Quản lý tài nguyên và môi trường luận văn, đồ án, đề tài tốt nghiệp - Pdf 14

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM
.Vỉir BO.
TIÊU LUẬN
“QUẢN LÍ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐÊ TÀI:
“SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN
THIÊN NHIÊN”
GVHD: PGS.TS NGUYỄN
KHOA LÂN
r
Huê, tháng 5 năm 20ỉ 0
- Chuyên ngành động vật - KI8
ĨỆ»
A


V
V

V
V
A

HV:
VÕ VĂN THIỆP
LỚP: ĐVH-K18
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ

Tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận, vì vậy nếu không có cách khai thác
và sử dụng hợp lí (kể cả tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo) thì một ngày nào

TNTN là nguồn của cải vật chất nguyên khai, được hình thành và tồn tại trong tự
nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống .
Mỗi loại tài nguyên có đặc điểm riêng, nhưng có hai thuộc tính chung:
- TNTN phân bố không đồng đều giữa các vùng trên Trái Đất và trên cùng một lãnh
thổ có thể tồn tại nhiều loại tài nguyên, tạo ra sự ưu đãi của tự nhiên với từng vùng
lãnh thổ, tòng quốc gia.
- Đại bộ phận các nguồn TNTN có giá trị kinh tế cao được hình thành qua quá trình
lâu dài của tự’ nhiên và lịch sử.
1.3. Phân loại tài nguyên [1], [2]
Hiện nay có nhiều phương pháp phân loại TNTN khác nhau theo trữ lượng, chất
lượng, công dụng, khả năng tái tạo Trong từng trường hợp cụ thể, người ta có thể sử
dụng một hoặc tổ hợp nhiều phương pháp phân loại TNTN. Sự phân loại chỉ có tình
chất tương đối vì tính đa dạng, đa dụng của tài nguyên và tuỳ theo mục tiêu sử dụng
khác nhau.
Chúng ta có thể tham khảo theo hai cách phân loại TNTN như sau:
* Theo Lê Văn Thăng thì TNTN được phân loại như sau:
Theo nguồn gốc: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân tạo
Theo khả năng tái tạo: Tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái tạo.
Theo môi trưòĩĩg thành phần: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng,
tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khí hậu cảnh
quan, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học và thông tin.
Theo sự tồn tại: Tài nguyên hữu hình và tài nguyên vô hình.
* Theo Lê Văn Khoa thì TNTN được phân loại như sau:
Theo thành phần hó học: TNTN có thành phần là các chất vô cơ (quặng kim
loại), TNTN có thành phần là các chất hữu cơ (Than đá, dầu mỏ )
Theo trạng thái phân bố: TNTN ngoài mặt, TNTN trên mặt, TNTN trong lòng
đất.
Hệ thống phân tán
TNTN trong lòng đất
Nguôn Các

Như phần trên, tuỳ vào mục đích hay trữ lượng mà có nhiều cách để phân
loại tài nguyên, để phần nào rõ hơn tình hình sử dụng và biện pháp bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên trong và ngoài nước bản thân tôi đi sâu vào một số tài nguyên
quan trọng sau đây:
2.1. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất [1], [2], [3], [4]
2.7.7. Phân bố trên lục địa
Đất là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người để sinh
tồn. Trên quan điểm sinh thái và môi trường, đất được xem là một vật thể sống,
một “vật mang” của các hệ sinh thái tồn tại trên Trái Đất. Do đó, con người tác
động và đất cũng chính là tác động vào tất cả HST mà đất “mang” trên mình nó.
Đất là tư liệu sản xuất độc đáo mà không vật thể tự nhiên nào có được - đó là độ
phì nhiêu. Chính nhờ tính chất độc đáo này mà các HST đã và đang tồn tại, phát
triển, và xét cho cùng, cuộc sống của loài người cũng phụ thuộc vào tính chất '‘độc
đáo” này của đất. Đất cùng với con người đã đồmh hành qua các nền văn minh
nông nghiệp khác nhau, từ nền nông nghiệp thô sơ vào buổi bình minh của loài
người đến nền nông nghiệp đầy ắp các tiến bộ khoa học và công nghệ ngày nay,
đất vẫn còn giữ nguyên giá trị. Đất là vốn quý của xã hội và luôn là vấn đề nóng
bỏng ở mỗi quốc gia. Trên Trái Đất, đất là tấm gương phản chiếu điều kiện khí
hậu, thảm thực vật và phân bố theo các dãy tương thích với các khu sinh học. Từ
Bắc bán cầu tới xích đạo gồm caá dãy đất chính sau: đất đài nguyên, đất podzôn,
đất xám rừng, đất đen, đất xám khô hạn, đất hạt đẻ, đất đỏ và đất vàng vùng nhiệt
đới.
2.1.2. Hiện trạng sử dụng đất ở Việt Nam
Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên 32.931.456 triệu ha, trong đó %
thuộc về đồi núi và trung du, diện tích sông suối và núi đá là 1.337.275 ha (chiếm
4,05% diện tích đất tự nhiên), phần đất liền là 31.2 triệu ha (chiếm 94,5% diện tích
đất tự nhiên), xếp thứ 58 trong tổng số 200 nước trên Thế Giới, nhưng vì dân số
đông nên diện tích bình quân đầu người thuộc loại rất thấp, xếp thứ 159 và bằng
1/6 bình quân của Thế Giới. Riêng khu vực miền núi chiếm gần 25 triệu ha (76%
diện tích đất tự nhiên), bao gồm 6 nhóm, 13 loại đất chính phân bố trên 4 vành đai

