A. PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ khoa học
công nghệ và thông tin, giao lưu và hợp tác quốc tế chúng ta phải có một nền
kinh tế vững mạnh đủ cạnh tranh được với nền kinh tế của các nước trong khu
vực và trên toàn thế giới nhất là khi Việt Nam đã gia nhập và trở thành thành
viên chính thức của WTO. Mặt khác, trong cơ chế thị trường tự do cạnh tranh
đã cho phép các quốc gia khai thác tối đa các nguồn lực trong nước, khai thác
triệt để các lợi ích so sánh đầu tư, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh có
hiệu quả nhất.
Nước ta đang trong giai đoạn phát triển lên chủ nghĩa xã hội nên chúng
cần có những chính sách phù hợp để điều tiết nền kinh tế phát triển theo đúng
con đường mà chúng ta đã chọn. Để làm được điều đó Nhà nước cần phải có
hệ thống hiến pháp và pháp luật, các công cụ vĩ mô và các chính sách kinh tế
đúng đắn để vận hành nền kinh tế theo ý muốn. Nếu không có sự quản lí của
Nhà nước thì cạnh tranh và tự do cạnh tranh của nền kinh tế thị trường sẽ tác
động tiêu cực đến xã hội làm cho nền kinhtế mất cân bằng, vận hành không
đúng quỹ đạo của nó.Vai trò kinh tế của Nhà nước thúc đẩy những mặt tích
cực, hạn chế những mặt tiêu cực đó.
Nhà nước muốn quản lí tốt về vấn đề xã hội thì trước hết phải quản lí
tốt vấn đề kinh tế sau đó mới đến an ninh chính trị, văn hóa, giáo dục…Do
vậy vai trò kinh tế của Nhà nước là vấn đề quan trọng để hình thành và hoàn
thiện cơ chế quản lí mới của nước ta nói riêng và quản lí Nhà nước ta nói
chung.
Với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam,chúng ta cần phải cố
gắng để theo kịp xu hướng của cả thế giới ,thu hẹp khoảng cách với các nước
trên thế giới .Việt Nam đang có những bước tiến quan trọng như đã tổ chức
thành công hội nghị cấp cao ASEM,APEC và quan trọng hơn nữa chúng ta đã
trở thành thành viên chính thức của WTO.Trở thành thành viên của tổ chức
này đã khó nhưng để tồn tại trong tổ chức này còn khó hơn.Điều này càng cho
thấy vai trò của Nhà nước là rất quan trọng.Vì vậy em xin chọn đề tài “lý luận
nhà nước và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường”để hiểu rõ hơn
sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự xuất hiện của nhà nước là mâu thuẫn
giai cấp không thể điều hoà được. “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của
mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. Bất cứ ở đâu, hễ lực nào và
chừng nào mà về mặt khách quan những mâu thuẫn giai cấp không thể điều
hoà được thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại sự tồn tại của nhà nước chứng
tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được”. Nhà nước chỉ ra
đời, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của sự tồn tại xã hội và sẽ mất được
khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa. Như vậy, nhà nước xuất hiện
một cách khách quan “một lực lượng nảy sinh từ xã hội, một lực lượng tựa hồ
như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho xung
đột đó vẫn nằm trong vòng trật tự”.
2
1.2. Bản chất của nhà nước.
Nhà nước tựa hồ như đứng ngoài xã hội, làm cho xã hội tồn tại trong vòng
trật tự nhất định nhưng trên thực tế chỉ có giai cấp thế lực nhất- giai cấp thống
trị về kinh tế mới có đủ điều kiện lập ra và sử dụng bộ máy nhà nước. Nhờ có
nhà nước, giai cấp này cũng trở thành giai cấp thống trị về mọi mặt chính trị
và do đó có thêm những phương tiện để đàn áp và bóc lột giai cấp khác. Nhà
nước có bản chất giai cấp sâu sắc, nhà nước là bộ máy của một giai cấp này
dùng để trấn áp một giai cấp là bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của giai
cấp này đối với giai cấp khác, là cơ quan quyền lực của một giai cấp đối với
toàn xã hội, là công cụ chuyên chính của một giai cấp. Nhà nước là công cụ
sắc bén để duy trì sự thống trị giai cấp. Ví dụ trong các xã hội bóc lột, nhà
nước của giai cấp bóc lột (nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước
tư bản) đều có bản chất chung là bộ máy thực hiện nền chuyên chính của giai
cấp bóc lột là giai cấp chiếm thiểu số trong xã hội. Ngược lại, trong nhà nước
XHCN là bộ máy củng cố địa vị lãnh đạo và bảo vệ lợi ích của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, lực lượng chiếm đa số trong xã hội, trấn áp những
lực lượng thống trị cũ đã bị lật đổ và những phần tử chống đối, xây dựng một
Nhà nước của giai cấp thống trị nào cũng có một bộ máy quyền lực chuyên
nghiệp: quân đội, cảnh sát,…và bộ máy quản lý hành chính. Nhà nước thực
hiện quyền lực của mình trên cơ sở sức mạnh cưỡng bức của pháp luật và
dùng các thiết chế bạo lực để pháp luật của mình được thực thi trong thực tế.
