PHẠM THANH DIỄM
MSSV: DPN010609
CÁC MÔ HÌNH TRỒNG TRỌT VÀ CHĂN NUÔI TRONG MÙA
LŨ NĂM 2004 TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Nguyễn Thị Minh Châu
Tháng 6.2005
ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
CÁC MÔ HÌNH TRỒNG TRỌT VÀ CHĂN NUÔI TRONG MÙA
LŨ NĂM 2004 TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, AN GIANG
Do sinh viên: PHẠM THANH DIỄM thực hiện và đệ nạp
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xét duyệt
Long Xuyên, ngày……tháng…… năm 2005
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Nguyễn Thị Minh Châu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm
với tên đề tài: CÁC MÔ HÌNH TRỒNG TRỌT VÀ CHĂN NUÔI
TRONG MÙA LŨ NĂM 2004 TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, AN GIANG.
Do sinh viên: PHẠM THANH DIỄM
Thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng ngày...........................................................
Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức.......................................................
tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Thanh Triều, thầy Nguyễn Bá
Trung đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn các bạn cùng khóa học đã giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới và Ủy ban nhân dân các xã nơi tôi
tiến hành điều tra.
Cán bộ trạm Khuyến Nông huyện Chợ Mới đã giúp đỡ tôi thực hiện đề
tài này.
Tất cả các giáo viên đã giảng dạy và giúp đỡ tôi, tạo nền tảng kiến
thức cho tôi trong suốt khóa học (2001 - 2005).
Cha mẹ, những người thân, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn.
Tác giả
Phạm Thanh Diễm
TÓM LƯỢC
Nhằm tổng kết hiện trạng canh tác của nông hộ trong mùa lũ năm
2004 và đánh giá hiệu quả của các mô hình, đề tài “Các mô hình trồng trọt và
chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004 tại huyện Chợ Mới, An Giang” được thực
hiện bằng phương pháp phỏng vấn nông hộ.
Từ 4 mô hình canh tác như lúa, màu, chăn nuôi bò, bò - bắp, các số
liệu nguồn lực nông hộ như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số
lao động, diện tích, hiệu quả kinh tế của các mô hình.... đã được phân tích.
Diện tích được phân bố bình quân từ 0,31 - 1,41 ha/hộ, những hộ trồng
lúa có diện tích trung bình lớn nhất, các hộ chăn nuôi bò có diện tích trung
bình thấp nhất. Diện tích của nông hộ được sử dụng hợp lý, phần lớn đất đai
được sử dụng sản xuất nông nghiệp, cho thu nhập từ 50,85 - 87,61% trong
tổng thu nhập một năm của nông hộ. Những nguồn thu nhập khác như lao
TÓM LƯỢC ii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH viii
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1. Đặc điểm tự nhiên
3
2.1.1. Vị trí địa lý 3
2.1.2. Đặc điểm sông ngòi
3
2.1.3. Đặc điểm khí hậu 4
2.1.4. Đặc điểm đất đai 4
2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 5
2.2.1. Hiện trạng phân bố và sử dụng đất nông nghiệp 5
2.2.2. Hiện trạng dân số và lao động 5
2.2.3. Sản xuất nông nghiệp 2004 6
2.2.3.1. Trồng trọt 6
2.2.3.2. Chăn nuôi 9
2.2.3.3. Thủy sản 10
2.2.3.4. Kinh tế hợp tác 11
2.3. Kỹ thuật trồng một số loại cây 12
