Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 1 Tiểu luận
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ
giá hối đoái thực và lãi suất thực
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 2
1. GIỚI THIỆU
Với mục đích lý giải cho sự vận động của tỷ giá hối đoái, nhiều lý thuyết trong
lĩnh vực tài chính quốc tế tin rằng có một mối liên hệ trong dài hạn giữa tỷ giá hối đoái
thực song phương (sẽ được gọi ngắn gọn là tỷ giá thực trong các phần tiếp theo) và
chênh lệch lãi suất thực. Các lý thuyết này nhìn chung đều xuất phát từ Lý thuyết
Ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) và Hiệu ứng Fisher quốc tế. Theo đó,
trong ngắn hạn tỷ giá thực có thể lệch khỏi chênh lệch lãi suất thực, nhưng nhìn về dài
hạn thì tỷ giá thực vẫn có xu hướng chịu tác động bởi lãi suất thực.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm, với nhiều phương pháp khác nhau đã cố gằng
tìm kiếm bằng chứng cho mối liên hệ này, nhưng kết quả thu được là không thống nhất
(sẽ được trình bày cụ thể bên dưới). Joseph P. Byrne và Jun Nagayasu một lần nữa
quan tâm đến vấn đề này trong bài nghiên cứu “Structural Breaks in the Real
Exchange Rate and Real Interest Rate Relationship”. Điểm nổi bật của nghiên cứu này
là các tác giả đã xem xét một cách cẩn thận vai trò của “điểm gãy cấu trúc” trong các
chuỗi dữ liệu tỷ giá thực và lãi suất thực, đồng thời mở rộng nghiên cứu với nhiều cặp
đồng tiền khác nhau. Bài nghiên cứu tìm kiếm bằng chứng của mối liên hệ trong dài
hạn giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực bằng cách nghiên cứu hai quốc gia là
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 4
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Khó khăn trong việc mô hình hóa tỷ giá hối đoái là vấn đề dai dẳng trong tài
chính quốc tế. Sau khi chế độ bản vị vàng được bãi bỏ, nhiều nghiên cứu đã tập trung
vào việc phát triển các mô hình thực nghiệm nhằm ước lượng tỷ giá hối đoái thả nổi.
Phương pháp nghiên cứu theo đó mà phát triển dần nhằm tìm kiếm một mối liên hệ
trong thực tế giữa tỷ giá thực và chênh lệch trong lãi suất thực ở các quốc gia. Nhìn
chung thì các kết quả đưa đến là không thống nhất.
Hai nghiên cứu được nhắc đến khá nhiều là của Campbell – Clarida (1987) và
Meese – Rogoff (1988). Campbell – Clarida đã kiểm tra xem liệu chênh lệch lãi suất
thực có giải thích được cho những biến động của tỷ giá thực bằng cách đánh giá giá trị
của USD so với đồng tiền của 4 quốc gia khác bao gồm Anh, Canada, Đức và Nhật
Bản trong giai đoạn 10/1979 – 3/1986. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ giá USD thực
so với các đồng tiền khác bị chi phối bởi những biến đổi bất ngờ của tỷ giá thực kỳ
vọng dài hạn, trong khi chênh lệch lãi suất thực không có tác động có ý nghĩa đến thay
đổi tỷ giá.
Meese và Rogoff thì quan tâm đến mối quan hệ trong dài hạn và kiểm định hiện
tượng đồng liên kết giữa tỷ giá thực và lãi suất thực. Dữ liệu không cho thấy một cách
rõ ràng sự phù hợp giữa chênh lệch lãi suất thực (trong ngắn hạn và dài hạn) với lãi
suất thực. Ngoài ra, hai tác giả cũng tìm được bằng chứng về tính không dừng của tỷ
giá thực và chênh lệch lãi suất thực nên phương pháp kiểm định đồng liên kết của
Engle – Granger đã được sử dụng.Tuy nhiên hai tác giả không thể bác bỏ giả thuyết H
0
không dừng của chuỗi số liệu, ví dụ nghiên cứu của Meese và Rogoff (1988), Edison
và Pauls (1993), Edison và Melick (1999). Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng dữ liệu
của tỷ giá thực và lãi suất thực trong dài hạn đều không dừng, do đó phương pháp
được sử dụng là kiểm tra hiện tượng đồng liên kết giữa các biến. Tuy nhiên, như đã
trình bày ở trên, hầu hết các nghiên cứu đều không cung cấp được bằng chứng hỗ trợ
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 6
cho mối quan hệ cân bằng giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực, ngoại trừ
nghiên cứu của Edison và Melick đưa ra được một số bằng chứng yếu.
