Mối quan hệ xây dựng Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền KT thị trường - Pdf 14

LỜINÓIĐẦU
Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội
và tư duy con người, đặc biệt trong hoạt động kinh tế,chẳng hạn như cung
cầu , tích luỹ và tiêu dùng, tính kế hoạch hoá của từng xí nghiệp, từng công
ty và tính tự phát vô chính phủ của nền sản xuất hàng hoá….Mâu thuẫn tồ
tại khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn
hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong
cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn nay mất đi thì mâu thuẫn
khác lại hình thanh….
Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta do đảng khởi xướng và lãnh đạo đã
dành được nhiều thắng lợi bước đầu mang tính quyết định, quan trọng trong
việc chuyển nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những
chuyển biến đóđãđạt nhiều thành công to lớn nhưng trong những thành công
đó luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn kìm hãm sự phát triển của công cuộc
đổi mới. đỏi hỏi phải được giải quyết và nếu được giải quyết sẽ thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế.
Với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế, quan
điểm lý luận cũng những vướng mắc trong giải pháp, quy trình xử lý các vấn
đề chính trị – xã hội có liên quan đến quá trình tiến hành cải cách trong việc
chuyển nền kinh tế nên em chọn “Mối quan hệ xây dựng Mâu thuẫn biện
chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở việt nam” làm đề tài cho tiểu luận triết học Mác – Lê
nin
1
LÝLUẬNCHUNG
Tất cả các sự vật , hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt
trái ngược nhau. Trong nguyên tử cóđiện tử và hạt nhân, trong sinh vật
cóđồng hoá và dị hoá, trong kinh tế thị trường có cung và cầuhàng và tiền…
những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối
lập: ởđây tôi chia làm 4 phần.

thể có nhiều mâu thuẫn, vì sự vật trong cùng một lúc có rất nhiều mặt đối
lập. Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác hình thành. Ăngghen chính sự
vận động đơn giản nhất của vật chất cũng là một mâu thuẫn. Vật chất tồn tại
ở hình thức vận động cao hơn, mâu thuẫn càng rõ nét hơn. Nó gắn liền với
sự vật, xuyên suốt quá trình phát sinh phát triển và diệt vong của sự vật. Đó
chính là những thuộc tính quy định tính khách quan và phổ biến của mâu
thuẫn.
2. Sựđấu tranh của các mặt đối lập trong một thể thống nhất:
Trong phép biện chứng duy vật, khái niêmk mặt đối lập là sự khái
quát những thuộc tính, những khuynh hướng ngược chiều nhau cùng tồn tại
trong cùng một sự vật hiện tượng, tạo nên sự vật, hiện tượng đó. Do đó cần
phân biệt rằng không phải bất kỳ hai mặt đối lập nào cũng thành mâu thuẫn.
Bởi vì trong cùng một sự vật hiện tượng khách quan không chỉ tồn tại hai
mặt đối lập. Trong cùng một thời điểm cùng tồn tại nhiều mặt đỗi lập. Chỉ
có mặt đối lập là cùng tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật như một
chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, phủđịnh và
chuyển hoá lẫn nhau(sự chuỷen hoá này trở thành nguồn gốc động lực, đồng
thời quy định bản chất khuynh hướng phát triển của sự vật) thì có hai mặt
đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối lập mâu thuẫn. “ Thống nhất” của hai
mặt đối lập được hiểu không phải chúng đứng cạnh nhau mà nương tựa vào
nhau, tạo ra sự phù hợp cân bằng như liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng
buộc lẫn nhau. Mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại
của mình và ngược lại. Nếu thiếu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành
3
sự vật thị nhất định không có sự tồn tại của sự vật. Bởi vậy sự thống nhất
của các mặt đối lập làđiều kiện không thể thiếu được cho sự tồn tại của bất
kỳ sự vật hiện tượng nào.
Sự thống nhất này là do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật tạo
nên.
Ví dụ: Lực lượng sản xuất- quan hệ sản xuất trong phương thức sản

