Tiểu luận Đông Y
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
Chương I: TỔNG QUAN 4
1.Khái quát chung 4
2.Tần suất bệnh 5
3.Vị trí của sỏi 7
4.Biến chứng 8
5.Chẩn đoán 10
6.Mức độ nguy hiểm 10
7.Điều trị 11
8.Các dạng bệnh 11
9. Phòng ngừa 12
Chương II: ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT BẰNG ĐÔNG Y 14
1.Khái quát chung 14
2.Chữa trị cổ phương 16
2.1. Bài thuốc chung 16
2.2. Các bài thuốc cụ thể 18
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
PHỤ LỤC: THÀNH PHẦN, CÔNG DỤNG CỦA CÁC VỊ THUỐC
CHÍNH
23
MỞ ĐẦU
Ở nước ta, khí hậu nhiệt đới, bệnh sỏi đường mật vừa phổ biến vừa đặc
thù. Đặc thù ở chỗ nó liên quan sâu sắc đến ký sinh trùng đường ruột và các
thức ăn người Việt thích dùng rau sống, các loại mắm sống, gỏi sống, thức ăn
tái chưa chín giun đũa là bệnh có tỷ lệ cao trong cộng đồng, giun đi từ ruột
Nguyễn Quốc Ân Page 1
Tiểu luận Đông Y
non chui lên ống mật chủ gây đau bụng quằn quại, xác giun đũa chết cũng gây
là ống mật chủ để dẫn xuống ruột. Túi mật là một túi chứa bên cạnh ống
Nguyễn Quốc Ân Page 3
Tiểu luận Đông Y
mật chủ, nối thông với ống mật chủ bởi một ống nhỏ. Túi mật có nhiệm vụ
dự trữ dịch mật để tống xuất từng đợt qua ống mật chủ xuống ruột khi có
thức ăn vào đường tiêu hoá (giúp tiêu hoá thức ăn). Sỏi mật có thể ở túi
mật hoặc đường mật chính trong gan đến ngoài gan. Sỏi túi mật khác với
sỏi đường mật chính về bệnh lý cũng như cách điều trị.
Sỏi đường mật là bệnh của mọi xứ sở. Tỉ lệ mắc bệnh của mỗi nước một
khác, nhưng thướng là rất cao. Ở Việt Nam, tuy chưa có công trình nghiên
cứu dịch tễ học nào cho biết tỉ lệ mắc bệnh trong dân số, nhưng số bệnh nhân
được điều trị ờ bệnh viện rất nhiều và vì vậy các công trình về bệnh này
không ít.
Ở Hà Nội, trong một bài báo của tờ Revue Médico- Chirurgicale năm
1934 và trong một thông báo của tờ socíeté Medico- Chirurgicale de
lindochine năm 1935, Massisas đã nói: phải chú ý tím sỏi đường mật, một
bệnh gặp ở nhiều người bản sứ, những người mà nồng độ cholesterol trong
máu thấp. Rotton sau khi thông báo những bệnh án lâm sàng, đề nghị cần phải
nghiên cứu bệnh sỏi đường mật ở Nam kỳ. Năm 1937, tại bệnh biện Phủ Doãn
Hà Nội (nay là bệnh viện Việt Ðức) có công trình của Huard P., Autret, Tôn
Nguyễn Quốc Ân Page 4
Tiểu luận Đông Y
Thất Tùng
(18)
"Nghiên cứu về sỏi gan mật ở vùng viễn đông" đăng trong
Bulletin Médico-Chirurgical de lIndochine.
Các công trình dài hơi có số liệu lớn thực sự bắt đầu từ sau ngày hòa
bình lập lại, năm 1954. Từ đó đến nay, trong hơn 40 năm qua có rất nhiều tài
liệu, rất nhiều hội nghị chuyên đề bàn về vấn đề này, với số lượng bệnh nhân
khá lớn. Trong hai ngày 21-22 tháng 1/1988 bệnh viện Việt Ðức đã tổ chức
thì số liệu sẽ rất lớn.
Những năm gần đây kết quả của các công trình về siêu âm cũng cho
những con số về bệnh gan mật khá lớn. Tại khoa siêu âm bệnh viện Hai Bà
Trưng - Hà Nội, trong 5 năm 1989-93, trên 5723 siêu âm bụng có 1711 người
có bệnh gan mật, tỉ lệ 29,9%. Tại bệnh viện Việt Ðức trong 2 năm 1990-1991
có 1086 bệnh nhân gan mật thì có 214 bệnh nhân giun chui ống mật, tỉ lệ
19,75 và trong 214 giun chui ống mật thì 108 trường hợp có sỏi kèm theo
(29)
.