Độ tin cậy của các giá trị kiểm định: Nhiều nhà nghiên cứu tranh luận rằng
thất bại trong việc chứng minh sự tồn tại của mối liên hệ này trong các nghiên cứu
thực nghiệm có thể là do các kiểm định thống kê không đủ mạnh (không thể bác bỏ giả
thuyết H
0
rằng không có hiện tượng đồng liên kết, mặc dù trên thực tế là có). Do đó,
để khắc phục vấn đề này, giải pháp được đưa ra là mở rộng các quan sát bằng cách mở
rộng chuỗi thời gian và mở rộng nghiên cứu trên nhiều quốc gia. Dữ liệu bảng được sử
dụng để đáp ứng mục đích này, ví dụ như nghiên cứu của Chortares và Driver (2001)
đã thành công trong việc cung cấp bằng chứng về mối liên hệ đồng liên kết giữa tỷ giá
và chênh lệch lãi suất khi xem xét mối quan hệ mậu dịch song phương giữa 11 nền
kinh tế mở, nhỏ. Tuy nhiên, nếu chỉ xét riêng dữ liệu bảng của các quốc gia thuộc khối
G7 thì các tác giả lại không tìm được bằng chứng cho mối liên hệ này. Nghiên cứu
khác của MacDonald và Nagayasu (2000) tìm được bằng chứng của hiện tượng đồng
liên kết đối với dữ liệu bảng bao gồm 14 quốc gia công nghiệp, giai đoạn Q1/1976 đến
Q4/1997. Hiện tượng đồng liên kết được kiểm định theo phương pháp của Johansen
(1988 - đối với từng quốc gia riêng biệt) và của Pedroni (1997 – đối với toàn bộ bảng
dữ liệu).
Sự tồn tại của các điểm gãy cấu trúc: Campbell và Perron (1991) chỉ ra rằng
việc kiểm soát các điểm gãy cấu trúc bất cứ khi nào chúng ta nghi ngờ có sự xuất hiện
của chúng là cần thiết. Ví dụ, nghiên cứu của Edison và Melick (1999) do có nhấn
mạnh đến tính không dừng của chuỗi dữ liệu và điểm gãy cấu trúc, tuy không cho thấy
bằng chứng của hiện tượng đồng liên kết giữa tỷ giá thực và lãi suất thực trong ngắn
hạn nhưng trong dài hạn thì có xuất hiện vector đồng liên kết, tức là cho thấy một kết
quả tốt hơn so với các nghiên cứu trước . Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện điểm gãy
không được xác định một cách nội sinh, và giá trị tới hạn của kiểm định Johansen sử
dụng trong nghiên cứu này chưa được điều chỉnh phù hợp với sự xuất hiện của điểm
gãy cấu trúc. Gần đây, Saikkonen và Lütkepohl (2000, 2002) đề xuất một phương
pháp tiếp cận nhằm kiểm định mối quan hệ cân bằng giữa các biến bằng mô hình
vector tự hồi quy có kèm sự thay đổi cấu trúc, đồng thời sử dụng mô hình Bình
phương nhỏ nhất tổng quát (GLS) để loại bỏ thành phần xu hướng.
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 8
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu
3.1.1 Dữ liệu dùng trong nghiên cứu Anh – Mỹ
Dữ liệu được lấy từ dữ liệu thống kê tài chính toàn cầu của IMF (IFS). Đây là
dữ liệu theo tháng, khung thời gian từ tháng 1/1973 – 5/2005. Tỷ giá thực (q
t
trong
phương trình 1) giữa bảng Anh và dollar Mỹ tính bằng log của tỷ giá cuối kì. Lãi suất
thực (r
t
) được tính bằng lãi suất danh nghĩa ngắn hạn trừ lạm phát kỳ vọng. Hai chuỗi
dữ liệu của lạm phát kỳ vọng, tiền nghiệm (Δp
t+1
(1993). Hai thành phần chính của mô hình này là UIP và điều kiện cân bằng Fisher.
Từng thành phần sẽ được thiết lập trước khi xây dựng thành một phương trình có thể
ước lượng.