2.3. Nhà nước hình thành hệ thống thuế khoá để duy trì và tăng cường bộ
máy cai trị.
Nhà nước không thể tồn tại nếu không dựa vào thuế khoá, quốc trái và các
hình thức bóc lột khác. Đó là những chế độ đóng góp có tính chất cưỡng bức
đã nuôi sống bộ máy cai trị. Bằng cách hình thức khác nhau, nhà nước của
giai cấp bóc lột không những là công cụ trấn áp giai cấp mà còn là công cụ
thực hiện sự bóc lột các giai cấp bị áp bức.
3.Chức năng của nhà nước.
Tuỳ theo các góc độ khác nhau, chức năng của nhà nước được phân chia
sự khác nhau. Dưới góc độ tổ chức quyền lực, nhà nước có các chức năng
thống trị của giai cấp và chức năng xã hội. Dưới góc độ phạm vi tác động của
quyền lực, nhà nước có chức năng đối nội và đối ngoại.
3.1. Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội.
• Chức năng thống trị chính trị của giai cấp là chức năng nhà nước
làm công cụ chuyên chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị giai cấp
của giai cấp đó đối với toàn thể xã hội. Ví dụ nhà nước tư sản được lập ra
dùng để bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư sản, nhà nước phong kiến được lập
ra dùng để bảo vệ sự thống trị của giai cấp phong kiến: quan lại, địa chủ,
….Chức năng giai cấp của nhà nước bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà nước
và tạo thành bản chất chủ yếu của nó.
• Chức năng xã hội của nhà nước: là chức năng nhà nước thể hiện
sự quản lý những hành động chung vì sự tồn tại của xã hội, thoả mãn một số
nhu cầu nằm dưới sự quản lý của nhà nước. Nhà nước là người đề ra luật pháp
để ổn định trật tự xã hội, thực hiện việc thu thuế để phục vụ cho các hoạt động
chung của xã hội.
4
đối ngoại của nhà nước ngày càng có tầm quan trọng. Cả 2 chức năng đối nội
và đối ngoại của nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị.
Chúng là 2 mặt của một thể thống nhất. Tính chất của chức năng đối nội
quyết định tính chất chức năng đối ngoại của nhà nước và ngược lại tính chất
và những nhu cầu của chức năng đối ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức
năng đối nội.
4.Các kiểu và hình thức.
4.1. Các kiểu hình thức nhà nước trong lịch sử.
5
Định nghĩa: kiểu nhà nước là khái niệm dùng để chỉ bộ máy thống trị đó
thuộc về giai cấp nào, tồn tạI trên cơ sở chế độ kinh tế nào, tương ứng với
hình thái kinh tế- xã hội nào.
Tương ứng vớI 3 chế độ xã hội có 3 hình thái kinh tế xã hội la hình thái kinh
tế xã hội chiếm hữu nô lê, hình thái KT- XH phong kiến và hình thức kinh tế
tư bản chủ nghĩa là 3 kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến và
nhà nước tư sản.
*) Nhà nước chiếm hữu nô lệ. Đây là nhà nước của giai cấp chủ nô thời cổ
đại mà là tiêu biểu là các hình thức lịch sử nhà nước chủ nô ở Hy Lạp và La
Mã cổ đại như chính thế quân chủ và chính thể cộng hoà, chính thể quý tộc và
chính thể dân chủ. Đây là kiểu nhà nước ra đời đầu tiên trong lịch sử- Đó là
nhà nước của giai cấp chủ nô, thực hiện sự bóc lột đốI vớI nô lệ bằng sự
cưỡng bức trực tiếp sức lao động của những người nô lệ.