Đât nông nghiệp khác 16.5 15.8
Đât phi nông nghiệp 3309.1 1390.5
Đât ở 611.9 606
Đât ở đô thị 108.5 105.3
Đât ở nông thôn 503.4 500.7
Đât chuyên dùng 1433.5 509.4
Đât trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 23.8 23
Đât quôc phòng, an ninh 286.1 198.3
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 170.3 155.1
Đât có mục đích công cộng 953.3 133.1
Đất tôn giáo, tín ngưỡng 12.9 12.7
Đất nghĩa trang, nghĩa địa 97.2 81.8
Đât sông suôi và mặt nước chuyên dùng 1150.3 177.9
Đất phi nông nghiệp khác 3.4 2.8
Đất chưa sử dụng 5116 1110.5
Đât băng chưa sử dụng 340.3 24.9
Đât đôi núi chưa sử dụng 4396 1068.8
Núi đá không có rừng cây 379.7 16.8
(Nguồn: Niên giám thống kê 2007)
Bảng 2. Hiện trạng sử dụng đất (Tại thời điểm 01/01/2008)
Như vậy, vào năm 2008 quỹ đất đã được sử dụng là 23,10 triệu ha, chiếm
96,35% diện tích tự nhiên cả nước, tăng hơn so với năm 2007 (22,65 triệu ha,
Đom vị: Nghìn ha
ĐẤT
Tổng diện
tích
Trong đỏ: Đất đã giao và
cho thuê
CẢ NƯỚC 33115.0 23977.4
Đât nông nghiệp 24997.2 21545.9

(Nguồn: Niên giám thống kê 2008)
50 dũing và bUio V0 tài nguyên thiên nhiên
Võ Văn ThiĩHp - Chuyên ngành động vật - KI8 8
chiếm 95% diện tích tự nhiên cả nước). Trong đó, 21,55% sử dụng cho nông - lâm
nghiệp, chiếm 89,88%, tăng hơn so với năm 2007 (21,26 triệu ha, chiếm 89,46%).
Trong diện tích đất chưa sử dụng 0,88 triệu ha thì có tới 0,85 triệu ha là đất trống,
đồi trọc ở miền núi và trung du (2008). So với hiện trạng sử dụng đất năm 2006,
quỹ đất đã được mở rộng thêm 0,45 triệu ha. Diện tích đồi núi chưa sử dụng giảm
đáng kể (diện tích đồi núi chưa sử dụng năm 2006 là 4,54 triệu ha) .
2.1.3. Hiện trạng sử dụng trên thế giới.
Trong một nghiên cứu gần đây của FAO (Alexandratos, 1995; trong FAO,
1993) ước lượng khoảng 92% của 1800 triệu ha đất đai của các quốc gia đang phát
triển bao gồm luôn cả Trung Quốc thì có tiềm năng cho cây trồng sử dụng nước
trời, nhưng hiện nay vẫn chưa sử dụng hết và đúng mục đích, trong đó vùng bán sa
mạc Sahara ở Châu phi 44%; Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê 48%. Hai phần ba
của 1800 triệu ha này tập trung chủ yếu một số nhỏ quốc gia như: 27% Brasil, 9% ở
Zaire, và 30% ở 12 nước khác. Một phần của đất tốt này vẫn còn để dành cho ròng
hay vùng bảo vệ khoảng 45%, và do đó trong các vùng này không thật sự được sử
dụng cho nông nghiệp. Một phần khác thì lại gặp khó khăn về mặt đất và dạng bậc
thềm như khoảng 72% vùng Châu Phi bán sa mạc và vùng Châu Mỹ La Tinh.
Trên 50% của 1800 triệu ha của đất để dành được phân loại ở cấp loại "ẩm",
thí dụ như quá ẩm cho hầu hết các loại cây trồng và không thích hợp lắm cho sự
định cư của con người, hay còn gọi là "vùng thích nghi kém cho cây trồng". Do đó,
khả năng để mỡ rộng diện tích đất đai cho canh tác cây trồng thường bị giới hạn.
FAO ước lượng rằng (Yudelman, 1994; trong FAO, 1993), đất nông nghiệp
có thể mỡ rộng được khoảng 90 triệu ha vào năm 2010, diện tích thu hoạch có tăng
lên đến 124 triệu ha do việc thâm canh tăng vụ cây trồng. Các vùng đất có khả năng
tưới trong các quốc gia đang phát triển đang được mỡ rộng tăng thêm khoảng 23,5
triệu ha so với hiện tại là 186 triệu ha.
Như vậy cho thấy rằng trong một tương lai gần đây sẽ giảm đi một cách có ý