Đầu tiên, tỷ giá hối đoái thực (q
t
) được định nghĩa như sau:
q
t
= s
t
– p
t
+ p
t
*
(1)
Trong đó:
s
t
là logarit tự nhiên (ln) của tỷ giá giao ngay danh nghĩa (số đơn vị nội tệ
đổi một đơn vị ngoại tệ)
p
t
và p
t
*
tương ứng với logarit tự nhiên của chỉ số giá nội địa và nước
ngoài.
Từ ( 1) có thể suy ra : E
t
+ u
t
(2)
Với: i
t
và i
t
*
là lãi suất danh nghĩa trong nước và nước ngoài
E
t
s
t+1
là kỳ vọng tại thời điểm hiện tại về tỷ giá hối đoái thời kỳ tới
u
t
là phần bù rủi ro tỷ giá.
Thay tỷ giá hối đoái danh nghĩa kỳ vọng E
t
s
t+1
từ (1’) vào (2):
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 10
E
t
q
t+1
(4)
E
t
Δp
*
t+1
= E
t
p
*
t+1
– p
t
*
(5)
Lãi suất thực (tiền nghiệm) bằng lãi suất danh nghĩa trừ lạm phát kỳ vọng:
r
t
= i
t
– E
t
Δp
t+1
(6)
r
t
*
= i
t
+ E
t
Δp
t+1
) – (r
t
*
+ E
t
Δp
*
t+1
) + u
t
(8)
Rút gọn (8), những thay đổi kỳ vọng trong tỷ giá hối đoái thực được biểu diễn qua
biểu thức:
E
t
q
t+1
– p
t
*
+ p
t
– s
t
= r
t
t+1
+ u
t
(11)
Vấn đề trong phương trình (11) là giá trị kỳ vọng của tỷ giá thực không có sẵn.
Một số phương pháp đã được đề xuất trong các nghiên cứu trước đây: Meese và
Rogoff (1988) đề xuất sử dụng lũy kế của cán cân thương mại và một hằng số; ngoài
ra sự phụ thuộc vào thời gian của tỷ giá hối đoái thực kỳ vọng có thể được thể hiện
bằng một biến giả nếu như giá trị cân bằng không thay đổi một cách thường xuyên.
Meese và Rogoff (1988), Edison và Pauls (1993), và Baxter (1994) giả định tỷ giá hối
đoái thực kỳ vọng là hằng số, bài nghiên cứu này đã vận dụng theo cách này vì tính
đơn giản. Sự thất bại trong việc chứng minh cho mối liên hệ dài hạn giữa tỷ giá thực
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 11
và chênh lệch lãi suất thực đặt ra yêu cầu nghiên cứu sâu hơn về giả định liên quan đến
tỷ giá hối đoái thực kỳ vọng này. Từ phương trình (11) có:
q
t
= r
t
+
*
r
t
*
+ constant + u
t
(12)
Lấy sai phân bậc 1 phương trình (13):
(14)
Trong đó . Để ước tính các hệ số, , ta tối thiểu hóa tổng
bình phương sai số tổng hợp của phương trình:
(15)
Trong đó :
Y=[y
1
, y
2
,…, y
T
]’
Z=[Z
1
:Z
2
:Z
3
] với Z
1
=[1,0,….,0]’, Z
2
=[1,1,….,1]’,
Z
3
=[ , ,…., ]’
V=[v
1
, v
của kiểm định nghiệm đơn vị.
Để đảm bảo tỷ giá có chứa ít nhất một điểm gãy cấu trúc có ý nghĩa thống kê,
các tác giả tiến hành thêm một kiểm định được phát triển bởi Bai và Perron (1998).
Mục đích của kiểm định này là nhằm xác định xem liệu có bao nhiêu điểm gãy cấu
trúc trong chuỗi dữ liệu. Bài nghiên cứu này sử dụng kiểm định cực đại kép (double
maximum tests) (kiểm định UD max và WD max) với giả thiết H
0
là không có thay đổi
cấu trúc, trong khi H
1
là dữ liệu có chứa thay đổi cấu trúc (nhưng số lượng là chưa
biết). Sau đó, các tác giả sử dụng kiểm định SupF (i+1| i) để xác định số lượng điểm
gãy cụ thể trong dữ liệu. Theo đó sẽ kiểm định giả thuyết H
0
là có i sự thay đổi cấu
trúc, H
1
là có i+1 thay đổi, đây là kiểm định tuần tự với i nhận giá trị lần lượt từ 1 - 4.