*) Nhà nước phong kiến. Đây là nhà nước của giai cấp phong kiến thực
hiện sự bóc lột thông qua địa tô và lao dịch. Nhà nước phong kiến cũng được
tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Nói chung ở phương Tây ở hình thức
quân chủ phân quyền là hình thức nhà nước phổ biến, quyền lực nhà nước
được chia thành quyền lực độc lập và phân tán. MỗI chúa phong kiến là ông
vua trên lãnh thổ của mình. Chúa phong kiến nhỏ chỉ là chủ hầu của chúa
phong kiến lớn. Hoàng đế là chúa phong kiến lớn nhất nhưng chỉ có thực
quyền trên lãnh thổ của mình, ít có khả năng chi phối lãnh địa khác. Ở
trúc.
*) Hình thức chính thể: có 2 dạng cơ bản là hình thức quân chủ và chính thể
cộng hoà.
+) Chính thể quân chủ là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của
nhà nước tập trung toàn bộ hoặc một phần trong tay người đứng đầu nhà
nước, hình thành theo nguyên tắc truyền ngôi ( thế tập ). Nhà nước theo chính
thể quân chủ gọi là nhà nước quân chủ.
• Quân chủ tuyệt đối: là hình thức chính thể quân chủ mà quyền
lực xã hội được tập trung hết vào trong tay nhà vua và được duy trì theo kiểu
cha truyền con nối ( ví dụ nhà nước phong kiến Trung Quốc ).
• Quân chủ lập hiến ( quân chủ hạn chế ): là hình thức chính thể
quân chủ mà quyền lực tối cao của Nhà nước được trao một phần cho người
đứng đầu nhà nước và một phần được trao cho một cơ quan khác ( như nghị
viện trong nhà nước tư sản hoặc hội nghị đại diện đẳng cấp trong nhà nước
phong kiến).
• Quân chủ đại nghị: quyền lực của các nguyên thủ quốc gia ( vua,
hoàng đế ) bị hạn chế rất nhiều. Với tư cách nguyên thủ quốc gia, nhà vua chỉ
mang tính chất tượng trưng, đại diện cho truyền thống, sự thống nhất của một
quốc gia, không có nhiều quyền hành trong thực tế.” Nhà vua trị vì nhưng
không cai trị”. Hiện nay đang tồn tại ở một số nước như Nhật Bản, Anh, Thụy
Điển,…
+) Chính thể cộng hòa là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của
Nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời hạn nhất định.
Chính thể cộng hòa có hai hình thức chủ yếu là cộng hòa quý tộc và cộng hòa
dân chủ.
• Chính thể cộng hòa đại nghị: nghị viện là một thiết chế quyền
lực trung tâm, nghị viện có vai trò rất lớn trong cơ chế thực thi quyền lực nhà
nước. Ở đây các nguyên thủ quốc gia ( tổng thống ) do nghị viện bầu ra và
chịu trách nhiệm trước nghị viện. Chính phủ do các Đảng chính trị chiếm đa
số ghế trong nghị viện thành lập và chịu trách nhiệm trước nghị viện, nghị
chung cho toàn liên bang, thì mỗi nhà nước thành viên còn có hệ thống pháp
luật và cơ quan quản lí nhà nước riêng.Hợp chủng quốc Hoa Kỳ,Cộng hòa
liên bang Đức, Nga….là những nhà nước liên bang.
5. Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cột trụ của hệ thống
chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân, là tổ chức thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Việt Nam.
Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, quản lý kinh
tế bằng kế hoạch, bằng chính sách kinh tế và các công cụ điều tiết khác.
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa được tổ chức theo nguyên tắc nhà nước
pháp quyền của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh công nông và đội ngũ trí
thức làm nền tảng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Trong tổ chức và hoạt động của mình, quyền lực nhà nước được tổ chức
theo nguyên tắc thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa
8
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp.
Tổ chức và hoạt động của nhà nước thực hiện nguyên tắc tập trung dân
chủ. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất
tổ chức và hành động phát huy đồng bộ và kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cả
cộng đồng và từng cá nhân, của cả nước và từng địa phương, của cả hệ thống
bộ máy và của từng yếu tố cấu thành nó. Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam có sự thống nhất hữu cơ chức năng giai cấp và chức năng xã hội.
Trước mắt chúng ta cần đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và
giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước; cải
cách nền hành chính nhà nước, bao gồm cải cách thể chế hành chính, tổ chức
bộ máy và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tổ chức và hoạt động
tư pháp.
II,VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.Vai trò của nhà nước qua các giai đoạn lịch sử