hậu kìm hãm nó diễn ra quyết liệt và gay gắt. Chỉ thông qua các cuộc cách
mạng xã hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới giải quyết nó một
cách căn bản.
Sựđấu tranh của các mặt đối lập được chia thành nhiểu giai đoạn.
Thông thường, khi nó mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ xung
khắc gay gắt người ta gọi đó là giai đoạn khác nhau. Tất nhiên không phải
bất kỳ sự khác nhau nào cũng được coi là mâu thuẫn, chỉ có những khác
nhau cùng tồn tại trong cùng một sự vật nhưng liên hệ hữu cơ với nhau, phát
triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong của sự phát triển thì
hai mặt đối lập ấy mới hình thành bước đầu của mâu thuẫn. Khi hai mặt đối
lập của một mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn xung đột gay gắt, nó biến
thành độc lập, sự vật cũ mất đi sự vật mới hình thành. Sau khi giải quyết
được mâu thuẫn sự thống nhất của hai mặt đối lập mới, hai mặt đối lập mới
đấu tranh chuyển hoá thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn được giải quyết, sự vật
mới xuất hiện. Cứ như thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật
biến đổi không ngừng từ thấp lên cao. Chính vì vậy, Lênin khẳng định “sự
phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”.
Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất vàđấu tranh của các mặt
đối lập, Lênin chỉ ra rằng: “ mặc dù thống nhất chỉ làđiều kiện để sự vật tồn
tại với ý nghĩa là chính nó- nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà
chúng ta nhận biết được sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan.
Song bản thân của sự thống nhất chỉ là tương đối và tạm thời. Đấu tranh
giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó diễn ra thường xuyên, liên tục
5
trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Kể cả trong trạng thái sự vật ổn định ,
cũng như chuyển hoá nhảy vọt về chất. Lênin viết “ sự thống nhất ( phù hợp,
đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là cóđiều kiện, tạm
thời, thoáng qua trong tương đối. Sựđấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn
nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển, sự vận động tuyệt đối”.
3. Chuyển hoá của các mặt đối lập:

giới khách quan thường xuyên và biến đổi không ngừng. Vì vậy, mâu thuẫn
là nguồn gốc vàđộng lực của mọi quá trình phát triển.
II.
TÍNHTẤTYẾUCỦAQUÁTRÌNHXÂYDỰNGNỀNKINHTẾTHỊTRƯỜNGỞVIỆTN
AM .
1.Kinh tế thị trường và những đặc điểm :
*Khái niệm “kinh tế thị trường” Có hai ý kiến khác nhau về kinh tế
thị trường :
Một là xem “kinh tế thị trường “ là phương thức vận hành kinh tế lấy
thị trường hình thành do trao đổi và lưu thông hàng hoá làm người phân
phối các nguồn lực chủ yếu ;lấy lợi ích ,cung cầu thị trường và mua bán
giữa hai bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động kinh tế. nó là phương thức
tổ chức vận hành kinh tế –xã hội .kinh tế thị trường là phương thức ,phương
tiện ,công cụ vận hành nền kinh tế có hiệu quả .tự nó không mang tính giai
cấp –xã hội , không tốt mà cũng không xấu .tốt hay xấu là do người sử dụng
nó. Quan niệm này kinh tế thị trường là vật “trung tính “;là công nghệ sản
xuất ai sử dụng cũđược .
Hai là xem “kinh tế thị trường “là một quan hệ kinh tế- xã hội-chính
trị ,nó in đậm dấu ấn của lực lượng xã hội làm chủ trị trường .kinh tế thị
trường là một phạm trù kinh tế hoạt động ,có chủ thể của quá trình hoạt
động đó ,có sự tác động lẫn nhau của các chủ thể hoạt động .trong xã hội có
giai cấp ,chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trường không phải là cái nhân
riêng lẻ ,đó còn là những tập đoàn xã hội, những giai cấp. Sự tác động qua
7
lại của các chủ thể hoạt động đó có thể có lợi cho người này, tầng lớp hay
giai cấp này; có hại cho tầng lớp hay giai cấp khác. Cho nên, kinh tế thị
trường có mặt tích cực, có mặt tiêu cực nhất định. Không thể nhấn mạnh chỉ
một mặt trong hai mặt đó.
Kinh tế thị trường có sự phát triển từ thấp lên cao, đỉnh cao nhất
trong sự phát triển của nóở giai đoạn đã qua đạt được trong chủ nghĩa tư