Tại Bệnh viện Khán Hòa trong 6 năm 1987-92 qua siêu âm phát hiện 672
bệnh nhân sỏi túi đường mật
(11)
.
Các con số bệnh nhân phẫu thuật và bệnh nhân siêu âm nói trên chứng
tỏ sỏi đường mật là bệnh rất phổ biến ở nước ta.
3. Vị trí của sỏi
Nguyễn Quốc Ân Page 6
Tiểu luận Đông Y
Tỉ lệ vị trí sỏi của các tác giả rất khác nhau vì nó phụ thuộc vào phương
tiện chẩn đoán : x quang, siêu âm hay phẫu thuật. Nếu là phẫu thuật thì phụ
thuộc vào trang bị dụng cụ và vào trình độ phẫu thuật viên.
Trong những năm trước, tất cả các thống kê cho thấy :
+ Sỏi túi mật: Có tỉ lệ rất thấp, chỉ khoảng 10%, trong khi đó các tác giả
phương tây cho tỉ lệ khá cao, khoảng 60%.
+ Sỏi ống mật chủ: Có tỉ lệ rất cao, 80%-90%, tỉ lệ này cao hơn nhiều so với
tài liệu của các nước phương tây. Người ta cho rằng sở dĩ cao như vậy là vì
trong đa số các trường hợp nguyên nhân tạo sỏi ở các nước vùng nhiệt đới là
ký sinh trùng đường ruột, thành phần chính của sỏi là sắc tố mật và muối mật.
+ Sỏi trong gan: Ở nước ta có tỉ lệ khá cao, đặc biệt là ở những bệnh viện có
nhiều kinh nghiệm mổ đường mật vì nhận định sỏi trong gan trong khi mổ
(45)
trên 463 bệnh nhân nghẹt đường
mật trong 10 năm 1975-1984 thấy 95 trường hợp có sốc nhiễm trùng, tỉ lệ
20% tử vong 42%. Năm 1990 Hoàng Tiến
(52)
trên 107 trường hợp sốc nhiễm
trùng đường mật đã làm luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú "Tình hình điều trị
sỏi mật có biến chứng sốc tại bệnh viện Chợ Rẫy 1986-1990", tử vong chung
là 41%, tử vong của nhóm có mổ là 27,6%, của nhóm không mổ là 100%.
Năm 1992 trên 174 bệnh nhân sốc nhiễm trùng đường mật, Ðỗ Kim Sơn
(43)
có
kết quả như sau : Không mổ chết 94% (33/35), mổ cấp cứu ngay chết 805
(29/36), mổ cấp cứu muộn chết 43% (45/103).
+ Chảy máu đường mật: Chảy máu đường mật là biến chứng không hiếm.
Nguyên nhân chảy máu đường mật của Việt Nam khác hẳn với các nước
Nguyễn Quốc Ân Page 8
Tiểu luận Đông Y
phương tây. Chảy máu đường mật ở các nước phương tây là do những dị dạng
các mạch máu trong gan. Ở Việt Nam hầu hết là vì nhiễm trùng đường mật do
sỏi. Tôn Thất Tùng
(53)
dùng từ chảy máu đường mật nhiệt đới (hémobilies
tropicales). Với số lượng khá lớn 114 bệnh nhân trong 15 năm 1957-1971 tác
giả có nhiều đóng góp về lý luận và thực tiễn trong điều trị chảy máu đường
mật nhiệt đới : 62 bệnh nhân chỉ dẫn lưu đường mật không kèm thắt động
mạch gan, tử vong 26, tỷ lệ 42%, 40 bệnh nhân dẫn lưu đường mật kèm thắt
động mạch gan, tử vong 7, tỷ lệ 17,5%. Vũ Duy Thanh
(48)
trong 10 năm 1967-
hoàn toàn không có triệu chứng.
Lâm sàng có thể chẩn đoán được sỏi ống mật chủ với tam chứng charcot
điển hình. Bệnh nhân đến khám bệnh vì những cơn đau lăn lộn vùng dưới
sườn phải kèm theo sốt và vàng da .
Triệu chứng của sỏi đường mật trong gan rất thất thường và không rỏ rệt.