2.3.1. Rau 12
2.3.2. Lúa 13
2.4. Kỹ thuật chăn nuôi bò 15
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1. Vật liệu 17
3.2. Phương pháp 17
Bảng Tựa bảng Trang
1 Dân số - lao động huyện Chợ Mới, An Giang 6
2 Diện tích sản xuất (ha) qua 3 vụ tại huyện Chợ Mới, An
Giang
7
3 Cơ cấu cây màu thực hiện được năm 2004 qua 3 vụ tại
huyện Chợ Mới, An Giang
8
4 Khẩu phần thức ăn của bò vỗ béo 15
5 Số nhân khẩu và số lao động trung bình trong nông hộ của
4 mô hình canh tác tại huyện Chợ Mới, An Giang
22
6 Tỉ lệ (%) thành viên trong nông hộ ở các độ tuổi khác
nhau của 4 mô hình tại Chợ Mới, An Giang
23
7 Tỉ lệ hộ (%) có tổng diện tích đất theo 4 mô hình tại Chợ
Mới, An Giang
24
8 Tỉ lệ (%) số hộ có phương tiện sản xuất theo 4 mô hình
canh tác tại Chợ Mới, An Giang
25
9 Tỉ lệ (%) nông hộ nhận các nguồn thông tin cho sản xuất
nông nghiệp theo 4 mô hình canh tác tại Chợ Mới, An
Giang
26
10 Tỉ lệ (%) hộ sử dụng các giống lúa khác nhau ở mô hình
lúa (vụ 3) tại Chợ Mới, An Giang
27
11 Các hoạt động trong canh tác ở mô hình lúa (vụ 3) tại Chợ 28
Mới, An Giang
canh tác tại Chợ Mới, tỉnh An Giang
pc-1
23 Tỉ lệ hộ (%) có trình độ học vấn khác nhau của 4 mô hình
canh tác tại Chợ Mới, An Giang
pc-1
24 Tỉ lệ hộ (%) có kinh nghiệm sản xuất của với 4 mô hình
canh tác tại Chợ Mới, An Giang
pc-2
25 Phiếu phỏng vấn nông hộ pc-3
DANH SÁCH HÌNH
Hình Tựa hình Trang
4.1 Tỉ lệ chủ hộ (%) ở các độ tuổi khác nhau của 4 mô hình
canh tác tại Chợ Mới, An Giang
19
4.2 Tỉ lệ hộ (%) có trình độ học vấn khác nhau của 4 mô hình
canh tác tại Chợ Mới, An Giang
20
4.3 Tỉ lệ hộ (%) có kinh nghiệm sản xuất của 4 mô hình canh
tác tại Chợ Mới, An Giang
21
pc-3 Bản đồ hành chánh huyện Chợ Mới, An Giang pc-29
pc-4 Phỏng vấn nông hộ ở Chợ Mới, An Giang pc-30
pc-5 Mô hình trồng lúa ở Chợ Mới, An Giang pc-30
pc-6 Thu hoạch cải bẹ dúng ở Chợ Mới, An Giang pc-31
pc-7 Phỏng vấn nông hộ chăn nuôi bò ở Chợ Mới, An Giang pc-31
Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
An Giang là một tỉnh đầu nguồn lưu vực sông Cửu Long, là một
trong những tỉnh có diện tích đất canh tác lớn trong vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long, với nguồn nước ngọt phong phú, khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ
hợp, góp phần phát triển kinh tế nông hộ nói riêng, phát triển kinh tế tỉnh nhà
nói chung, chúng tôi thực hiện đề tài “Các mô hình trồng trọt và chăn nuôi
trong mùa lũ năm 2004 tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang” để khảo sát các
mô hình mà nông dân đang canh tác trong mùa lũ 2004, mong muốn tìm ra
mô hình canh tác thích hợp, góp phần cải thiện đời sống nông dân.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tổng kết các mô hình canh tác trong mùa lũ năm 2004.
- Đánh giá hiệu quả của các mô hình.
- Đề xuất những mô hình canh tác thích hợp, đem lại lợi nhuận cao
cho nông dân.
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Đặc điểm tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Chợ Mới có diện tích tự nhiên 35.571 ha, dân số 359.576
người, gồm 16 xã và 2 thị trấn.
