đề cương ôn tập đường lối cách mạng của đảng - Pdf 14

Đề cương – thi học kì.
Câu 1: Phân tích các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Ý
nghiã của các phong trào đó đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Trả lời
1.1). Các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
1.1.1). Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta năm 1858 đến năm 1884 Pháp chính thức đặt ách thống trị trên toàn cõi
nước ta. Năm 1883 triều đình phong kiến Nhà Nguyễn ký hiệp uớc Ác_măng, năm 1884 ký hiệp uớc Patơnốt, đầu
hàng thực dân Pháp, song nhân dân ta vẫn nổi dậy đấu tranh chống thực dận Pháp xâm lược một cách mạnh mẽ. Tiêu
biểu là các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng tư tưởng phong kiến và dân chủ tư sản của các sĩ phu yêu nước
Việt Nam.
a). Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản.
* Phong trào yêu nước Cần Vương ( 1885 – 1896)
- Phong trào đấu tranh vũ trang Cần vương do vua Hàm Nghi và Tô Thất Thuyết lãnh đạo, đã mở cuộc tấn công vào
trại lính Pháp tại kinh thành Huế (1885) nhưng thất bại.
+ Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy chốn ra Tân Sở ( Quảng Trị) và hạ chiếu “Cần Vương”, sau đó Hàm
Nghi bị bắt nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển mạnh mẽ nhất là ở Bắc kỳ, Bắc Trung kỳ với các cuộc khởi
nghĩa tiêu biểu như:
∙ Khởi nghĩa “Ba Đình” ( 1881 – 1887) của Phạm Bành và Đinh Công Tráng.
∙ Khởi nghĩa “Bãi Sậy” ( 1883 – 1892) của Nguyễn Thiện Thuật.
∙ Khởi nghĩa “Hương Khê” ( 1885 – 1895) của Phan Đình Phùng.
Tuy nhiên tất cả các cuộc khởi nghĩa này đều thất bại, năm 1896 phong trào yêu nước Cần Vương chấm dứt.
* Khởi nghĩa Yên Thế - Bắc Giang ( 1884 – 1913).
- Đây là cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, nghĩa quân Yên Thế đã đánh thắng
Pháp nhiều trận, gây cho chúng nhiều thiệt hại, những cuộc khởi nghĩa này còn nhiều hạn chế nên nhanh chóng bị
Thực dân Pháp dàn áp, dập tắt, năm 1913 cuộc khởi nghĩa chấm dứt.
* Phong trào Đông Du ( 1906 – 1908).
- Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng, ông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài ( chủ yếu là Nhật
Bản), để đánh đuổi Thực dân Pháp nhưng không thành công, năm 1908 phong trào này kết thúc.
* Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục – Phan Châu Trinh. Tiêu biểu là việc thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở
Hà Nội và cuộc vận động Duy tân ở Trung kỳ.

sản lớp dưới. Họ đã lập ra nhiều tổ chức yêu nước như : Hội phục Việt ( 1925), Hội hưng Nam, Đảng Thanh Niêm
(1926),…Trong thời gian này đã có một số cuộc đấu tranh gây được tiếng vang lớn như : cuộc biểu tình đòi thả chí sĩ
yêu nước Phan Bội Châu ( 1925), lễ truy điêu Phan Chu Trinh, đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh
(1926).
* Việt Nam Quốc Dân Đảng và Khởi nghĩa Yên Bái.
- Việt Nam Quốc Dân Đảng ( 25/12/1927).
+ Tiền thân của Đảng này là tổ chức Nam Đồng Thư Xã, lãnh tụ của Đảng Là Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính…
Đây là Đảng chính trị tiêu biểu nhất cho khuynh hướng tư sản ở Việt Nam thời kì nay.
+ Việt Quốc Dân Đảng, đi theo chủ nghĩa Tam Dân của Tô Trung Sơn (ở Trung Quôc), chủ trương của Đảng này là
đánh đuổi đế quốc, xoá bỏ chế độ vua quan phong kiến, thành lập dân quyền, nhưng chua bao giờ Đảng này có một
đường lối chính trị cụ thể rõ ràng.
- Khởi nghĩa Yên Bái ( 9/2/1930).
+ Tháng 2/1929, Việt Nam quốc dân Đảng tiến hành vụ ám sát tên trùm mộ phu Ba_danh ( Bazin) tại Hà Nội, vịn vào
cớ đó Thục dân Pháp đã điên cuồng khủng bố phong trào yêu nước Việt Nam. Việt Nam Quốc Dân Đảng bị thiệt hại
hết sức nặng nề, trước tình hình đó các lãnh tụ của Việt Nam quốc dân Đảng quyết định dộc toàn bộ lực luợng cho
trận đánh cuối cùng để ‘Không thành công thì cũng thành nhân’.
+ Đêm 9/2/1930 Việt Nam quốc dân Đang tiến hành tấn công vào trại lính Pháp ở thị xã Yên Bái, khởi nghĩa yên bái
bùng nổ, nhiều cuộc khởi nghĩa ở các địa phương lận cận như Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên,… cùng đồng loạt
diễn ra để phối hợp với khởi nghĩa Yên Bái.
+ Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra trong tình thế bị động, thời cơ chưa đến nên đã nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp dập
tắt. Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông đều bị bắt và bị đưa lên máy chém tại Yên bái.
b). Nguyên nhân thất bại.
- Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20 đều lần lượt thất
bại là do :
+ Giai cấp tư sản Việt Nam còn quá nhỏ bé yếu đuối cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ
giải phóng dân tộc.
+ Chưa có đường lối chính trị cách mạng đúng đắn, cụ thể, chưa tập hợp được lực lưọng cách mạng. Thoả hiệp và cải
lưong không phải là phương pháp vận động và đấu tranh cách mạng.
+ Các cuộc khở nghĩa nổ ra lẻ tẻ và rời rạc, quyết định khởi nghĩa không thống nhất hầu hết đề bị lộ trước khi khởi
nghĩa nổ ra nên đã nhanh chóng bị thực dân Pháp dập tắt.

chóng làm cơ sở cho các tổ chức và phong trào chính trị cao hơn về sau. Phong trào công nhân những năm 20 của thế
kỷ XX đã tạo tiền đề cơ sở để cho phong trào công nhân sau này phát triển nhanh chóng từ tự phát sang tự giác. Phong
trào công nhân cũng là một trong 3 nhân tố quan trong quyết định sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam ( 3/2/1930).
Câu 2: Vì sao nói sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam trong nửa đầu
thế kỉ 20 của Nguyễn Ái Quốc là một tất yếu lịch sử?
Bài làm
Sự lựa chon con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 20 của Nguyễn Ái Quốc là một tất
yếu lịch sư bởi vì :
2.1). Sự thất bại của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản ở Việt Nam cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX.
* Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, tư sản và phong tào công nhân Việt Nam đều lần
lượt thất bại.
- Phong trào Cần Vương ( 1885 – 1896). Do Hàm Nghi và Tô Thất Thuyết lãnh đạo.
- Khởi nghĩa nông dân Yên Thế ( 1884 – 1913), do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo.
- Phong trào Đông Du ( 1906 – 1908) của Phan Bội Châu.
- Đông kinh nghĩa thục ( 1907) Phan Chu Trinh.
- Các cuộc vận động chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá: vơi các cuộc đấu tranh: chống độc quyền thương cảng Sài
Gòn, độc quyền xuất cảng gạo Nam Bộ của bộ phận tư sản và địa chủ lớp trên.
- Năm 1923, Đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh.
- Tiêu biểu nhất là thất bại của Việt Nam quốc dân Đản vơi cuộc khởi nghĩa Yên Bái ngày 9/2/1930 của Nguyễn Thái
Học, Phạm Tuấn Tài, Phó Đức Chính.
- Phong trào công nhân Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX cũng lần lượt thất bại.
* Nguyên nhân thất bại của các phong trào này là:
- Thất bại của các phong trào yêu nước Cần Vương và cuộc khởi nghĩa nông dân Yên thế, đã chứng tỏ rằng giai cấp
phong kiên và hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước và giải quyết
thành công nhiệm vụ giành độc lập dân tộc mà lịch sử đặt ra.
- Do những hạn chế về mặt lịch sử và giai cấp mà các phong trào yêu nước của các sĩ phu yêu nước Việt Nam đều lần
lượt thất bại.
- Chưa có một đường lối chính trị đúng đắn, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa tập hợp được lực lưọng cách mạng.
Chưa có phương pháp vận động và đấu tranh cách mạng, bạo động và cải cách không phải là phương pháp phù hợp và