3.4 Kiểm định hiện tượng đồng liên kết
Nếu dữ liệu không dừng, ta sẽ phân tích mối liên hệ có thể có trong dài hạn
giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực bằng các phương pháp phù hợp với dữ liệu
không dừng. Cụ thể, các tác giả tiến hành 3 kiểm định hiện tượng đồng liên kết: kiểm
định Trace của Johansen (1988, 1995) và 2 kiểm định của Saikkonen – Lütkepohl
(2000) ứng với 2 trường hợp là có và không có xét đến điểm gãy cấu trúc. Kiểm định
Johansen là kiểm định tiêu chuẩn cho hiện tượng đồng liên kết, sử dụng một hệ
phương trình. Giá trị thống kê của tỷ số Likelihood (LR) trong kiểm định Johansen
không tuân theo phân phối chuẩn trong trường hợp giả thuyết H
0
, và phụ thuộc vào
hiệu số của K-r (K là số lượng biến và r là số lượng vector đồng liên kết theo giả
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 15
4. Kết quả nghiên cứu
4.1 Kết quả nghiên cứu trong trường hợp Anh – Mỹ
4.1.1 Kết quả của kiểm định tính dừng và xác định điểm gãy cấu trúc
Kết quả của các kiểm định nghiệm đơn vị ADF và S&L được tóm tắt trong
Bảng 1 ở trên, trong đó độ trễ được xác định bởi Akaike Information Criterion (AIC)
(Vì mục tiêu nghiên cứu ở giai đoạn này là xây dựng các mô hình tổng quát nên AIC
được sử dụng chứ không phải là Schwarz-Bayesian Information Criterion, theo gợi ý
của Lanne, Lűtkepohl và Saikkonen (2002)).
Theo kiểm định ADF, các trị thống kê tính toán được đều nhỏ hơn giá trị tới
hạn ở mức ý nghĩa 5% (tính theo giá trị tuyệt đối). Do đó, chúng ta không thể bác bỏ
giả thuyết H
0
: Tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực (tiền nghiệm/ hậu nghiệm) của Anh
và Hoa Kỳ là chuỗi không dừng. Điều này phù hợp với bằng chứng trong nghiên cứu
của Edison và Pauls (1993) và Chortareas và Driver (2001).
Kiểm định nghiệm đơn vị S&L cho thấy bằng chứng tỷ giá thực và lãi suất thực
của Mỹ là không dừng. Tuy nhiên, ở đây có bằng chứng về tính dừng của lãi suất thực
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 16
ở Anh. Tính không dừng của ít nhất hai biến tỷ giá thực và lãi suất thực ở Mỹ cho thấy
mối quan hệ dài hạn trong phương trình (12) có thể vẫn cân bằng.
Điểm gãy có được từ kiểm định S&L cũng được trình bày trong Bảng 1. Với
trong các phân tích tiếp theo.
Đồng thời, như đã được nhắc đến ở phần phương pháp nghiên cứu, kiểm định
của Bai – Perron (1998) sẽ được tiến hành thêm để chắc chắn là chuỗi dữ liệu tỷ giá
thực có chứa điểm gãy cấu trúc. Kết quả kiểm định cực đại kép cho thấy có thể bác bỏ
giả thuyết H
0
tại mức ý nghĩa 10% ( do giá trị kiểm định của UD max là 7,97 > 7,46 và
giá trị kiểm định của WD max tại 10% là 13,872 > 8,2 – trong đó 7,46 và 8,2 là giá trị
tới hạn ở mức ý nghĩa 10% ). Kết quả này đồng nghĩa với việc chuỗi tỷ giá thực có
chứa ít nhất một điểm gãy cấu trúc. Kết quả từ kiểm định SupF chỉ ra có duy nhất một
sự thay đổi cấu trúc. Các giá trị kiểm định trên được thể hiện ở Bảng 2.
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 18
4.1.2 Kiểm định hiện tượng đồng liên kết
Các tác giả tiến hành 3 kiểm định hiện tượng đồng liên kết, và kết quả từ 3
kiểm định này cho thấy vai trò to lớn của điểm gãy cấu trúc, có thể ảnh hưởng trực tiếp
đến kết quả của phân tích đồng liên kết.
i) Kiểm định Trace của Johansen
Bảng 3 trình bày kết quả kiểm định dựa trên phương pháp truyền thống
(Johansen Trace test). Xét các giá trị P- values trong [.], giá trị nhỏ nhất cũng là 0,109,
tức là chúng ta không thể bác bỏ H
0
: không có hiện tượng đồng liên kết, thậm chí ở
Johansen và kiểm định S&L chưa hiệu chỉnh, Bảng 5 cho thấy bằng chứng mạnh mẽ
của hiện tượng đồng liên kết giữa tỷ giá thực và lãi suất thực, do có thể bác bỏ H
0
: r =
0 ở mức ý nghĩa 5% cho trường hợp lạm phát tiền nghiệm, và ở mức ý nghĩa 6% đối
với lạm phát hậu nghiệm ( p-value lần lượt là 0,031 và 0,059).