Tây bắc giáp huyện Phú Tân, bắc giáp huyện Thanh Bình tỉnh Đồng
Tháp, đông giáp thị xã Cao Lãnh và huyện Cao Lãnh (Đồng Tháp), đông nam
giáp huyện Lấp Vò (Đồng Tháp), tây nam giáp thành phố Long Xuyên, tây
giáp huyện Châu Thành và huyện Châu Phú. Gồm 70 tuyến địa giới cấp xã
dài 242,209 km, trong đó 21 tuyến trùng với tuyến tỉnh và 15 tuyến trùng với
tuyến huyện, được xác định bằng 71 mốc địa giới hành chính (8 mốc tỉnh, 15
mốc huyện và 48 mốc xã). Huyện lỵ cách Long Xuyên 29 km theo đường
tỉnh lộ 944 từ An Hòa đi Cựu Hội và tỉnh lộ 942 từ Hội An đi Thuận Giang
(Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003).
Năm 1978, An Giang bị lũ lớn, huyện Chợ Mới đã thực hiện thành
công hệ thống đê bao ngăn lũ ở ấp Hòa Thượng, xã Kiến An, bảo vệ được
một diện tích lúa khá lớn để giải quyết vấn đề giống cho vụ sau (Ủy Ban
Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003). Năm 1998, huyện Chợ Mới tiến hành đê
bao triệt để, bảo vệ tài sản, tính mạng con người đồng thời gia tăng sản xuất.
2.1.2. Đặc điểm sông ngòi
thay đổi quanh năm, nhiệt độ cao nhất ở An Giang dao động từ 36
0
- 38
0
,
nhiệt độ trung bình khoảng 27
0
. Chế độ mưa phong phú và phân hóa rõ rệt
theo hai mùa gió, cụ thể là gió mùa mùa đông tương ứng với mùa khô, gió
mùa mùa hè tương ứng với mùa mưa (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang,
2003).
Lượng mưa trung bình ở Chợ Mới khoảng 114 mm, lượng mưa thấp
nhất là 4,4 mm vào tháng 2, lượng mưa cao nhất xuất hiện vào tháng 10
khoảng 305 mm. Ẩm độ phụ thuộc vào lượng mưa. Ở An Giang, trong mùa
khô ẩm độ ở thời kỳ đầu mùa là 82%, giữa mùa khoảng 78% và cuối mùa còn
72%. Khác với mùa khô, mùa mưa ở An Giang là một mùa ẩm ướt thật sự, độ
ẩm trung bình trong những tháng mùa mưa trên 84%, có những tháng xấp xỉ
90% (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003).
2.1.4. Đặc điểm đất đai
Do vị trí của huyện Chợ Mới là cù lao được bao quanh bởi sông Tiền,
sông Hậu và sông Vàm Nao, chính điều này đã tạo nên đặc điểm đất đai của
huyện, đất nơi đây được bồi đắp bởi phù sa hàng năm. Đặc tính chung của đất
phù sa ở An Giang là chứa nhiều hữu cơ, pH thấp, ít bị bào mòn. Đây là
nhóm đất được dùng để trồng lúa chủ yếu trong tỉnh với tính chất ít hoặc
không bị phèn và có dinh dưỡng cao, khả năng tăng vụ có thể bắt đầu từ
nhóm đất này.
Nhóm đất phù sa xám nâu được bồi, ít hữu cơ chiếm một diện tích
khá lớn ở 4 huyện cù lao như Chợ Mới, Phú Tân, An Phú, Tân Châu. Vật liệu
trầm tích chủ yếu là sét, bột, lẫn chất hữu cơ, bề dày lớp phù sa từ 1 - 2 m.