nhiên là một vấn đề rất cóý nghĩa, rất cần được nghiên cứu, xem xét. Nhận
thức được những đặc điểm phức tạp của giai đoạn quáđộ, chi phối những
đặc điểm đó, chúng ta sẽ tránh được những sai lầm chủ quan nóng vội, duy ý
chí hoặc những khuynh hướng cực đoan, máy móc,sao chép, chấp nhận
nguyên bản kinh tế thị trường từ bên ngoài vào.
Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế tập trung , bao cấp, mọi chức
năng kinh tế- xã hội của nền kinh tếđều được triển khai trong quá trình kế
hoạch hoáở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của nhà nước đối với các hoạt
động của sản xuất lưu thông, phân phối… khá nặng nề, ở nước ta trước đây,
chếđộ hạch toán, trên thực tế còn nặng về hình thức. Lợi ích kinh tế, đặc biệt
là lợi ích cá nhân người lao động, một động lực trực tiếp của hoạt động xã
hội chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn
chung là chậm chạp, kém năng động.
Kể từđại hội Đảng lần thú VI (12/1986) đến nay, theo đường lối đổi
mới, đất nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường với định
hướng Xã hội chủ nghĩa. Vàđiều đó cóý nghĩa là chúng ta đãđạt được những
thành tựu hết sức quan trọng, những thành tựu cho phép chúng ta “ điều
chỉnh và bổ sung nhận thức, làm cho quan nịêm về chủ nghĩa xã hội ngày
càng cụ thể: đường lối chủ trương, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ
khoa học và thực tiễn”. Những thành tựu đó, trong một chừng mực nhất định
cũng gián tiếp khả năng của nền kinh tế thị trường trong việc năng động
hoá nền kinh tếđất nước.
9
Kinh tế thị trường, như chúng ta đã biết là một quan hệ kinh tế – xã
hội mà trong đó sản xuất và tái sản xuất gắn liền với thị trường, tức là gắn
chặt với quan hệ hàng hoá- tiền tệ, với quan hệ cung- cầu … Trong nền kinh
tế thị trường , nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xã hội quan hệ
hàng hoá.
Nếu như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu tương
đối thuần nhất với hai thành phần tập thể và quốc doanh, thì nay, cùng với

trường nhất thiết phải có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội
chủ nghĩa.
3. Định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay.
Chúng ta đang phấn đấu xây dựng một nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đạt trình độ kinh tế thị trường phát triển với đặc
trưng:
- Hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ :thị trường hàng hoá và
dịch vụ ;thị trường công nghệ , các dịch vụ thông tin ,tư vấn ,tiếp thị , pháp
lý, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, bảo lãnh; thị trường sức lao
động; thị trường lao động, thị trường khoa học, kỹ thuật, công nghệ, thị
trường bất động sản, thị trường vốn, thị trường chứng khoán …. Tất cả các
loại thị trường đó liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể hữu cơ.
Hệ thống này trở thành đầu mối mọi tác động qua lại của hoạt động kinh tế-
xã hội.
- Mỗi thực thể kinh tế có lợi ích riêng (bao gồm xí nghiệp, tập đoàn
xã hội và cá nhân) và là chủ thể của thị trường, tham gia hoạt động của thị
trường và cạnh tranh với nhau.
- Việc vận hành kinh tế-xã hội được thực hiên trong sự kết hợp giữa
đường lối chủ trương, chính sách, kế hoạch …. Với việc sử dụng các loại
tín hiệu kinh tế mà thị trường cung cấp, việc lưu thông tài nguyên được điều
tiết bởi thông tin thị trường và kế hoạch cân đối sản xuất.
11
- Dựa trên quy luật thị trường thống nhất mà hình thành một trật tự
thị trường, sản xuất xã hội lưu thông, phân phối và tiêu dùng với sự liên hệ
vàđiều tiết của đầu mối thị trường, hình thành mạng lưới sản xuất xã hội có
trật tự.
- Dựa vào đường lối, hiến pháp, pháp luật và quy luật vận hành của
kinh tế thị trường, chính phủ thực hiện việc điều chỉnh và khống chế vĩ mô
cần thiết, hữu hiệu; vận hành chính sách kinh tế, pháp luật kinh tế,chỉđạo kế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status