- Cuối năm 1917 Cách mạng xã hội chủ nghĩa thang 10 – Nga bùng nổ, Nguyễn Ái Quốc đã đặc biệt quan tâm và tìm
hiểu cuộc cách mạng này, Người đã rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công,
và thành công đến nới, nghĩa là dân chúng được hưởng cái tự do hạnh phúc, bình đẳng thật”.
- Tháng 7/1920 Nguyễn Ái Quốc đã được đọc sơ thảo lần thư nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa
của Lê nin, bản luận cương này đã đáp ứng đúng nguyện vọng tha thiết mà Nguyễn Ái Quốc đang ấp ủ: Độc lập cho
Tổ quốc, tự do cho đồng bào. Tháng 12/1920, Nguyễn Quốc đã tham dự Đại hội của Đảng Xã Hội Pháp họp ở Tua.
Người đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III và tham gia sáng lập Đảng Cộng Sản Pháp. Sự kiện này đã
đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong sự nghiệp hoạt động Cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, Người đã chuyển từ
lập trường của chủ nghĩa yêu nước sang lập trường của chủ nghĩa cộng sản. Mở đường giải quyết đúng đắn về đường
lối giải phóng dân tộc Việt Nam.
- Bằng trí tuệ và hoạt động cách mạng thiên tài của mình, Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng kịp thời yêu cầu bức thiết của
lịch sử, khắc phục được những hạn chế của các sĩ phu yêu nước trước đó. Nguyễn Ái Quốc đã đến với học thuyết cách
mạng của chủ nghĩa Mác – Lê nin và lựa chon con đường cách mạng vô sản…Người nói: “Muốn cứu nước và giả
phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
- Tháng 6/1923 Nguyễn Ái Quốc đã rời Pháp tới Liên Xô, tại đây Người đã tham dự Hội nghị quốc tế nông dân
( 10/1923), trong khoảng gần một năm rưới ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực nghiên cứu các vấn đề dân tộc và
thuộc địa, viết nhiều bài cho báo “Sự thật”, “Tạp chí “Thư tín quốc tê” . Như vây, thời kỳ hoạt động ở Liên Xô là thời
kỳ mà Nguyễn Ái Quốc tiếp tục phát triển và hoàn thiện, những tư tưởng của cách mạng vô sản.
- Ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu ( Trung Quôc), tại đấy người đã hoạt động tích cực để truyền bá
chủ nghĩa Mác – Lê nin về nước, đào tại cán bộ cho cách mạng Việt Nam, chuẩn bị về mặt tổ chức cho việc thành lập
Đảng.
- Ngày 3/2/1930, tại Hương Cảng Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì triệu tập Hội nghị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam,
với sự ra đời của Đảng mà nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác lên nin, từ đây cách mạng Việt Nam đã chấm dứt được
sự khủng hoảng về đường lối, phương pháp giai cấp lãnh đạo cách mạng, làm chó cách mạng Việt Nam phát triển
đúng hưóng.
→ Như vậy con đường cách mạng vô sản, cùng với sự lạnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà đứng đầu là lãnh tụ
Nguyến Ai Quốc - Hồ Chí Minh, cách mạnh Việt Nam đã có nhứng bước phát triển vượt bậc, đi tư thắng lợi này đến
thắng lợi khác, mà tiêu biểu là tháng lợi của cuộc cách mạng tháng 8 – 1945, lập ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hoà ( 2/9/1945). Như vậy sụ lựa chọn cin đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc trong những năm đầu của
thế kỷ XX để đưa tới thắng lợi cho cách mạng Việt Nam là một tất yếu lịch sử.

cho việc thành lập Đảng, nhờ đó mà phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ,
phong trào công nhân Việt Nam cũng phát triển nhanh chóng từ tự phát sang tự giác. Cuối những năm 20 của thế kỷ
XX ở Việt Nam đã ra đời ba tổ chức công sản, nhưng thực tiễn phong trào cách mạng Việt Nam yêu cầu lúc này là
phải có một Đảng cộng sản lãnh đạo duy nhất mới phù hợp.
- Trước tình hình đó QTCS đã gửi thư cho nhứng người cộng sản ở Đông Dương, kêu gọi thành lập một Đảng cộng
sản duy nhất để đáp ứng yêu cầu của cách mạng. Được sự uỷ quyền của QTCS, Nguyễn Ái Quốc đã từ Thái Lan sang
Hương Cảng ( Trung Quốc) triệu tập đại biểu của các tổ chức cộng sản để tiến hành hợp nhất thành một Đảng duy
nhất là, đưa tới sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam ( 3/2/1930).
- Ngày 3/2/1930, Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đã thảo luận và thống nhất thông qua: Chính cương
văn tắt, Sách lược vắn tắt và Chương trình tóm tắt của Đảng, những văn kiện này đã trở thành Cương lĩnh chính trị
đầu tiên của Đảng ta ( Cương lĩnh Hồ Chí Minh).
* Nội dung cơ bản của bản cương lĩnh chính trị này là:
- Cương lĩnh đã xác định những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam là:
+ Phương hướng chiến lựợc của cách mạng Việt Nam là: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để
đi tới xã hội cộng sản”.
Nhiệm vụ của cách mạng là tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất.
+ Về chính trị : Đánh đổ thực dân Pháp và phong kiến tay sai, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập.
+ Về lực lượng cách mạng: Hai giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng chính của cách mạng ( do giai cấp công
nhân lãnh đạo), đồng thời lôi kéo các tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, trung nông đi theo cách mạng, Kiên quyết đấu tranh
tiêu diệt các phần tử phản cách mạng.
+ Lãnh đạo cách mạng là gia cấp vô sản ( trong đó giai cấp công nhân là lòng cốt) thông qua Đảng cộng sản Việt
Nam, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin làm nền tảng tư
tưởng luôn đi đầu trên trận tuyến chống đế quốc và phong kiến.
+ Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, giai cấp vô sản Việt Nam phải liên lạc với giai cấp vô
sản thế giới nhất là giai cấp vô sản Pháp để phối hợp đấu tranh.
- Cương lĩnh chính trị của Hội nghị thành lập Đảng (3/2/1930) là một cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng
tạo theo con đưòng cách mạng Hồ Chí Minh. Nó phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và đáp ứng yêu cầu khách
quan của lịch sử. Thực tiễn quá trình vận động cách mạng Việt Nam trong suốt 80 năm qua đã chứng minh rõ tính
khoa học, tính đúng đắn và tiến bộ của bản Cướng lĩnh chính trị đầu tiên này của Đảng.
- Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở

năm đầu của thế kỷ XX đã đóng vai trò quyết định đối với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam ( 3/2/1930).
4.1). Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc ( 1911 – 1920).
- Sau những thất bại liên tiếp của các phong trào yêu nước Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XX, trước sự bế tắc
của các sĩ phu yêu nước Việt Nam, Người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Tất Thành rất trăn trở về cong đường cứư nước
giải phóng dân tộc Việt Nam.
- Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành với tên là Nguyễn Văn Ba đã rời bên cảng Nhà Rồng ra đi tìm con đường cứu
nước mới để giải phóng cho dân tộc. Người đã không đi sang phương Đông như con đường của các sĩ phu yêu nước
trước đây, mà Người quyết định đi sang phương Tây để tìm con đường cứu nước mới giải phóng cho dân tộc. Sở dĩ
người quyết định đi sang phương Tây là vì: như sau này Người nói lại: “Muốn đánh đuổi được kẻ thù thì phỉa có sự
hiểu biết về kẻ thù đó”, và người cũng muốn tìm hiểu xem cái khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái, của cách mạng Pháp
nó được thực hiện như thế nào ở nước Pháp.
- Sau nhiều năm bô ba khắp năm châu bốn biển, Người đã tìm hiểu và khảo sát các cuộc cách mạng điểm hình trên
thế giới như: Cách mạng tư sản Mỹ ( 1776), cách mạng Pháp ( 1789), Ngươid đánh giá các tư tưởng tự do, bình đẳng
bác ái, của các cuộc cách mạng này, nhưng người cũng nhận thức rõ những hạn chế của các cuộc cách mạng này là
“chưa đến nơi” vì quần chúng nhân dân vẫn đói khổ. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng tư sản
không thể mang lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các nước nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng.
- Năm 1917 cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng 10 – Nga nổ ra và thành công vơi sự nhạy cảm chính trị đặc biệt,
Nguyễn Ái Quốc hướng đến ánh sáng của cuộc cách mạng này và chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của cuộc cách
mạng vĩ đại đó.
- Năm 1919 Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội Nghị Vecxay của các nước đế quốc thắng trận sau thế chiến thứ nhất, Bản
yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do dân chủ và bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách đó đã không được các
nước đế quốc chú ý đến nhưng nó đã gây được tiếng vang lớn đối với công luận Pháp. Qua sự kiện này Người đã rút
ra cho mình một kết luận quan trọng: muôn giải phóng được dân tộc mình thì phải dựa vào sức mình là chính.
- Tháng 7/1920 Nguyễn Ái Quốc đã được đọc bản sơ thảo lần thư nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa của Lê nin đăng trên báp Nhân đạo. Người đã tìm thấy trong Luận cương của Lê nin lời giải đáp về con
đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam.
- Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp họp ở ( Tua – 12/1920), Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc
gia nhập Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp. Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặt vô cùng
quan trong trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, Người đã chuyển từ lập trường của chủ nghĩa
yêu nước sang lập trường của chủ nghĩa cộng sản và tìm thấy con đường cứu nuớc đúng đắn, đó là con đường giải

4.3). Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam và soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng ( 3/2/1930).
- Nhờ những hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong những năm 20 của thế kỷ XX mà phong trào công nhân và
phong trào yêu nước Việt Nam phát triển mạnh mẽ từ tự phát sang tự giác, nhất là vào nhứng năm 1929 – 1930. Sau
một thời gian hoạt động hiệu quả tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên dần dần mất vai trò lịch sử. Sự phát
triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Việt Nam những năm 1929 – 1930 đòi hỏi phải có một Đảng tiên phong
lãnh đạo cách mạng mới phù hợp. Để đáp ứng yêu cầu đó. Từ giữa đến cuối năm 1929 ở nước ta đã ra đời 3 tổ chức
cộng sản:
+ Đông Dương cộng sản Đảng ( 17/6/1929) ở Bắc kỳ.
+ An Nam cộng sản Đảng ( 7/1929) ở Nam kỳ.
+ Đông Dương cộng sản liên đoàn ( 9/1929) Trung kỳ.
Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản nói trên đánh dấu sự phát triển vượt bậc của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên trong
quá trình hoạt động 3 tổ chức Đảng này lại có sự phân tán, chia rẽ, tranh giành quần chúng lẫn nhau, gây ảnh hưởng
xấu đến phong trào cách mạng.
- Trước tình hình đó Quốc tế công sản đã gửi thư cho những người cách mạng ở Đông Dương kêu gọi thành lập một
Đảng cộng sản duy nhất. Quốc tế công sản đã uỷ nhiệm cho Nguyến Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế cộng sản tiến
hành triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Đông Dương thành một Đảng duy nhất.
+ Ngày 23/12/1929 Nguyễn Ái Quốc đã từ Thái Lan đến Thượng Hải (TQ), Người đã gửi thư về nuớc mời các đại
biểu của các tổ chức cộng sản tới Huơng Cảng (TQ) để họp hội nghị hợp nhất Đảng. Từ ngày 3 – 7/2/1930 Hội nghị
thành lập Đảng họp tại Cửu Long – Hương Cảng ( Trung Quôc) do Nguyến Ái Quốc chủ trì, Sau 5 ngày làm việc
khẩn trương các Đại biểu đã thảo luận và hoàn toàn nhất trí hợp nhất thành một Đảng lấy tên là Đảng cộng sản Việt
Nam (3/2/1930).
+ Nguyễn Ái Quốc đã soạn thảo Chính cương văn tắt – Sách lược văn tắt và điều lệ tóm tắt của Đảng. Những văn
kiện này đã chính thức được thông qua tại Đại hội thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930) và trở thành Cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta. Với sự ra đời của Đảng và Cương lĩnh chính trị đứng đắn của riêng mình. Đảng
cộng sản Việt Nam đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Mịnh đã lành đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác, mà tiêu biểu là thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945, lập ra nuớc Việt Nam dân chủ cộng
hoà ( 2/9/1945).
→ Như vậy, với sụ trình bày nói trên đã cho chúng ta thấy đuợc vai trò quyết định của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh đối với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam ( 3/2/1930), đặc biệt là những sự chuẩn bị về tư tưởng chính

5.2). So sánh nội dung cơ bản của hai bản Luận cương chính trị tháng 2/1930 của Nguyễn Ái Quốc và Luận
cương chính trị tháng 10/1930 của Trần Phú.
a). Giống nhau.
- Cả hai bản cương lĩnh này đều ra đời trong bối cảnh Đảng vừa được thành lập, phong trào đấu tranh cách mạng
đang diến ra vô cùng mạng mẽ. Tư tưởng bao trùm của cải hai bản Cương lĩnh này là quán triệt định hướng độc lập
dân tốc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
+ Cả hai Bản Luận cương đều đưa ra phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là làm tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
+ Đều khẳng định lực lưọng lòng cốt của cách mạng và lãnh đạo cách mạng là vô sản giai cấp. Đảng là đội tiên phong
của cách mạng.
+ Về quan hệ cách mạng: Cả hai bản cương lĩnh đều khẳng định cách mạng là một bộ phận quan trọng của cách mạng
thế giới, phải có sự liên lạc mật thiết với giai cấp vô sản thế giới (đặc biệt là giai cấp vô sản pháp).
b). Khác nhau.
- Phương hướng chiến lược của cách mạng.
+ Luận cương chính trị đầu tiên: Phân tích và nhân thấy rõ mẫu thuẫn của xã hội Việt Nam là mẫu thuẫn giữa dân tộc
ta với thực dân Pháp, từ đó đề ra phương hướng cho cách mạng nước ta là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản. Bản luận cương này đã nhấn mạnh vấn đề làm cách mạng tư sản dân quyền,
đánh đổ chế độ thực dân pháp và phong kiên để gianh độc lập cho dân tộc tự do cho nhân dân là trọng tâm.
+ Luận cương chính trị tháng 10/1930: Không nêu ra được mâu thuẫn chủ yếu của cách mạng nước ta là mâu thuẫn
dân tôc, từ đó không đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu và khẳng định phương hướng của cách mạng Việt Nam
là: Lúc đầu làm cách mạng tư sản dân quyền, có tính chất thổ địa và phản đế. Khảng định rõ sẽ bỏ qua giai đoạn tư
bản chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Luân cương khẳng định cách mạng ruộng đất là trọng tâm và phải tiến
hành triệt để cuộc cách mạng này.
- Về lực lượng cách mạng:
+ Luận cương chính trị đầu tiên: Khẳng định vô sản giai cấp (đặc biệt là giai cấp công – nông ) là lực lượng chủ yêu
của cách mạng đồng thời chú trọng đến vai trò của các giai cấp các tâng lớp khác như tiểu tư sản, trí thức, trung tiểu
địa chủ… Chủ trương tập hợp lực lương trên đây phản ánh rõ tư tưởng đại đoàn kết dât tộc của Hồ Chí Minh.
+ Luận cương tháng 10/1930: Khẳng định vô sản giai cấp là lực lượng chủ yêu của cách mạng. Tuy nhiên bản luân
cương này của Trần Phú đã đánh giá không đúng vai trò cách mạng của các tầng lớp tư sản, tiểu tư sản dân tộc, phủ
nhận mặt tích cực của bộ phận giai cấp này. Đồng thời chưa cho thấy được khả năng phân hoá, lối kéo một bộ phận