Đất có phản ứng hơi chua, pH biến động trong khoảng 4,0. Đạm tổng số từ
Chỉ tiêu 2001 2002 2003
- Dân số toàn huyện (người)
+ Nam
+ Nữ
+ Dân số trong độ tuổi lao động
(phục vụ trong nông nghiệp)
- Mật độ dân số (người/km
2
)
- Số hộ toàn huyện
+ Hộ nghèo theo tiêu chuẩn
355.657
176.770
178.887
121.701
1.000
74.661
2.902
358.296
177.806
180.490
118.781
1.007
75.086
2.263
359.576
178.382
181.194
114.764
1.010
- Tổng diện tích vụ 1 24.708 25.162
+ Lúa 19.528 18.964
+ Màu 5.180 6.198
- Tổng diện tích vụ 2 25.530 25.401
+ Lúa 18.237 17.576
+ Màu 7.293 7.825
- Tổng diện tích vụ 3 23.390 23.603
+ Lúa 18.574 18.190
+ Màu 4.816 5.413
- Tổng diện tích cả năm 73.628 74.166
+ Lúa 56.339 54.730
+ Màu 17.289 19.436
- Hệ số sử dụng đất (vòng/năm) 3,33 3,35
(Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân huyện Chợ Mới, 2004)
Vụ 1 năm 2004, toàn huyện đã xuống giống được 25.162 ha, tăng
454 ha so với cùng kỳ năm 2003, trong đó diện tích cây lúa 18.964 ha, giảm
564 ha so với năm 2003, diện tích màu là 6.198 ha, tăng 1.018 ha so với năm
2003 (Bảng 2). Vụ 2 năm 2004, toàn huyện đã xuống giống được 25.401 ha,
giảm 129 ha so với cùng kỳ năm 2003, trong đó diện tích cây lúa 17.576 ha,
giảm 661 ha so với năm 2003, diện tích màu là 7.825 ha, tăng 532 ha so với
năm 2003. Vụ 3 năm 2004, toàn huyện đã xuống giống được 23.603 ha, tăng
213 ha so với cùng kỳ năm 2003, trong đó diện tích cây lúa 18.190 ha, giảm
384 ha so với năm 2003, diện tích màu là 5.413 ha, tăng 597 ha so với năm
2003. Diện tích lúa giảm qua các vụ so với năm 2003 như trên là do chuyển
sang trồng màu. Mặt khác, vụ 2 xã Mỹ An do thu hoạch vụ 1 trễ nên có
khoảng 120 ha diện tích lúa chuyển sang vụ 3 làm cho diện tích cây lúa vụ 2
có giảm so kế hoạch cũng như cùng kỳ (Phòng thống kê huyện Chợ Mới,
2004
c
) và ở vụ 3 xã Long Kiến do có một số diện tích đất nằm trong vùng
+ Bắp trắng 796 1.173 564 2.533
+ Rau dưa 4.174 4.057 3.448 11.679
+ Bắp non 256 733 649 1.638
+ Bắp lai 41 69 90 200
+ Cỏ 16 12 82 110
CỘNG 6.198 7.825 5.413 19.436
(Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân huyện Chợ Mới, 2004)
2.2.3.2. Chăn nuôi
Trong điều kiện đê bao triệt để, số lượng heo và bò tăng hơn so với
đê bao tháng 8 trung bình tương ứng là 2,59 con heo/hộ và 4,09 con bò/hộ.
Điều này có thể lý giải với điều kiện thuận lợi cho việc chăn nuôi như bao đê
triệt để, không bị ngập, có thể nuôi được quanh năm và chuồng có thể xây
dựng kiên cố đã có tác dụng kích thích cho chăn nuôi heo và bò. Nhờ có đê
bao canh tác được 3 vụ nên có nhiều tấm cám và dư thừa nông sản, có thể dễ
dàng cho dịch vụ chăn nuôi thú y, thức ăn, con giống… Kết quả hạch toán
hiệu quả kinh tế cho thấy tác động của đê bao tăng lợi nhuận trong chăn nuôi
khoảng 10,457 triệu đồng từ nuôi bò và 0,889 triệu đồng/hộ/năm từ nuôi heo
(Dương Văn Nhã, 2004).
