều do nhà nước qui định và được phân
phối bằng tem phiếu và thông qua mạng lưới mậu dịch quốc doanh và hợp tác
xã mua bán (gọi là thị trường có tổ chức). Cơ chế giá cả đó làm cho nền kinh
tế mang tính hiện vật, hạn chế các qui luật của kinh tế thị trường và giảm hiệu
quả kinh tế. Đổi mới cơ chế hình thành và quản lý giá cả đã được đề ra ở đại
Nhờ đó thị trường được khôi phục, các qui luật kinh tế thị trường hoạt động
trở thành cơ chế vận hành nền kinh tế. Quá trình cải cách giá cả góp phần thúc
đẩy phân phối và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn.
- Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.
Đại hội VI đã xem xét một cách căn bản vấn đề cải tạo xã hội Chủ
Nghĩa và đã đưa ra quan điểm mới về nền kinh tế nhiều thành phần: “Đi đôi
với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, tăng cường nguồn tích
luỹ tập chung của Nhà nước và tranh thủ vốn nước ngoài, cần có chính sách
sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác”. (Báo cáo Chính trị
của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội VI. Tạp chí cộng sản số 1-
1987, trang 42).
Quan điểm của Đảng về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần là xuất
phát từ thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam. Nó cho phép có nhiều hình thức
sản suất kinh doanh theo quy mô thích hợp với từng khâu của quá trình tái sản
5
xuất và lưu thông, nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế,
đồng thời là cơ sở để phát triển nền kinh tế thị trường hàng hoá và dịch vụ.
- Doanh Ngiệp nhà nước được sắp xếp lại, đội ngũ các nhà quản lý được đào
tạo theo cơ chế mới.
Trước đổi mới, các xí nghiệp quốc doanh nắm giữ một khối lượng lớn
tài sản cố định và vốn lưu động, với gần 3 triệu lao động, tạo ra khoảng 35-
40% tổng sản phẩm xã hội và đóng góp trên 50% ngân sách Nhà nước. Trong
nhiều ngành công nghiệp, các xí nghiệp quốc doanh chiếm từ 70% đến 100%
sản lượng. Tuy nhiên, các xí nghiệp quốc doanh gặp rất nhiều khó khăn, nhiều
cơ sở kinh doanh yếu kém, thua lỗ hoặc không có lãi. Vì vậy, đổi mới các xí
nghiệp quốc doanh (sau này gọi là doanh nghiệp Nhà nước) là một trong
những nội dung cơ bản trong quá trình đổi mới và được thực hiện từng bước.
2.4 Chính sách của nhà nước
Trong Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội VII. Đảng ta bước đầu đã
phác họa ra mô hình CNXH với sáu đặc tnmg của xã hội XHCN mà nhân dân
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Nói gọn lại thì đây là
nền kinh tế thị trường định huớng XHCN.
Chính sách kinh tế nhiều thành phần là nhất quán và lâu dài, nhằm giải phóng
lực lượng sản xuất phát huy mọi nǎng lực sản xuất để phục vụ mục tiêu xây
dựng CNXH. Kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế
hợp tác đã ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
- Trong xây dựng kinh tế ở thời kỳ quá độ lên CNXH, phải lấy công nghiệp
hóa làm nhiệm vụ trung tâm, nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, nhằm từng
bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, không ngừng nâng cao
nǎng xuất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.
- Quan hệ sản xuất XHCN phải được thiết lập từng bước từ thấp đến cao, phù
hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, với sự đa dạng về hình thức sở
hữu. Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu. Việc cải tạo XHCN không phải chỉ tập
trung trong vài ba nǎm như trước, mà là công việc của suốt thời kỳ quá độ lên
CNXH.
- Trong hoạt động kinh tế, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích
làm giàu hợp pháp, chính sách kinh tế phải gắn với chính sách xã hội, phát
triển kinh tế phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, hạn chế và ngǎn chặn
sự phân cực xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
- Tǎng cường vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước, khai thác triệt để mặt tích
cực của kinh tế thị trường để hoạt động kinh tế có hiệu quả, bảo đảm kinh tế
tǎng trưởng cao và phát triển bền vững: đồng thời phải khắc phục, ngǎn ngừa
và hạn chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị truờng với các tệ nạn như
gian dối, lừa lọc, chụp giật, ma phia, tham nhũng, buôn lậu, tâm lý chạy theo
đồng tiền, suy thoái về đạo đức, lối sống...
7
- Mở rộng quan hệ quốc tế đa phương, đa dạng, chủ động hội nhập kinh tế
khu vực và thế giới, với chiến lược đúng đắn và lộ trình thích hợp, theo tinh
thần "Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước, vì hòa bình, độc lập, và phát
thương nhân với các hình thức sở hữu khác nhau. Các doanh nghiệp Nhà
nước chi phối 70- 75% khâu bán buôn, tỷ trọng bán lẻ chỉ còn 20- 21% trong
tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ. Hệ thống hợp tác xã còn phát huy được
vai trò ở nông thôn, miền núi song chỉ còn chiếm trên dưới 1% tổng mức bán
lẻ trên thị trường. Lực lượng đông đảo nhất trên thị trường là các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh và tư thương, tiểu thương. Khu vực các doanh
8