Như vậy, một trong những lí do quan trọng dẫn đến thất bại trong việc chứng
minh bằng thực nghiệm mối tương quan dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực của
những nghiên cứu trước là do chưa quan tâm đến những điểm gãy cấu trúc của dữ liệu.
4.1.3 Mối quan hệ trong dài hạn và tính bền vững
Với sự hiện diện của hiện tượng đồng liên kết đã chứng minh ở trên, chúng ta
có thể thực hiện ước lượng mô hình VECM (Mô hình vector hiệu chỉnh sai số) để thu
được các hệ số ước lượng dài hạn của mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái thực.
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 21
Mô hình VECM được ước lượng dựa trên một vector đồng liên kết, bởi “phương pháp
hai giai đoạn” được đề nghị bởi S&L. Giai đoạn đầu là ước lượng mối quan hệ dài
hạn. Vì chỉ có một vector đồng liên kết được tìm thấy từ kiểm định S&L nên VECM
sẽ sử dụng 1 phương trình, ước lượng bằng phương pháp OLS. Giai đoạn thứ hai sẽ
ước lượng mô hình tổng thể bằng phương pháp OLS, trong đó bao gồm vector đồng
liên kết đã được xác định trong giai đoạn đầu cũng như các biến ngoại sinh. Ước lượng
của các tác giả đối với vector đồng liên kết trong dài hạn được trình bày trong Bảng 6.
Độ trễ thích hợp được xác định bởi AIC, và kiểm định t được thể hiện trong ngoặc.
Các ước lượng trên đều phù hợp với mối quan hệ giữa chênh lệch lãi suất thực
và tỷ giá thực: tỷ giá thực tương quan ngược chiều (cùng chiều) với lãi suất thực của
Anh (Mỹ), hàm ý rằng một sự gia tăng trong lãi suất thực của Anh dẫn đến việc định
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 23
i) Kết quả từ kiểm định tính dừng và điểm gãy cấu trúc
Bảng 7 là kết quả của kiểm định ADF và kiểm định S&L đối với các chuỗi dữ
liệu tỷ giá thực và lãi suất thực ở tất cả các quốc gia. Trong 48 chuỗi dữ liệu được
kiểm định, có 3 chuỗi thể hiện tính dừng, điều này là hợp lí do các tác giả tiến hành
khá nhiều kiểm định nghiệm đơn vị.
Về thời điểm xác định điểm gãy cấu trúc, nhiều quốc gia (như Áo, Bỉ, Đức, Hà Lan
và Tây Ban Nha) cho thấy điểm gãy cấu trúc xảy ra vào đầu năm 1991, phản ánh việc
thống nhất Tây Đức và Đông Đức (vào khoảng cuối năm 1990). Với Ý, Thụy Điển và
Phần Lan thì điểm gãy lãi suất thực xảy ra vào cuộc khủng hoảng năm 1992
của European Exchange Rate Mechanism (ERM).
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 24
ii) Kết quả từ kiểm định hiện tượng đồng liên kết
Trong bảng 8, các tác giả xem xét xem liệu có bằng chứng về mối quan hệ trong dài
hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực ở các quốc gia trong mẫu hay không. Sử dụng
kiểm định Johansen, kết quả cho thấy bằng chứng về mối quan hệ đồng liên kết ở đa
số các quốc gia (9 trong 12 trường hợp) tại mức ý nghĩa 10%. Kết quả này hỗ trợ tốt
hơn cho mối quan hệ tỷ giá thực-lãi suất thực so với các nghiên cứu trước, và là do sự
hội nhập kinh tế - tài chính đặc thù ở Châu Âu.
Đối với 3 trường hợp không xuất hiện hiện tượng đồng liên kết theo kiểm định
của Johansen (cụ thể là ở Áo, Hà Lan và Thụy Sĩ), các tác giả tiếp tục tiến hành kiểm
Điểm gãy cấu trúc trong mối liên hệ tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 19 – TCDN Đêm 4 – K2 Trang 25