a. Đàn heo
Tính đến thời điểm 01/07/2004, toàn huyện hiện có 30.986 con tương
đương tổng đàn của năm 1983. Trong đó, heo thịt 28.431 con, heo nái 2.494
con, heo đực giống 61 con. Đây là thời điểm đàn heo có tốc độ phát triển cao
nhất trong những năm qua. Do ảnh hưởng đợt dịch cúm gia cầm (phải tiêu
hủy gần toàn bộ đàn gia cầm) nên lượng thịt heo là nguồn cung cấp chủ yếu,
để thay thế sản phẩm thịt gà. Giá thịt heo hơi trên thị trường luôn giữ ở mức
giá cao (giá heo hơi từ 14.000 - 15.000 đồng/kg vào thời điểm tháng
03/2004), tuy giá thức ăn có biến động nhưng so giá bán heo hơi lợi nhuận ở
mức 22% đã kích thích nhiều hộ nuôi. Do vậy, nhiều hộ chăn nuôi đã mở
rộng qui mô để phát triển đàn. Qua kết quả điều tra cho thấy, cơ cấu hộ nuôi
nhỏ từ 3 con trở lại hiện nay chỉ chiếm gần 40% (trong khi tỷ lệ này năm
điểm xảy ra dịch bệnh đến nay lượng gia cầm trong huyện đã tăng được
74,2% (tức tăng132.553 con) (Phòng thống kê huyện Chợ Mới, 2004
e
).
d. Chăn nuôi khác
Chăn nuôi các loại con khác phát triển khá mạnh, đáng chú ý là chăn
nuôi dê, hiện giá rất cao nên có 830 con, cá sấu phát triển lên đến 1.388 con,
rùa, ba ba 10.164 con, thỏ 6.317 con... (Phòng thống kê huyện Chợ Mới,
2004
e
).
2.2.3.3. Thủy sản
Toàn huyện hiện có 2.041 hộ nuôi trồng thủy sản với các loại hình
nuôi: ao hầm, chân ruộng, đăng quầng, bè, ...
Tổng diện tích nuôi ao hầm, chân ruộng, đăng quầng là 114 ha, trong
đó nuôi ao hầm 103 ha, nuôi chân ruộng 5 ha, nuôi đăng quầng 6 ha. Diện
tích nuôi ao hầm tập trung nhiều nhất ở các xã: Kiến An, Mỹ Hội Đông, An
Thạnh Trung, Hòa Bình, Hòa An... Riêng diện tích nuôi đăng quầng tập trung
ở các xã có bãi bồi như: Kiến An, Mỹ Hiệp, Hòa Bình, Hòa An. Tổng số cá
hiện có 13,10 triệu con, nhưng lượng cá của các trại cá giống trong huyện
cung cấp 1,15 triệu con, chỉ chiếm 8,7% số cá nuôi và số còn lại rất lớn phải
mua các nơi khác, do đó cần phải tổ chức sản xuất cá giống để cung cấp cho
người nuôi đủ số lượng và đảm bảo chất lượng con giống (Phòng thống kê
huyện Chợ Mới, 2004
a
).
Năm 2004, đối với nghề nuôi thủy sản, toàn huyện có 103 ha nuôi cá
ao hầm, 5 ha nuôi trên chân ruộng, 6 ha nuôi đăng quầng, 156 bè, 27 lồng
nuôi cá, với tổng sản lượng cá nuôi 6.925 tấn tăng 24,7% so với năm trước, là
huyện có điều kiện phát triển thủy sản ở khu vực bãi bồi, cần có qui hoạch để
2.3. Kỹ thuật trồng một số loại cây
2.3.1. Rau
Mô hình chuyên màu được áp dụng trên diện tích đất rẫy có địa hình
cao, khả năng dẫn nước và giữ nước kém. Các cây trồng có thể được người
dân thâm canh hoặc luân canh, thường trồng bắp, đậu nành, rau dưa, cà…
Việc chọn cây trồng trong mô hình chuyên canh màu ngoài các điều kiện tự
nhiên và khả năng thực hiện của nông hộ thì yếu tố thị trường cũng quyết
định rất lớn.