cần thiết, tiến hành lập bản đồ khoanh vùng bảo vệ các vùng đất nông nghiệp. Quy
hoạch xây dựng và củng cố hệ thống đê biển và đê sông bảo vệ đất canh tác do
mực nước biển dâng cao, do triều cường và sự xâm mặn. Việc quán lý và đầu tư
mở rộng diện tích rừng ngập mặn ven biển, ven sông là giải pháp có hiệu quả cao
về kinh tế và kỹ thuật. Tiếp tục bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện hơn các chính sách
và pháp luật về quyền sở hữu, sử dụng và quản lýnhà nước về đất nói chung và có
các quy định về quán lý đất dốc, đất lun vực sông và đất ngập nước; lồng ghép tốt
chính sách quốc gia với các kế hoạch hành động quốc tế về việc chống thoái hóa và
sử dụng đất bền vững.
về kinh tế - xã hội, cần điều hòa sự phân bố dân số và di dân giữa các vùng,
miền nhằm giảm áp lực của dân số đối với tài nguyên đất; có những giải pháp hợp
lý bảo đảm an ninh lương thực vùng núi, định canh định cư, bảo vệ và phát triển
rừng, chống xói mòn đất
về kỹ thuật, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng họp (nông học, sinh học,
hóa học, cơ học ) và đầu tư thâm canh sử dụng đất theo chiều sâu; trồng cây lâu
năm có giá trị kinh tế, thương mại cao nhưng ít phải xới xáo đất và thực hiện các hệ
thống nông - lâm - súc kết hợp ở vùng đất dốc, giữ cân bằng sinh thái và điều hòa
các tác động lẫn nhau giữa đồng bằng và miền núi; tái tạo lớp phủ thực vật bằng
cây rừng hoặc tổ họp nông lâm kết hợp để bảo vệ độ phì nhiêu của đất.
2.2. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng[ 1], [2]
Rừng là bộ phận tổ hợp quan trọng nhất, là HST điển hình trong sinh quyển,
trong đó thực vật với các loại cây gỗ giữ vai trò chủ đạo. Rừng có ý nghĩa
rất lớn đối với sự phát triển KT - XH, sinh thái và môi trường. Vì vậy,
người ta thường nói “ Rừng là lá phổi của hành tinh”.
2.2.1. Tài nguyên
rừng ở Việt Nam
Diễn biến
tài nguyên
rừng của nước ta có
thể chia thành hai