Trong cách mạng tư sản dân quyền Luận cương xác định là phải đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và phong kiến tay
sai để giành độc lập cho dân tộc, sau đó tiến hành cách mạng ruông đất, tịch thu ruộng đất tài sản của bọn đế quốc địa
chủ chia cho dân cày.
Đảng chủ trương tập hợp tập hợp rộng rãi lực lượng để tiến hành cách mạng giải phong dân tộc, Trong cương lĩnh
tháng 2 viết: Đảng chủ trương tập hợp đại bộ phận giai cấp công nhân, nông dân và phải dựa vào hạng dân cày nghèo
lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng đất, lôi kéo các tầng lớp tư sản, tiểu tư sản dân tộc, trí thức, trung tiểu địa chủ
… đi vào phe của giai cấp vô sản.
→ Như vậy, Chủ trương đường lối của Đảng được đưa ra trong hai bản Luận cương đầu tiên ( 3/2/1930) và Luận
cương chính trị ( 10/1930). Đã thể hiện sự đúng đăn của Đảng về con đường cách mạng Việt Nam, Đường lối chủ
trương tiến hành cách mạng tư sản dân quyền là rất đúng lúc và kịp thời để giải quyết vấn đề mâu thuẫn dân tộc ở
nước ta. Chủ trương tập hợp lực lượng trong giai đoạn này đã phản ánh được tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ
Chí Minh. Tuy nhiên trong Bản Luận cương chính trị (10/1930) của Trần Phú đã cho thấy một số sai lầm về chủ
trương đường lối của Đảng trong giai đoạn này đó là Luận cương chính trị tháng 10/1930 đã đưa nhiệm vụ cách mạng
ruộng đất lên hàng đầu đồng thời đánh giá không đúng vai trò và khả năng cách mạng của bộ phân giai cấp tư sản dân
tộc nên chưa thể hiện được tư tưởng đại đoàn kết dân tộc như Cương lĩnh tháng 2 của Nguyễn Ái Quốc.
- Chủ trương khôi phục tổ chức Đảng và phong trào cách mạng 1931 – 1935.
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930, đã làm cho phong trào cách mạng Việt Nam phát triển vô cùng
mạnh mẽ và rộng lớn mà tiêu biểu là sự phát triển của cao trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao là Xô viết - Nghệ
tĩnh. Trước tình hình đó thực dân Pháp đã tiến hành một chương trình đàn áp, khung bố vô cùng dã man hòng dập tắt
phong trào cách mạng Việt Nam tiêu diệt Đảng cộng sản Đông Dương. Hàng nghìn chiến sĩ cộng sản, hàng vạn quần
chúng yêu nước bị bắt , bị giết hoặc bị tù đày. Các cơ quan lãnh đạo Đảng ở trung ương và địa phương lần lượt bị phá
vỡ. Toàn bộ Ban chấp hành Trung ương bị bắt và bị mang ra xét xử.
Mặc dù bị thực dân Pháp đàn áp khủng bố nhưng Đảng vẫn thể hiện được vai trò lãnh đạo cách mạng tiên phong của
mình. Đảng và quần chúng cách mạng đã vượt qua thử thách khó khăn, từng bước khôi phục tổ chức Đảng và phong
trào cách mạng. Nhiều chi bộ Đảng trong các nhà tù vẫn được thành lập, hệ thống tổ chức Đảng từng bước được khôi
phục, nhiều Đảng viên vượt ngục đã tích cực tham gia khôi phục Đảng và lãnh đạo quần chúng đấu tranh.
+ Chủ trương chiến lược lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn này là: Đảng đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh giành
những quyền lợi thiết thực hàng ngày, rồi dần dần đưa quần chúng tiến lên đấu tranh cho những yêu cầu chính trị cao
hơn.
Thứ nhất: đòi các quyền tự do tổ chức, xuất bản, ngôn luận, đi lại trong nước và ra nước ngoài.

- Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi các quyền dân chủ, dân sinh.
+ Chủ trương mới của Đảng phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng bức thiết của quần chúng, làm dấy lên trong cả
nước một phong trào đấu tranh mạnh mẽ sôi nổi hướng vào mục tiêu trước mắt là tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình.
Đảng phát động một phong trào đấu tranh công khai của quần chúng với các hình thức đấu tranh phong phú đa dạng
mở đầu là các cuộc mít tinh biểu tình tuần hành diến ra sôi nổi ở khắp mọi nơi như Hà nội, Huế, Sài Gòn…
+ Phong trào báo chí công khai cũng diễn ra rất sôi nổi. Hàng loạt tờ báo mang nội dung tiến bộ đã được xuất bản
phát hành rộng rãi, bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp, tiêu biểu như: “Nhành lúa”, “An Nam trẻ”, “Người nhà quê”…
Phong trào thơ cac cũng phát triển mạnh mẽ (đặc biệt là thơ Tố Hữu) đã khơi dậy lòng yêu nước cổ vũ thanh niên
hăng hái tham gia cách mạng. Báo chí của Đảng lên tiếng bênh vực quần chúng, đòi các quyền dân chủ, dân sinh,
thức tỉnh lòng yêu nước cho nhân dân, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê nin và vận động quần chúng đấu tranh.
+ Đấu tranh nghị trường cũng được sử dụng. Đảng và mặt trân dân chủ đã cử các đại biểu của mình ra tranh cử vào
“Hội đồng quản hạt” ở Nam kỳ, “Viện dân đại biểu” ở Bắc kỳ. Các đại biểu của Đảng đã trúng cử đã dùng tiếng nói
của mình để tố cáo, phản đối và hạn chế phần nào việc thi hành những chính sách phản động của thực dân Pháp.
+ Các cuộc đấu tranh trên các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, triết học và tư tưởng cũng diễn ra rất sôi nổi, đã làm cho
một số văn nghệ sĩ, trí thức tỉnh ngộ giúp họ đi đúng phương hướng.
→ Những chủ trương chỉ đạo chiến lược của Đảng đối với cách mạng Việt Nam giai đoạn 1936 -1939, đã giải quyết
đúng đắn giữa mục tiêu chiến lược và mục tiêu cụ thể trước mắt của cách mạng, các mối quan hệ giữa liên minh công
– nông và mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi, giữa vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp, giữa phong trào cách mạng Đông
Dương và phoang trào cách mạng thế giới. Việc đưa ra các hình thức đấu tranh dân chủ, dân sinh, phù hợp đã hướng
dẫn quần chúng đấu tranh giành những quyền lợi hàng ngày để chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh chính trị cao hơn
giành độc lập tự do.
Những chủ trương chính sách chỉ đạo của Đảng đã chứng tỏ sự trưỏng thành vững mạnh của Đảng về tư tưởng,
chính trị, thể hiện bản lĩnh và tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng. Mở ra một thời kỳ mới chuẩn bị những
điều kiện tiến lênh giành những thắng lợi lớn.
6.3). Giai đoạn từ 1939 – 1945.
* Giai đoạn 1939 – 1941.
Ngày 1/9/1939 phát xít Đức tấn công Ba Lan, sau đó Đức lân lược tuyên chiếnh với Anh và Pháp, chiến tranh thế
giới thứ II bùng nổ. Đế quốc Pháp lao vào cuộc chiến, Chính phủ Pháp đã thi hành biện pháp đàn áp lực lượng dân
chủ ở chính quốc và phong trào cách mạng ở thuộc địa.
Mùa thu năm 1940 Nhật vào Đông Dương, ngày 22/9/1940 Phát xít Nhật tiến vào Lạng Sơn, Hải Phòng của nước ta.