a. Đất trồng rau
Bộ rễ các loại rau nói chung là nông từ 25 - 30 cm, vì vậy tính chịu
hạn, chịu úng rất kém và dễ bị nhiễm sâu bệnh, cho nên yêu cầu về đất của
các loại rau phải được làm cẩn thận, tốt nhất là được để ải 5 - 7 ngày và rắc
vôi bột để tiệt trùng, trừ các nguồn bệnh trong đất và phải được lên liếp trước
khi trồng. Chiều dài của luống tùy vào địa hình và diện tích đất để thích hợp
cho việc tưới tiêu, rộng 100 - 120 cm là vừa.
Đất trồng rau không được làm quá nhỏ, vì làm đất quá nhỏ sẽ lấp hết
các khoảng trống chứa các khí cần thiết trong lòng luống rau, có thể làm đất
nhỏ 1 - 3 cm hay 5 cm là được. Vụ hè, mưa nhiều thì làm luống khum mai
rùa, mặt luống hẹp và cao, vụ đông xuân khô hanh, làm luống phẳng và rộng
hoặc hơi trũng lòng khay để giữ nước, giữ phân (Nguyễn Văn Thắng và Trần
Khắc Thi, 2000).
b. Bón phân
Rau là cây có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn nhưng lại cho sản
lượng rất cao, từ 20 - 60 tấn/ha, do vậy cây rau đòi hỏi phải được bón nhiều
phân và đất trồng rau phải là đất tương đối tốt. Theo Nguyễn Văn Thắng và
Trần Khắc Thi (2000), để thu được 1 tấn cải bắp, cây cải bắp đã lấy đi từ đất
3,5 kg N, 1,3 kg P
2
O
5
- Bón đủ lượng phân cần thiết.
- Bón đúng lúc và đúng cách.
Đạm, lân, kali là ba chất cơ bản để tạo ra chất hữu cơ và năng suất,
phẩm chất của cây rau; nhưng nếu bón mất cân đối giữa chúng sẽ dẫn đến hậu
quả ngược lại: năng suất thấp, chất lượng rau kém, dễ hư hỏng khi vận
chuyển hoặc bảo quản (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 2000).
2.3.2. Lúa
a. Xử lý hạt giống
Giống phải được lựa bỏ những hạt lép, lửng bằng nước muối, sau khi
đãi sạch nước muối đổ nước sạch ngâm đủ 72 giờ, cứ 24 giờ thay nước 1 lần,
lần sau cùng đãi thật sạch, ủ cho hạt nứt nanh (gai dứa), mang gieo ngay
(Nguyễn Văn Hoan, 1999).
b. Gieo sạ
Ruộng lúa đã bón phân lót, chia luống, rút hết nước đem thóc giống
đã ủ đem gieo ngay. Với giống hạt nhỏ (trọng lượng 1000 hạt dưới 22 gam)
cần gieo 55 kg mầm cho 1 ha. Với giống hạt to (trọng lượng 1000 hạt trên 25
gam) cần gieo 69 kg mầm cho 1 ha. Kiểm tra số cây mọc khi có 2 lá thật cần
đạt 140 - 150 cây/m
2
. Nếu số lượng vượt quá con số trên cần tỉa bỏ các cây
nhỏ và ở những chỗ gieo dày để giữ lại 150 cây/m
2
là vừa. Chú ý gieo úp tay
cho hạt lặn sâu vào đất và gieo thật đều (Nguyễn Văn Hoan, 1999).
c. Chăm sóc
Không để nước đọng. Sau khi gieo 1 - 2 ngày cần phun thuốc trừ cỏ
Sofit với lượng 1 lít pha với 300 lít nước phun đều cho 1 ha. Chú ý phun đều
cả phần rãnh luống không bỏ sót.
Khi cây bắt đầu phát triển ta tiến hành bón thúc cho cây:
- Lúa có 2 lá: bón thúc 80 kg đạm urê và 80 kg kali clorua cho 1 ha.