Chỉ sô ha/đầu
người
Tự nhiên
rrí /\
Trông
Tông cộng
1945 14.300 0 14.300 43,0 0,70
1975 11.077 92 11.169 33,8 0,22
1980 10.186 422 10.608 32,1 0,19
1985 9.038 584 9.892 30,0 0,16
1990 8.430 745 9.175 27,8 0,14
1995 8.252 1.050 9.302 28,2 0,12
2000 9.444 1.471 10.915 33,2 0,14
2005 10.328 2.312 12.640 36,3 0,15
ASEAN 211.387 19.973 231.360 48,6 0,42
Thê Giới 3.682.369 187.086 3.809.455 29,6 0,60
(Nguồn: State of The World's Forests, FAO, 2007)
trở lại, đặc biệt là diện tích của ròng trồng (từ 745 nghìn ha năm 1990 tăng lên
đến2.312 nghìn ha năm 2005.
Ở vùng ven biển, rừng ngập mặn là bức tường xanh vững chắc bảo vệ bờ
biển, đê biển, hạn chế xói lỡ và các tác hại của bão lũ. Hệ thống rễ chằng chịt trên
mặt đất thu hút và giữ lại các trầm tích mềm mại, góp phần mở rộng đất liền ra phía
biển; mặt khác chúng là hàng rào ngăn giữ những chất ô nhiễm, các kim loại nặng
tù’ các sông đổ ra biển, bảo vệ các sinh vật vùng ven biển. Do chưa hiểu hết giá trị
nhiều mặt của HST rùng ngập mặn, hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt, đặc
biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi xuất khẩu nên RNM ở nước ta đã bị suy thoái nghiêm
trọng.
Các kiếu rừng chính ở Việt Nam
Điều kiện tự nhiên khí hậu và các nhân tố khác đã tạo cho cây rừng sinh
trưởng và phát triển quanh năm, thảm thực vật rừng phong phú đa dạng với nhiều

thường áp dụng lối canh tác nông lâm kết hợp.
- Rừng lá kim
Ở các vùng cao trên 1000 m ở phía Nam thích hợp với các loài thực vật lá
kim (Tùng, Bách, Thông 2 lá, Thông 3 lá) đã tạo nên những cánh rừng bạt ngàn
trên cao nguyên Lâm Đồng. Tùy theo độ cao và chế độ ẩm cụ thể mà rừng thông có
thể xen lẫn với cây lá rộng của rừng Khộp hoặc của rùng thường xanh Á nhiệt đới.
Rừng thông ở đây cung cấp gỗ xây dựng, gỗ gia dụng, làm bột giấy. Nhựa
thông dùng để chế biến colofan, dầu thông, nhiều loại hóa chất khác nhau là những
mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao. Ở dưới tán rừng thông hoặc xen kẻ với cây công
nghiệp, cây thuốc, cây ăn trái hoặc các đồng cỏ chăn nuôi.
Ở các vùng cao trên 1500 m thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn cũng có rừng lá
kim, nhưng khu vực nhỏ hơn, thường gặp là thông, Pơmu là loại quí.
- Rừng thường xanh lá rộng A nhiệt đới
Thường gặp ở các vùng núi cao trên 800 m ở phía Bắc, phần lớn gồm các
cây hiện diện thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Long Não (Lauraceae), họ Thạch Nam
(Ericaceae) và các cây Tre, Nứa (họ Poaceae). thực vật phụ sinh phát triển mạnh,
thường là Phong lan (Orchỉdaceae), ráng đuôi phụng, ráng tổ rồng (Polypodỉaceae)
và các cây Thảo quả (họ Zỉngỉberaceae). Ở vùng rừng này, người ta thường trồng
những cây thuốc như: Đỗ Trọng (họ Eucommiaceae), Quế (họ Lauraceae), Nhân
sâm (họ Aralỉaceae)
50 dũing và bUio V0 tài nguyên thiên nhiên
Võ Văn ThiĩHp - Chuyên ngành động vật - KI8 14
Hình 3. Rừng xanh nhiệt đới trên núi đá vôi (Nguồn: www3.tuoỉtre.com.vn)
Thành phần thực vật trên núi đá vôi khá phong phú, chủ yếu là rừng thường
xanh, cây rụng lá chiếm tỷ lệ nhỏ. Các loài cây đặc hữu của vùng này gồm : Nghiến
(họ Tỉỉỉỉaceae), cây Kim giao (họ Podocarpaceae), cây Trai ly (họ Clusỉaceae) là
những loại gỗ quí, thường chúng có đặc điểm chung là ưa Calci, chịu hạn, ít chịu
chua. Nhiều loài vừa có bộ rễ phát triển sâu, vừa có khả năng kiềm chế thoát nước
trên mặt lá. Nhưng cũng có những loài rễ cạn, chúng sinh trưởng nhanh trong mùa
mưa ẩm và rụng lá vào mùa khô. Nơi gần đầu nguồn do hang động đưa nước từ nơi