6. Mức độ nguy hiểm
Tử vong của sỏi túi mật tuy thấp nhưng không phải là hiếm, hầu như chỉ
xảy ra ở những bệnh nhân đến trong tình trạng cấp cứu vì viêm túi mật cấp
tính do sỏi mà không được chẩn đoán kịp thời và xử trí thích hợp.
Tử vong của sỏi đường mật chính: Tử vong của sỏi đường mật chính là con
số đáng kể. Tử vong tập trung chủ yếu vào nhóm nhiễm trùng nặng, có sốc, có
suy thận cấp, nhóm chảy máu đường mật
Sỏi mật thường có các triệu chứng: đau bụng vùng hạ sườn phải, đau lên
vai phải; sốt cao liên tục có rét run; vàng da, có thể có ngứa; có thể có gan to,
túi mật to Sỏi mật có thể gây ra các biến chứng như: viêm túi mật cấp, viêm
màng bụng mật, viêm đường mật, túi mật tích nước, xơ gan ứ mật.
7. Điều trị
Nguyễn Quốc Ân Page 10
Tiểu luận Đông Y
Tây y điều trị sỏi mật bằng nội khoa, hoặc ngoại khoa (phẫu thuật) - nếu
đau dữ dội hoặc tái phát nhiều lần thì phẫu thuật cắt bỏ túi mật hoặc mổ ống
mật chủ yếu lấy hết sỏi và sau đó dẫn lưu.
Ngoài ra, sỏi mật có thể điều trị bằng y học cổ truyền. Tùy theo thể bệnh
mà có những bài thuốc trị khác nhau.
8. Các dạng bệnh
8. 1. Bệnh sỏi ống mật chủ:
Phương Tây ít có bệnh sỏi ống mật chủ còn ở nước ta thì khá cao. Sỏi
thường mềm do mật kết thành, người ta nghĩ đến sự ứ trệ của đuờng mật phối
hợp với nhiễm trùng mật có khuynh hướng hình thành sỏi ống mật chủ. Khởi
đầu có thể thấy đau bụng vùng dưới gan hay trên rốn, sốt nhẹ hay không bị
- Ăn uống hợp điều độ hợp vệ sinh, khẩu phần ăn đủ dinh dưỡng ít chất béo
- Xổ giun định kỳ
- Khi có sỏi mật nên đến khám và tư vấn ở cơ sở chuyên khoa phẫu thuật gan
mật.
- Đối với sỏi trong gan, khả năng tái phát cao. Hiện nay người ta chưa thể
chủ động ngặn chặn sỏi tái phát nhưng có những phẫu thuật tạo đường hầm
can thiệp lâu dài để khi sỏi tái phát có thể dễ dàng theo đường hầm này lấy
sỏi.
Nguyễn Quốc Ân Page 12
Tiểu luận Đông Y
.
Chương II: ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT BẰNG
ĐÔNG Y
Nguyễn Quốc Ân Page 13
Tiểu luận Đông Y
1. Khái quát chung
Sỏi đường mật là những bệnh lý thường gặp ở nước ta và đang có xu
hướng gia tăng. Với những căn bệnh này, tuỳ theo bệnh trạng cụ thể của mỗi
bệnh nhân, y học hiện đại có thể trị liệu bằng các biện pháp nội khoa hoặc
ngoại khoa. Tuy nhiên, trong không ít trường hợp, điều trị nội khoa tỏ ra kém
hiệu quả buộc phải thực hiện các cuộc phẫu thuật, nhưng tỷ lệ tái phát sau mổ
cũng không phải là thấp. Bởi vậy, việc đi sâu nghiên cứu, bào chế, thử nghiệm
và ứng dụng các loại thuốc mới có khả năng làm tan sỏi và phòng ngừa tái
phát là hết sức cần thiết.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển thế mạnh kho tàng kinh nghiệm của y học
cổ truyền phương Đông trong trị liệu các chứng bệnh thạch lâm, huyết lâm,
đảm chướng, hiếp thống, hoàng đản, là những bệnh tương ứng với các bệnh
danh sỏi tiết niệu, sỏi mật, viêm đường tiết niệu, viêm đường mật, của y học
hiện đại, các nhà nghiên cứu đông y và đông dược trong nước đã tiến hành
khảo sát nhiều vị thuốc và bài thuốc, ứng dụng công nghệ hiện đại để tạo ra
ngoài gây vàng da, vàng mắt, cơ chế sinh sỏi mật chủ yếu là thấp nhiệt ứ đọng
can đởm.