liên tiếp giành thắng lợi đây trục phát xít (Đức – Italia – Nhât )co cụm về phòng ngự.
Ở Đông Dương mâu thuẫn Nhật – Pháp lên đến đỉnh điểm. Đêm 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm
Đông Dương, quân Pháp nhanh chóng đầu hàng quân Nhật vô điều kiện.
- Chủ trương chỉ đạo chiến lược của Đảng.
+ Ngay trong đêm 9/3/1945 khi mà Nhật đảo chính Pháp. Ban thường vụ Trung ương Đảng đã họp Hội nghị mở
rộng ở (Đình Bảng - Từ Sơn – Bắc Ninh) . Ngày 12/3/1945, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp
bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Chỉ thị chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa. Chỉ thị
xác định sau cuộc đảo chính phát xít Nhật là kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể, trước mắt của nhân dân Đông Dương, vì vậy
phải thay khẩu hiệu: “đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật”.
Chỉ thị nêu rõ phương châm đấu tranh lúc này là phát động chiến tranh du kích, Đẩy mạnh khởi nghĩa giải phóng
từng phần, giành chính quyền bộ phận để tiến lên Tổng khởi nghĩa.
Những chính sách cai trị, vơ vét, bóc lột của Pháp - Nhật đã đẩy đất nước ta rơi vào nạn đói khủng khiếp 1945. Xuất
phát từ lợi ích sống còn trước mắt của quần chúng. Đảng kịp thời đề ra khẩu hiêu: “Phá kho thóc Nhật giải quyết nạn
đói.
- Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa của Đảng.
Chiến tranh thế giới thứ II bước vào những ngày cuối cùng Ngày 9/5/1945 phát xít Đức tuyên bố đầu hàng Đồng
Minh vô điều kiện. Ở chấu Á phát xít Nhật sắp đi đến thất bại hoàn toàn.
+ Từ ngày 13 -15/8/1945 Trung ương Đảng quyết định họp hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào ( Tuyên
Quang). Hội nghị nhận định đây là cơ hội tốt cho nhân dân ta đứng lên giành chính quyền và quyết định phát đông
Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân đồng minh tiến vào nước ta. Uỷ ban khởi
nghĩa Trung ương được thành lập để lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa.
Hội nghị chỉ rõ khẩu hiệu đấu tranh lúc này là: “phản đối xâm lược”, “Hoàn toàn độc lập”, “chính quyền nhân dân”.
Nguyên tăc để chỉ đạo Tổng khởi nghĩa là tập trung, thống nhất và kịp thời. Hội nghị cúng quyết định những vấn đề
về đối nội và đối ngoại của Đảng trong tình hình mới.
+ Ngày 16/8/1945 Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc. Hội nghị nhiệt liệt tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa
của Đảng và 10 chính sách của Việt Minh, quyết định thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam. Thông qua
Quốc kỳ, Quốc ca và Quốc huy của đất nước, thảo luận và bổ sung một số chính sách cần phải thực hiện ngay sau khi
Tổng khởi nghĩa thắng lợi. Ngay sau Đại Hội chủ tich Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước:
“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho

khiêu khích gây chiến ở Miền Bắc.
- Ngày 20/ 11/1946 thực dân Pháp nổ súng tấn công chiến đóng thị xã Lạng Sơn, thành phố Hải Phòng và đổ bộ vào
thành phố Đà Nẵng. Từ ngày 7 – 15/12/1946 thực dân Pháp đánh chiếm Tiên Yên, Đình Lập, Hải Dương.
- Ngày 17 – 18/12/1946 quân Pháp tiến hành các vụ thảm sát tàn khốc tại các tuyến phố: Yên Ninh, Hàng Bún ở Hà
Nội, đánh chiếm trụ sở Bộ Tài Chính, Bộ Giao Thông Vận Tải. Chúng cong gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta đòi
tước vũ khí của lực lượng tự về để chúng kiểm soát thủ đô Hà Nội.
Hành động của thực dân Pháp đã đặt Đảng và Chính phủ ta trước một tình thế không thể nhân nhựng thêm với
chúng được nữa, vì tiếp tục nhân nhượng sẽ dẫn tới họa mất nước, nhân dân ta sẽ trở lại cuộc đồi nô lệ. Trong “Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến” chủ tịch Hồ Chí Mịnh viết: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhưng.
Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…”. Thực tế
cho thấy khả năng hoàn hoãn không còn, địch đã công khai tuyên bố chúng sẽ hành động sáng ngày 20/12/1946 nếu
Chính phủ ta không chấp nhận Tối hậu thư của chúng.
- Trong hoàn cảnh đó, ngày 19/12/1946 Ban thường vụ Trung ương Đảng đã họp Hội nghị mở rộng tai làng Vạn
Phúc – Hà Đông để hoạch định đường lối chủ trương đối phó. Hội nghị quyết định hạ quyết tâm phát động toàn quốc
kháng chiến và mở cuộc tổng giao chiến lịch sử trước khi thực dân Pháp thực hiện màn kịch đảo chính quân sự ở Hà
Nội vào ngày 20/12. Mệnh lệnh kháng chiến được phát đi vào lúc 20h ngày 19/12/1946, tất cả các chiến trường trong
cả nước đã đồng loạt nổ súng.
7.2). Nội dung của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nội dung của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp mà Đảng cộng sản Việt Nam để ra được thể hiện tập
trung chủ yếu trong 3 văn kiên lớn sau: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh ( 19/12/1946).
Chỉ thị toàn dân kháng chiến của Ban thường vụ Trung ương Đảng ( 12/12/1946), và Tác phẩn Kháng chiến nhất
định thắng lợi của Tổng bí thư Trường Chinh (1947).
- Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp được thể hiện trong ba Văn kiện này là.
+ Mục đích của cuộc kháng chiến: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là tiếp tục sự nghiệp của cách mạng tháng
8, nên nó mang tính dân tộc giải phóng, lúc này giải phóng dân tộc là yêu cầu nóng bỏ và cấp bách nhất. Đánh đuổi
12
bon thực dân phản động Pháp đang dùng vũ lực cướp nước ta, giành độc lập tụ do và thống nhất thực sự, hoàn thành
nhiệm vụ giải phóng dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân.
+ Tính chất của cuộc kháng chiến: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta là cuộc chiến tranh cách

yêu, kháng chiến lâu dài là để chống lại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của địch, nhờ đó mà ta có thời gian để mà
xây dựng củng cố, phát triển lực lượng, đợi thời cơ có lợi cho ta, nhằm phát huy yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.
Dựa vào sức mình là chính: Do lúc này ta vẫn bị bao vây cấm vận từ nhiều phái, chưa có nước nào công nhận nền
độc lập và đặt quan hệ ngoại giao với nước ta. Nên cuộc kháng chiến của nhân dân ta phải tự lực cánh sinh, phải tự
cấp, tự túc về mọi mặt. Trước hết phải độc lập về đường lối chính trị, chủ động xây dựng và phát triển lực lượng của
cuộc kháng chiến. Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự ủng hổ giúp đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được
ỷ lại mà vẫn phải dựa vào sức mình là chính.
+ Triển vọng của cuộc kháng chiến này là: trường kỳ, gian khổ, hy sinh mất mát, song kháng chiến nhất định thắng
lợi.
7.3). Ý nghĩa.
- Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non sông đất nước, khơi dậy mạnh
mẽ lòng tự hào dân tộc, truyền thống anh huàng bất khuất của nhân dân ta, làm cho toàn thể dân tộc ta đứng lên chiến
đấu với ý chí: “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, vì độc lập tự do thiêng liêng của Tổ quốc.
- Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban thường vụ Trung ương Đảng đã xác định đúng đắn chủ trương đường lối
kháng chiến của nhân dân ta, tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tao thành một khối đại đoàn kết dân tộc
vững mạnh chưa từng có để cả dân tộc ta bước vào cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ nhưng nhất định thắng lợi.
- Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng bí thư Trường Chinh đã vạch ra một phương châm “tử chiến”
( quyết chiến) với bọn thực dân phản động Pháp để giành độc lập thống nhất thực sự cho nước nhà. Kháng chiến nhất
định thắng lợi là niềm tin, là động lực và sức mạnh kháng chiến của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
- Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh, Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban thường vụ
Trung ương Đảng và Tác phẩm kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng bí thư Trường Chinh là đường lối kháng
chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta ( 1946 – 1954) đã dẫn dắt và tổ chức nhân dân ta đấu tranh giành thắng lợi
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
+ Đảng ta đã xác định đúng và quán triệt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là
chính trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
13
+ Kết hợp chặt chẽ và đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc với chống phong kiến, trong đó nhiệm vụ chống đế quốc
giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Vừa kháng chiến vừa kiến quốc để xây dựng chế độ mới, xây dựng hậu
phương vững mạnh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.
+ Quán triệt tư tưởng kháng chiến lâu dài, gian khổ, chủ động đề ra chiến lược chiến tranh nhân dân và nghệ thuật

Minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật, nhưng núp sau quân Anh là bon thực dân Pháp với dã tâm cướp nước ta một
lần nữa. Tháng 9/1945 được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Sài Gòn hỏng tách Nam bộ
ra khỏi Việt Nam.
+ Trong khí đó nền kinh tế nước ta sau hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp rồi đến phát xít Nhật lúc này đã trở nên
tiêu điều kiệt quệ. Nạn đói năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào ta chưa kịp khắc phục thì nguy
cơ nạn đói mới lại đe dọa, ruộng đất bị bỏ hoang, các ngành công nghiệp đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng
vọt… Ngân sách quốc gia trống rỗng, kho bạc chỉ còn lại khoảng 1,2 triệu đồng Đông Dương trong đó quá nửa là rách
nát. 95% dân số nước ta không biết chữ.
+ Trong những năm đầu sau cách mạng tháng Tám, nước Việt Nam dân chủ công hòa ra đời chưa có nước nào công
nhận và đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ ta. Đất nước bị bao vây bốn phía, vận mệnh dân tộc ta lúc này như
“ngàn cân treo sợi tóc”.
8.2). Chính sách của Đảng và Hồ chủ tịch trong đấu tranh” chống thù trong giặc ngoài” thời kì (1945-1946).
Trong bối cảnh đất nước như vậy, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” vạch rõ
nhiệm vụ chiến lược và nhiệm vụ cần kíp phải thực hiện ngay lúc này của cách mạng nước ta. Chỉ thị xác định:
- Về chỉ đạo chiến lược: Đảng xác định mục tiêu phải nêu cao của cách mạng Việt Nam lúc này vẫn là “Giải phóng
dân tộc”, khâu hiệu lúc này là “Dân tộc trên hêt, Tổ quốc trên hết”, nhưng không phải là giành độc lập mà là giữ vững
độc lập.
- Về xác định kẻ thù: Kẻ thù chính lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung nhiệm vụ đấu tranh vào chúng.
- Nhiệm vụ cơ bản trước mắt của toàn thể dân tộc ta là: Củng cố chính quyền cách mạng, chống thực dân Pháp xâm
lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân, nhiệm vụ bao trùm là củng cố, bảo vệ chính quyền cách mạng.
- Chỉ thị vạch ra những biện pháp cụ thể để thực hiện các biện pháp trên.
+ Về nội chính: tiến hành tổng tuyển của bầu Quốc Hội trong cả nước, thàng lập chính phủ chính thức, ban hành Hiến
Pháp, xử lý bọn phản động, củng cố chính quyền nhân dân.
14
+ Về quân sự: động viên lực lượng toàn dân tiến hành trường kỳ kháng chiến.
+ Về ngoại giao: kiên trì nguyên tăc “bình đẳng, tương trợ” thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu “Hoa – Việt thân
thiên”
* Chủ trương chính sách của Đảng và Hồ chủ tịch để đấu tranh chống “thù trong giặc ngoài”.
a). Về đối nội.
- Về chính trị:

Ngày 28/2/1946 khi Pháp kí với Tưởng Hiệp ước Trùng Khánh, theo sự dàn xếp của quân Anh để Tưởng rút quân về
nước đối phó với phong trào cách mạng Trung Quốc đang lên cao, con Pháp kéo quân ra chiến đóng miềm Bắc Việt
Nam, đồng thời Pháp nhượng cho Tưởng một số quyền lợi. Trước tình hình đó Đảng, Chính phủ và Hồ chủ tịch đã
phân tích tình hình và quyết định sách lược hòa hoãn với Pháp để đuổi Tưởng về nước.
+ Để thực hiện sách lược nói trên, Ngày 6/3/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp là
Xanh_tơ_ni bản Hiệp định sơ bộ, đặt cơ sở cho một cuộc đàm phán để đi đến một hiệp ước chính thức. Hiệp định sơ
bộ gồm 3 nội dung cơ bản là: Chính phủ Pháp phải công nhận nước Việt nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia độc
lập, có Chính phủ, Nghị viện riêng, Tòa án, quân đội riêng, nền tài chính riêng và nằm trong khối liên hiệp Pháp.Nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa "đồng ý" cho 15.000 quân Pháp ra Bắc thay Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật,
số quân này phải đóng ở những vị trí quy định và phải rút dần trong thời hạn 5 năm.Hai bên ngừng bắn tại Nam bộ,
tạo không khí hòa bình để mở đàm phán chính thức
+ Tuy nhiên sau đó, Pháp vẫn tiếp tục gây khó khăn nên chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải ký với Mu_tê, Bộ trưởng bộ
quốc pháp hải ngoại Pháp, bản Tạm ước 14-9-1946 tiếp tục nhường Pháp một số quyền lợi về kinh tế, văn hóa (tuyệt
nhiên không có chính trị) để tạo thời gian hòa hoãn, chuẩn bị mọi mặt tiến tới cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực
dân Pháp (1946-1954).
8.3). Ý nghĩa.
- Những chủ trương, chính sách nói trên của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, đã bảo vệ được nền độc lập của đất
nước, củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng, xây dựng được lục lượng chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng
chiến với thực dân Pháp (1945 – 1954).
- Những biện pháp về chính trị, quân sự, kinh tế - giáo dục, đã góp phần tích cực trong việc đầy lùi giặc đói, giặc dốt,
đưa đất nước vượt qua những thách thức hiểm nghèo. Phát huy thành quả của cách mạng tháng Tam, giúp nhân dân ổn
định đời sống nhờ đó mà nhân dân càng tin tưởng và đường lối lãnh đạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh.
15
- Với đường lối chính trị vô cùng sáng suất của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh với việc thực hiền đường lối ngoại
giao cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược lúc thì nhân nhượng với Tưởng để rảnh tay đối phó với Pháp, khi
thì lại hòa hoãn với Pháp để đuổi Tưởng về nước và quét sạch bọn tay sai của Tưởng, đã góp phần quạn trọng trong
việc cũng cố và giữ vững chính quyền cách mạng, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chính sách chống “thù trong
giặc ngoài” trong những năm (1945 – 1946), đồng thời tạo điều kiện để nhân dân ta có thời gian củng cố lực lượng,
chuẩn bị toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Câu 9: Hoàn cảnh lịch sử và nội dung đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng

Chủ trương tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng là đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện
cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam đã được hoàn chỉnh tại Đại hội Đảng lần III. Từ ngày 5 – 10/9/1960 Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thư III của Đảng họp tại Hà Nội. Trong diến văn khai mạc Đại hội chủ tịch Hồ Chí Minh nêu
rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”.
- Trên cơ sở phân tích tình hình đặc điểm nước ta, Đại hội vạch rõ hai chiến lược cách mạng là:
+ Một là: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
+ Hai là: Tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,
hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
- Mục tiêu chiến lược: Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược
khác nhau, mỗi nhiện vụ giải quyết một yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt. Hai nhiệm
vụ này đều nhằm giải quyết nhiệm vụ chung của cách mạng cả nước là đánh đuổi đế quốc Mỹ và tay sai để thống nhất
nước nhà.
- Mối quan hệ giữa cách mạng hai miền: Hai chiến lược cách mạng của hai miền có môi quan hệ mật thiết với nhau,
tác dụng thúc đẩy lẫn nhau. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển
của cách mạng cả nước. Cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trược tiếp đối với
sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất
nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
16
- Vai trò, nhiệm vụ của cách mạng mỗi miền đối với cách mạng cả nước:
+ Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực bảo vệ căn cứ địa của cả nước để làm hậu
phương lớn cho tiền tuyến miền Nam.
+ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng
miền Nam thống nhất đất nước.
- Con đường thống nhất đất nước: Trong khi tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng mà Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ III đề ra, Đảng phải kiên trì con đường hòa bình thống nhất theo tinh thần của Hiệp định Giơ_ne_vơ, sẵn
sàng thực hiện hiệp thương tổng tuyển của thống nhất nước nhà, vì đó là con đường tránh được xương rơi, máu đổ cho
dân tộc ta và nó phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại. “Nhưng chúng ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác,
sẵn sàng đối phó với mọi tình thế. Nếu đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng liều lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm
lược miền Bắc, thì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng dậy đánh bại chúng hoàn thành độc lập và thống nhất tổ
quốc”.