sông, với các loài ưa nước lợ như: bần, vẹt dìa, sú, ô rô Bần có kích thước
khá lớn, cao từ 8 m đến 12 m, đường kính từ 15 đến 25 cm.
- Khu vực ven biển miền Trung : kéo dài từ Lạch Trường đến Vũng Tàu.
50 dũing và bUio V0 tài nguyên thiên nhiên
Võ Văn Thiĩhp - Chuyên ngành động vật - KI8 16
Bãi bồi hẹp, ít phù sa do bờ biển dốc, nhiều gió bão nên chỉ có những dãi rừng
hẹp ở phía trong các cửa sông, chủ yếu là các cây nhỏ, cây bụi, gồm có đước, đưng,
vẹt, sú, mấm
- Khu vực Nam Bộ từ Vũng Tàu đến Hà Tiên :
Nơi đây có nhiều bãi bồi rộng, giàu phù sa, do hệ thống sông Đồng Nai, Cửu
Long cung cấp, ít gió bão nên rừng ngập mặn phát triển tốt, nhất là ở Cà Mau. Rừng
có nhiều loài cây như : đước, dưng, vẹt, dà, mấm, dừa nước. Chúng ta có các rừng
ngập mặn ở các tỉnh : Long An, Ben Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Cà Mau và huyện
cần Giờ (TP.HCM). Riêng tỉnh Ben Tre, các rừng ngập mặn ở huyện Bình Đại,
Thạnh Phú, sau thời gian chiến tranh, đến nay phần lớn là ròng trồng mới, và mang
tính cách ròng phòng hộ môi trường hơn là kinh tế, còn ở rừng ngập mặn Ba Tri có
sân chim Mỹ Hòa, khá phong phú về giống loài động vật và thực vật : về thực vật có
59 loài, trong đó có 39 loài thực vật trồng và 20 loài hoang dại, tất cả thuộc 33 họ
(Nguyễn Thị Ngọc Ân, 1996), và 84 loài chim thuộc 35 họ (Trần Thanh Tòng,
1996).
2.2.2. Tài nguyên rừng trên Thế Giới.
Hiện nay trên Thế Giới còn khoảng 38,8 triệu km
2
chiếm khoảng 30% bền mặt
trái đất. Trong số 38,8 triệu km
2
rùng thế giới có 36,92 triệu km
2
rừng tự nhiên (95%)
và 1,87 triệu km

rừng trồng chiếm 5% diện tích rừng thế giới. Châu Á chiếm tỷ lệ lớn nhất với 62%
rừng trồng thế giới. 10 quốc gia chiếm tỷ lệ lớn nhất về rừng trồng thế giới là Trung
Quốc, Án Độ, Liên Bang Nga, Mỹ, Nhật Bản, Indonesia, Brazil, Thái Lan, Ukraina
và Cộng Hoà Iran (chiếm khoảng 80%). Các quốc gia còn lại chiếm khoảng 20%.
2.2.3. Bảo vệ tài nguyên rừng 16J, [7]
Không chỉ riêng ở Việt Nam mà năm châu bốn bể, quốc gia nào cũng có
chương trình "Gia tăng, bảo vệ và duy trì rừng” hay "Chương trình lá phổi xanh",
nhất là khi tàn phá rừng bừa bãi đang diễn ra khắp nơi và trở thành vấn nạn. Để ngăn
chặn điều này, chúng ta cần thực hiện những giải pháp sau:
về mặt pháp lý:
Tăng cường nhân lực, phương tiện, để phát hiện, ngăn chặn kịp thời và chống
trả đích đáng trước mọi hành vi côn đồ, phản kháng của bọn lâm tặc, đầu nậu gỗ lậu.
Ngay cả khi bọn chúng dùng súng, lựu đạn thì chúng ta cũng tự tin giành thế chủ
động để trấn áp, chiến thắng.
- Xây dựng khung pháp lý bắt giam, khởi tố và truy tố với những ai dám phá
hoại, đốt phá rừng bừa bãi vì tư lợi trước mắt. Mức giam có thể từ 5 năm đến
chung thân tùy theo vị trí, cấp bậc trong xã hội, hoàn cảnh sống, tùy theo rừng
bảo tồn quốc gia hay rừng tái sinh.
- Xây dựng khung pháp lý nghiêm cấm các nhân viên kiểm lâm nhận hối lộ của
bọn đầu nậu gỗ để được khai thác rừng tự do bừa bãi.
- Trang bị cho các nhân viên kiểm lâm các thiết bị hiện đại để ngăn chặn kịp thời
các vụ cháy rừng do thiên nhiên (hạn hán, sấm sét), con người gây ra
- Tạm thời đưa những cánh rừng tái sinh vào danh sách bảo tồn rừng quốc gia
trong một thời gian dài để có đủ thời gian phát triển đầy đủ, đa dạng các thảm
thực vật, loài động vật.
về mặt cộng đồng:
- Giáo dục cho cộng đồng địa phương.
50 dũing và bUio V0 tài nguyên thiên nhiên
Võ Văn Thiĩhp - Chuyên ngành động vật - KI8 18
- Dựa vào chương trinh sư phạm từ cấp trung học trở lên cho đến hết bậc ĐH. Có