Kim tiền thảo - Nhân trần - Hương phụ
Nguyễn Quốc Ân Page 15
Tiểu luận Đông Y
2.Chữa trị cổ phương
2.1. Bài thuốc chung
Điều trị sỏi mật theo y học cổ truyền có nhiều thể khác nhau. Các bài
thuốc y học cổ truyền có hiệu quả rõ rệt nhất với các trường hợp viêm túi mật
và sỏi mật thông thường (khí trệ) hoặc có vàng da, sốt (thấp nhiệt). Đông y
cũng có tác dụng ngăn ngừa tái phát sau khi phẫu thuật lấy sỏi.
Sỏi mật, viêm đường dẫn mật là bệnh mạn tính, hay tái phát với các
triệu chứng chủ yếu là: đau vùng hạ sườn phải, sốt, vàng da. Trên lâm sàng,
bệnh được chia làm 4 thể:
- Thể khí trệ hay khí uất tương ứng với chứng viêm túi mật và sỏi mật đơn
thuần.
- Thể thấp nhiệt tương ứng với chứng viêm và sỏi mật có sốt cao, vàng da
nhiều.
- Thể thực hỏa tương ứng với chứng viêm túi mật hóa mủ, nhiễm trùng, nhiễm
độc.
- Thể chính hư tà hãm tương ứng với chứng nhiễm độc do viêm phúc mạc tràn
mật.
Phương pháp điều trị viêm đường mật và sỏi mật bằng Đông y khá
phong phú; nhưng chúng hầu như và chỉ thích hợp với thể khí trệ và thấp
nhiệt. Ngoài ra, sau khi phẫu thuật điều trị sỏi đường mật, có thể dùng thuốc
Đông y để phòng bệnh tái phát.
Nguyễn Quốc Ân Page 16
Tiểu luận Đông Y
Thể khí trệ
phép trị là "sơ can lợi đởm, lý khí chỉ thông", bài thuốc gồm các vị: sài hồ 6g,
chỉ xác 9g, bạch thược 9g, xuyên khung 6g, hương phụ 9g, cam thảo 3g,
xuyên luyện tử 9g, diên hồ sách 9g, kim tiền thảo 30g.
-Với thể can đởm thấp nhiệt
Biểu hiện: Sườn phải trướng đau kéo dài hoặc từng cơn, đau lan lên vai,
sốt cao sợ rét, miệng đắng, họng khô, buồn nôn, nôn, rêu lưỡi vàng nhớt, thì
phép trị là "thanh nhiệt hóa thấp, lợi đởm bài thạch", bài thuốc gồm các vị:
kim tiền thảo 6g, nhân trần 15g, uất kim 9g, chỉ xác 9g, mộc hương 9g, hổ
trượng căn 9g, bồ công anh 30g, liên kiều 12g, diên hồ sách 9g, kê nội kim 6g.
-Với thể huyết ứ nhiệt kết
Biểu hiện: sườn phải nhói đau kéo dài nhiều ngày, sốt, rét, đêm nặng
hơn, vùng đau có thể sờ thấy u cục, bụng trướng, đại tiện táo, môi có ban ứ,
chất lưỡi tím, thì phép trị "hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt công hạ", bài thuốc
gồm: đào nhân 9g, sinh địa hoàng 9g (cho sau), cam thảo 6g, mang tiêu 9g,
diên hồ sách 9g, nhân trần 12g, kim tiền thảo 30g.
Nguyễn Quốc Ân Page 18
Tiểu luận Đông Y
-Với thể nhiệt độc nội thịnh
Biểu hiện: bụng sườn quặn đau trướng đầy không dám đụng vào, sốt
cao rét run, đại tiện táo, tiểu tiện đỏ, ra nhiều mồ hôi, nặng thì hôn mê nói
sảng, chất lưỡi đỏ sẫm, thì phép trị là "thanh nhiệt giải độc, hóa ứ chỉ thống",
bài thuốc gồm: nhân trần 15g, sơn chi 9g, đại hoàng 6g, kim ngân hoa 9g, liên
kiều 12g, bồ công anh 30g, tử hoa địa đinh 30g, đan bì 9g, xích thược 9g.