Nước ta là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước vào loại trung bình
trên Thế Giới, nhưng lại có nhiều yếu tố không bền vững.
- Nước ta có khoảng 830 tỷ m
3
nước mặt, trong đó chỉ có 310 tỷ
3
được tạo ra do
mưa rơi trong lãnh thổ, chiếm 37%; còn 63% do lượng mưa ở ngoài lãnh thổ
chảy vào. Tổng trữ lượng tiềm năng nước dưới mặt đất có khả năng khai thác
ước tính 60 tỷ m
3
/năm.Nếu kể cả nước mặt và nước dưới đất trên phạm vi lãnh
thổ thì bình quân đầu người đạt 4400m
3
/người/năm, so với Thế Giới là
7400m
3
/người/năm. Theo tiêu chí đánh giá của Hội Tài nguyên nước Quốc tế
thì quốc gia nào dưới 4000m
3
người/năm là quốc gia thiếu nước. Như vậy,
nước ta là một trong những quốc gia có lượng nước bình quân đầu người /năm
vào loại trung bình khá, nhưng nếu không có biện pháp quản lý hiệu quả thì sẽ
thiếu nước trong một tương lai rất gần.
Lượng nước sản sinh từ ngoài lnãh thổ chiếm gần 2/3 tổng lượng nước có được,
rất khó chủ động, thậm chí không sử dụng được. Sự phân bố cả nước mặt và
nước dưới đất là không đều. Theo không gian, nơi có lượng mưa nhiều nhất là
Bạch Mã 8000mm/năm; Bắc Giang, Bà Nà khoảng 5000mm/năm, trong khi đó cửa
Phan Rí chỉ đạt xấp xỉ 400mm/năm. Theo thời gian, mùa lũ chỉ kéo dài 3-5
tháng, nhưng chiếm tới 70 - 80% lượng nước cả năm. Mùa

nước láng giền, trong đó có 3/13 sông thượng nguồn ở nước láng giềng, hạ
nguồn chảy sang Việt Nam. Điều này cho thấy Việt Nam không những bị ràng
buộc nguồn lợi về nước của quốc gia thứ hai, thứ ba mà thường bị bị động.
- Sự cạn kiệt tài nguyên nước ngày càng tăng. Dân số tăng, chỉ ô lượng nươc trên
đầu người giảm. Năm 1943 là 16.641m
3
/người, nếu dân số nước ta tăng lên 150
triệu người thì chỉ còn đạt 2.467m
3
/ngườ/năm xấp xỉ với các quốc gia hiếm
nước.
Mặt khác, do các quốc gia ở thượng nguồn khai thác nước các sông ngày càng
nhiều và có chiều hướng bất lợi. Thêm vào đó, nạn phá rừng ngày một tăng cao nên
đã làm nhiều sông suối khô kiệt về mùa cạn, làm tăng tốc độ xói mòn đất, tăng tính
trầm trọng của lũ lụt về mùa mưa.
- Tình trạng ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đã
trở thành vấn đề nghiêm trọng tại nhiều thành phố, thị xã, đặc biệt là tại các
thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Nội và tại các khu công
nghiệp. Ô nhiễm nước do hoạt động của nông nghiệp cũng là vấn đề nghiêm
trọng tại nhiều vùng nông thôn trong cả nước, đặc biệt là châu thổ sông Hồng
và đồng bằng sông Cửu Long.
- Hiện nay, nhu cầu sử dụng nước của nước ta ngày một gia tăng.
Chính vì những lí do đó mà nguồn tài nguyên nước của chúng ta đang
trở nên ngày một khan hiếm.
2.3.2. Tài nguyên nước trên Thế Giới [8]
Tổng lượng nước tự do trên trái đất giữa các tác giả khi tính toán có sự sai
khác. Nó dao động từ 1.385.985.OOOkm
3
(theo Lvovits, Xokolop, 1974) đến
1.457.802.450 km

8 Nước sông 1.200
9 Tuyết trên lục địa 250
Tổng cộng 1.457.302.450
(Nguồn: Theo F.Sargent)
- Nhà nước xây dựng và phổ biến các văn bẳn Luật, Nghị định, Quy định về sử
dụng và bảo vệ Tài nguyên nước, khuyến khích các công trình nghiên cứu sử
dụng tiết kiệm nước.
- Hướng dẫn các hình thức khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước đúng kỹ
thuật để bảo vệ Tài nguyên nước đồng thời điều tra, khảo sát đánh giá nguồn tài
nguyên và lập kế họach phân vùng khai thác họp lý.
- Tuyên truyền vận động và tổ chức nhiều cuộc thi về ý thức sử dụng tiết kiệm và
bảo vệ Tài nguyên nước trong nhân dân từ cấp quận đến cấp phường xã.
Trách nhiệm của người dân:
- Nêu cao ý thức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ Tài nguyên nước: Người dân phải
nhận thức được sự nghiệp bảo vệ Tài nguyên nước không chỉ cho hiện tại mà
còn vì thế hệ tương lai, do đó phải tìm hiểu và nắm vững các quy định pháp
luật về bảo vệ Tài nguyên nước thông qua báo, đài phát thanh, truyền hình và
tích cực phát huy hàng ngày ý thức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ Tài nguyên
nước.
- Nêu cao tinh thần tự giác: Tự giác chấp hành nghiêm chỉnh các quy định pháp
luật của nhà nước về bảo vệ Tài nguyên và môi trường
- Quyết tâm phối họp với Nhà nước trong công tác bảo vệ Tài nguyên nước, phát
hiện và mạnh dạn tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của nhà nước trong sử
dụng và bảo vệ Tài nguyên và Môi trường, không bao che cố tình làm trái;
Tham gia các phong trào kêu gọi hành động vì mục đích bảo vệ Tài nguyên và
Môi trường.
- Thường nạo vét sông rạch để khơi thông dòng chảy. Không lấn chiếm lòng
sông, kênh rạch để xây nhà, chăn nuôi thủy hải sản. Việc nuôi thủy sản trên các
dòng nước mặt phải theo quy hoạch.
- Trong sản xuất nông nghiệp phải có chế độ tưới nước, bón phân phù hợp. Tưới

Hoàng đàn, cẩm lai, Pơ mu,
Khu hệ động vật cũng hết sức phong phú. Hiện đã thống kê được 275 loài và
phân loài thú, 828 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch nhái, khoảng 500 loài cá
nước ngọt và 2.000 loài cá biển và hàng vạn loài động vật không xương sống ở cạn,
ở biển và nước ngọt.
Bảng 7. Sự đa dạng thành phần loài và sự suy giảm số lượng loài thực vật,
động vật
loài chim và 78 loài và phân loài thú là đặc hữu. Có rất nhiều loài động vật có giá
trị thực tiễn cao và nhiều loài có ý nghĩa lớn về bảo vệ như voi, Tê giác, Bò rừng,
Hổ, Báo, Voọc vá, Voọc xám, Trĩ, sếu, Cò quắm.
Trong vùng phụ Đông Dương (phân vùng theo địa lý động vật) có 21 loài
khỉ thì ở Việt Nam có 15 loài, trong đó có 7 loài đặc hữu của vùng phụ này. Có 49
50 dũing và bUio V0 tài nguyên thiên nhiên
Võ Văn Thiĩhp - Chuyên ngành động vật - KI8 25
Thực vật Thú Chim
Bò sát,
lưỡng cư

Nước
ngọt
Nước
mặn
số lượng loài đã biết 14.500 300 830 400 550 2000
Số lượng loài bị mất dần
500 96 57 62 90
Trong đó, số lượng loài có
nguy cơ tuyệt chủng
100 62 29
■\
Động vật giới Việt Nam có nhiêu loài là đặc hữu: hơn 100 loài và phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status