Cách sắc các bài thuốc trên: cho các vị thuốc vào 750 ml nước, nấu còn 250
ml, chia uống 3 - 4 lần dùng trong ngày
KẾT LUẬN
Ở nước ta, khí hậu nhiệt đới, bệnh sỏi đường mật vừa phổ biến vừa đặc
thù. Sỏi đường tiết niệu nói chung, sỏi thận nói riêng là một bệnh phổ biến ở
nước ta.
Nguyễn Quốc Ân Page 19
5. Một số nguồn tài nguyên trên internet
PHỤ LỤC: THÀNH PHẦN, CÔNG DỤNG CỦA CÁC VỊ THUỐC
CHÍNH TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH
1. KIM TIỀN THẢO
Tên Khác:
Nguyễn Quốc Ân Page 21
Tiểu luận Đông Y
Vị thuốc Kim tiền thảo còn gọi Bạch Nhĩ Thảo, Bản Trì Liên, Biến Địa
Hương, Biến Địa Kim Tiền, Cửu Lý Hương, Nhũ Hương Đằng, Phật Nhĩ
Thảo, Thiên Niên Lãnh (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Đại Kim Tiền
Thảo, Giang Tô Kim Tiền Thảo, Quá Lộ Hoàng, Quảng Kim Tiền Thảo, Tứ
Xuyên Đại Kim Tiền Thảo (Trung Dược Học), Đồng Tiền Lông, Mắt Rồng,
Mắt Trâu, Vảy Rồng ( Việt Nam).
Tác Dụng:
+Thanh nhiệt, lợi thủy, tiêu sạn, giải độc, tiêu
viêm (Trung Dược Học).
+Lợi thủy, thông lâm, tiêu tích tụ (Đông Dược
Học Thiết Yếu).
Chủ Trị:
+ Trị các chứng nhiệt lâm, thạch lâm, sỏi mật, hoàng đản, ung nhọt do
nhiệt độc (Trung Dược Học).
+Trị gan mật kết sỏi, sỏi Thận, tiểu buốt, hoàng đản (Đông Dược Học
Thiết Yếu).
Liều Dùng: 20-40g.
Kiêng Kỵ:
+Tỳ hư, tiêu chảy: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
-Đơn Thuốc Kinh Nghiệm:
Nguyễn Quốc Ân Page 22
Tiểu luận Đông Y
+Trị sạn mật: Chỉ xác (sao) 10-15g, Xuyên luyện tử 10g, Hoàng tinh
Tác Dụng Đối Với Sỏi, Sạn: nước sắc Kim tiền thảo liều cao ( trên 80g),
thường được dùng trị sạn ở mật hoặc đường tiểu.
Tính Vị:
+Vị ngọt, tính hàn (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+Theo Trung Dược Học:
.Loại của Giang Tô: vị đắng, cay, tính mát.
.Loại của Quảng Đông: Vị ngọt, nhạt, tính bình.
.Loại của Tứ Xuyên: vị hơi mặn, tính bình.
+Vị ngọt, đắng, tính hơi hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Quy Kinh:
+Vào kinh Phế, Can, Bàng quang (Trung Dược Học).
+Vào kinh Can, Bàng quang (Đông Dược Học Thiết Yếu).
2. UẤT KIM
Nguyễn Quốc Ân Page 24
Tiểu luận Đông Y
Tên khác: Uất kim
Vị thuốc uất kim còn gọi là Mã thuật (Tân Tu Bản Thảo, Ngũ đế túc,
Hoàng uất, Ô đầu (Thạch Dược Nhĩ Nhã), Ngọc kim (Biệt Lục), Thâm
hoàng, Uất sưởng, Kim mãu thuế (Hòa Hán Dược Khảo), Nghệ (Dược Liệu
Việt Nam).
Tác dụng, chủ trị: Uất kim
+ Năng khai Phế kim chi uất [Khai uất ở Phế Kim] (Bản Thảo Tùng Tân).
+ Hành khí, giải uất, phá ứ, lương Tâm nhiệt, tán Can uất. Trị phụ nữ kinh
mạch đi nghịch (Bản Thảo Bị Yếu).
+ Hoạt huyết, chỉ thống, hành khí, giải uất. Trị hông sườn đau, thống kinh,
kinh nguyệt không đều, các chứng trưng, hà, tích tụ (Trung Dược Học).
+ Khứ ứ, chỉ thống, sơ Can, giải uất, thanh Tâm, an thần (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Hành khí, giải uất, lương huyết, phá ứ. Trị đau vùng oờn, ngực, bụng, thổ