đấu tranh chủ yếu của nhân dân miền Bắc thời kỳ này là chống âm mưu dụ dỗ của địch, cưỡng ép đồng bào ta di cư
vào Nam.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiện vụ chiến lược cách mạng miền Bắc ( 1954 – 1975).
10.1). Giai đoạn 1954 – 1960.
Xuất phát từ tình hình trên, Đảng chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đường lối cách mạng xã
hội chủ nghĩa của Đảng từng bước được hình thanhg và Phát triển.
- Tháng 9/1954, Bộ chính trị đã đề ra nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của miền Bắc là hàn gắn vết thương chiến tranh,
phục hồi kinh tế quốc dân, trước hết là phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp, ổn định xã hội, ổn định đời sống
nhân dân… để sớm đưa miền Bắc trở lại bình thường sau chín năm chiến tranh.
- Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần 7 ( 3/1955) và Hội nghị ban chấp hành Trung ương lần 8 ( 8/1955)
khóa II nhận định: muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và
dân chủ, điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân
17
miền Nam. Để củng cố miền Bắc, Ban chấp hành Trung ương chỉ rõ: trước hết cần hoàn thành cải cách ruộng đất, chia
ruộng đất cho nông dân, xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ; đưa miền Bắc tiến dần từng bước lên
chủ nghĩa xã hội; kiện toàn lãnh đạo các cấp và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất.
- Hội nghị đề ra kết hoạch 3 năm ( 1955 – 1957) với những mục tiêu cụ thể là:
+ Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, trên cơ sở đó phát triển sản xuất, nhằm giảm bớt khó khăn cho
nhân dân. Phấn đấu phục hồi mức sản xuất bằng mức năm 1939.
+ Chủ trương khôi phục nông nghiệp là trọng tâm, ban hành nhiều chính sách khuyến nông.
+ Đề ra chính sách khôi phục tiểu thủ công nghiệp và công thương nghiệp. Ban hành nhiều chính sách bảo hộ cho các
xí nghiệp công, tư thương nghiệp được phát triển sản xuất để phục vụ dân sinh; Cọi trọng thành phần kinh tế quốc
doanh, tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này dần dần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
- Tháng 12/1957, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thư 13 đã đánh giá thắng lợi của kế hoạch 3 năm
( 1955 – 1957) về công cuộc khôi phục kinh tế và đề ra nhiệm vụ soạn thảo đường lối cách mạng trong giai đoạn mới.
Tháng 11/1958 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thư 14 đã đề ra kết hoạch 3 năm phát triển kinh tế - văn
hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh ( 1958 – 1960).
+ Hội nghị xác định cải tạo kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và buôn bán nhỏ… chuyển sở hữu cá thể về sở
hữu tập thể. Lấy cải tạo làm trọng tâm nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố chế độ
dân chủ nhân dân. Xây dựng củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

vào miền Nam Việt Nam để tiến chiến lược Chiến tranh cục bộ, đồng thời dùng không quân và hải quân tiến hành
cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc với âm mưu đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá; phá hoại công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Băc; ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam buộc chúng ta phải kết thúc
chiến tranh theo điều kiện do Mỹ đặt ra.
- Trước tình hình đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 và lần thứ 12 của Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khóa III)
đã đề ra nhiệm vụ đối với miền Bắc là: Tiếp tục xây dựng miền Bắc vũng mạnh về kinh tế và quốc phòng trong điều
kiện có chiến tranh, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội
chủ nghĩa, động viên sức người, sức của ở mức cao nhất để chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, đồng
thời tích cực chuẩn bị đề phòng để đánh bại địch trong trường hợp chúng liều lĩnh mở rộng “Chiến tranh cục bô” ra cả
nước.
- Ban chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời xác định chủ trương chuyển hướng và nhiệm vụ cụ thể của miền Bắc
cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh.
18
+ Một là, phải kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình có chiến tranh phá hoại, bảo đảm
yêu cầu chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, tích cực chi viện cho miền Nam, đồng thời vẫn phù hợp với phương hướng
lâu dài của công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và chú ý đúng mức đến các yêu cầu của đời sống nhân dân.
+ Hai là. Phải tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển tình hình cả nước có chiến tranh; ra sức
tăng cường công tác đánh trả bảo vệ miền Bắc.
+ Ba là, ra sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam ở mức cao nhất để đánh bại địch ở chiến trường miền Nam.
+ Bốn là, phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức đi đôi với việc chuyển hướng kinh tế và tăng cường quốc
phòng cho phù hợp với tình hình mới.
Chủ trương chuyển hướng và những nhiệm vụ cụ thể nói trên của miền Bắc phản ánh quyết tâm của Đảng và nhân
dân ta trong việc kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, tiếp tục tăng cường sức mạnh của miền Bắc làm chỗ dựa vững
chắc cho sự nghiệp đánh thắng giặc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
→ Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ chiến lược cách mạng ở miền Bắc trong giai đoạn ( 1954 – 1975), với chủ
trương đưa miền Băc tiến lên chủ nghĩa xã hội ngay sau khi hoàn toàn giải phóng là phù hợp với yêu cầu phát triển
của cách mạng miền Bắc và yêu cầu phát triển chung của cách mạng cả nước. Điều đó đã thể hiện tính đúng đắn, sáng
tạo của Đảng trong việc đề ra chủ chương đường lối và nhiệm vụ của miền Bắc để miền Bắc trở thành hậu phương lớn
vững chắc chi viên cho tiền tuyến lớn miền Nam góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ
giải phong hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

những hành động khủng bố, đàn áp, phá cơ sở của ta, bắt bớ cán bộ ta và quần chúng cách mạng, chống những hành
động tiến công của địch, ngụy, giữ lấy quyền lợi quần chúng đã giành được trong thời kỳ kháng chiến nhất là ở những
vùng căn cứ địa và vùng du kích của ta.
- Những năm 1957 – 1958 đấu tranh chính trị là chính, xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang, lập các
chiến khu, bắt đầu đấu tranh vũ trang ở mức độ thích hợp để bảo vệ cách mạng, chuẩn bị chuyển cách mạng lên một
giai đoạn mới.
- Tháng 1/1959 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thư 15 họp, trên cơ sở phân tích tình hình thế gới và
trong nước. Hội nghị đã ra Nghị quyết chỉ rõ: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam
19
khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Con đường phát
triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Đó là con đường
lấy sức mạng của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp đấu tranh chính trị và
đấu tranh vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập chính
quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền nam.
11.2). Thời kỳ từ 1960 – 1965.
Từ ngày 5 -10/9/1960 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Hà Nội, Đại hội xác định nhiệm vụ
của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là:
Một là: đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Hai là: tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc
lập và dân chủ trong cả nước.
- Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) về cách mạng miền Nam.
Ngày 17/1/1960 ở Bến Tre, cuộc khởi nghĩa bắt đầu bùng nổ và nhanh chóng lan rông ra khắp các tỉnh Đồng bằng
sông Cửu long, Tây nguyên. Đến cuối năm 1960 phong trào Đồng khởi đã làm tan giã chính quyền của địch ở nhiều
nơi. Thăng lợi của phong trào Đồng khởi là bước nhảy vọt lich sử của cách mạng miền Nam.
- Từ năm 1961 chiến lược “Chiến tranh đơn phương” bị thất bại, Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”
một hình thức của chiến tranh thực dân kiểu mới.
- Trên cơ sở phân tích đánh giá tinh hình giữa ta và địch ở miền Nam kể từ sau ngày Đồng khởi, trong cuộc họp tháng
1/1961 và tháng 2/1962, Bộ chính trị Trung ương Đảng đã đề ra chủ trương chỉ đạo chính xác là: tiếp tục giữ vững tư
tưởng chiến lược tiến công, đưa đấu tranh vũ trang phát triển lên song soang với đấu tranh chính trị, tiến công địch
trên cả ba vùng chiến lược, đô thị, nông thôn đồng bằng và nông thôn rừng núi, bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính

và Đông Dương hóa chiến tranh”. Thực chất của chiến lược chiến tranh này là Mỹ trang bị vũ khí quân sự hiện đại
cho Ngụy quân, Ngụy quyền Gòn để thực hiện âm mưu thâm độc của chúng là dùng người Việt đánh người Việt, tiếp
tục thực hiện chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, rút dần quân Mỹ về nước.
Để củng cố tinh thần quyết tâm chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta, ngày 1/1/1969 trong thư chúc mừng năm
mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”.
- Tháng 1/1970 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 18 ( khóa III) họp đã đề ra chủ trương mới chống
lại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Tháng 6/1970 Hội nghị Bộ chính trị đã chủ trương chuyển
hướng tiến công, lấy nông thôn làm hướng chính, tập trung ngăn chặn và đẩy lùi chương trình “bình định” của địch.
20
- Trong những năm 1970 – 1971 Đảng đã chỉ đạo cách mạng miền Nam tiếp tục giữ vững và phát triển lực lượng,
từng bước đánh bại âm mưu “Việt Nam hóa và Đông Dương hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Mùa xuân năm 1972
Đảng chỉ đạo cuộc tiến công chiến lược vào Thành cổ Quảng Trị, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ để buộc địch phải
chấm dứt chiến tranh, thương lượng ở thế thua.
- Trước tình hình đó đế quốc Mỹ đã điên cuông đối phó bằng cách “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh ở miền Nam, mở
cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thư hai bằng những thủ đoạn chiến tranh hủy diệt tàn bạo nhất, song cũng
không cứu vãn nổi tình hình. Ngày 27/1/1973, Mỹ đã phải ký kết Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình
ở Việt Nam, rút quân về nước.
- Mặc dù bị thất bại nặng nề, phải ký vào Hiệp định Pari chấp nhận rút quân về nước, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan
cố không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược Việt Nam, tiếp tục tiến hành chiến tranh để áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới
và chia rẻ lâu dài đất nước ta. Ngay sau khi Hiệp định Pari được kí kết, dươi sự chỉ đạo của Mỹ chính quyền Nguyễn
Văn Thiệu đã ngang ngược phá hoại Hiệp định, liên tiếp mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta.
- Sau Hiệp định Pari, Đảng đã chủ trương giữ vững thời cơ, nắm vững chiến lược tiến công, phát triển lực lượng, tiến
tới giải phóng miền Nam. Nhận thấy thế và lực của ta đã hơn địch, ta có thời cơ chiến lược để giải phóng miền Nam.
Hội nghị Bộ chính trị tháng 1/1975 đã hạ quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc theo kế hoạch hai năm
1975 – 1976. Nếu thời cơ thuận lợi đến thì quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975.
- Đảng đã chỉ đạo chọn Tây Nguyên làm chiến trường trọng điểm và mở màn chiến dịch Tây Nguyên bằng cuộc tấn
công thị xã Buôn Ma Thuật ( 10/3/1975), giải phóng Tây Nguyên. Tiếp đến mở chiến dịch Hếu – Đà Nẵng, giải phóng
Huế ( 25/3/1975) và Đà Nẵng ( 29/3/1975). Ngày 31/3/1975 Bộ chính trị quyết định giải phóng Sài Gòn trước tháng
5/1975, chỉ đạo tập trung mọi lực lượng cho trân quyết chiến cuối cùng này. Ngàu 9/4/1975 chiến dịch giải phóng Sài
Gòn được mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức mở màn, đến trưa ngày 30/4/1975 kết thúc thắng lợi. Đến

- Nề kinh tế kế hoạch hóa tập trung là nền kinh tế chỉ có hai thành phần sở hữu về tư liệu sản xuất là: Sở hữu Nhà
nước và sở hữu tập thể, được thể hiện dưới dạng Quốc doanh và Hợp tác xã.
21
- Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp
đặt từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của nhà nước. Tất cả phương hướng sản
xuất, vật tư, vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương,…đều do nhà nước quyết định. Nhà nước
giao chỉ tiêu kế hoach, cấp phát vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp nộp lại sản phẩm cho nhà nước. Lỗ thì nhà nước
chịu lãi thì nhà nước thu.
Thứ hai:
- Nề kinh tế hai thành phần chịu sự quản lý tập trung của Nhà nước thông qua kế hoạch hóa là khâu trung tâm.
- Các cơ quan can thiệp sâu vào mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách
nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình. Những thiệt hại vật chất do các quyết định sai lầm
gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu. Các doanh nghiệp không được quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh,
đồng thời cũng không bị ràng buộc trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.
Thứ ba:
- Động lực cơ bản của vận động kinh tế là sự giác ngộ cách mạng của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức, và kỷ luật
hành chính, được tạo bởi công tác chính trị, tư tưởng công tác động viên tinh thần.
- Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan hệ hiện vật là chủ yếu còn quan hệ hàng hóa – tiền tệ không được
coi trọng mà chỉ là hình thức. Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp”. Vì vậy, sức lao động
hay các văn bằng phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý.
Thư tư: Bộ máy quản lý nhà nước cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, kém năng động gây ra tình trang cửa quyền quan
liêu, hách dịch nhưng lại được hưởng chế độ, quyền lợi cao hơn người lao động.
12.2). Các hình thức bao cấp trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
- Bao cấp về giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, vật tư, thiết bị hàng hóa thấp hơn giá trị thực tế của chúng nhiều
lần so vơi giá cả thị trường. Do đó, hạch toán kinh tế chỉ mang tính hình thức.
- Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên
chức, người lao đông theo định mức qua hình thức tem phiếu. Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá cả thị
trường đã biến chế độ tiền lương thành hiện vật. Do đó, đã không kích thích được người lao động và phá vỡ nguyên
tắc phân phối theo lao động.
- Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn bằng ngân sách nhà nước, nhưng lại không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật

1986 đã làm cho đất nước ta lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng nghiêm trọng nhất là trong thập niên 80 của thế kỉ
XX và đến năm 1986 Đảng và Nhà nước ta đã phải tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội.
22
Câu 13: Tại sao nói: đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nước ta trong năm 1986 là một nhu cầu cấp
thiết? Trình bày quá trình thay đổi tư duy về kinh tế thị trường của Đảng từ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ 6 (1986) cho tới nay?

Bài làm.
13.1) Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nước ta trong năm 1986 là một nhu cầu cấp thiết. Bởi vì:
+ Trải qua 10 năm thực hiện hai kế hoạch kinh tế 5 năm xây dụng chủ nghĩa xã hội ( 1976 – 1980 và 1981 – 1985)
nhân dân ta cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội và đấu tranh bảo vệ Tổ
quốc. Tuy nhiên chúng ta đã gặp phải rất nhiều những khó khăn thử thách, yếu kém do những sai lầm khuyết điểm gây
ra, dẫn đến sự khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng ở những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX. Đời sống của
nhân dân vô cùng khó khăn, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, lạm phát tăng cao chưa từng có trong lịch sử đất
nước ta. Hoàn cảnh đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải tiến hành công cuộc đổi mới.
+ Do yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển đất nước, cần phải khắc phục những sai lầm, khuyết điểm của 10 năm xây
dựng chủ nghĩa xã hội trước đó, nhằm đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm cuối
thập niên 80, đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến lên. Đổi mới còn xuất phát từ sự thay đổi
trong tình hình thế giới, nhất là trước cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới dẫn đến sự sụp đổ của hệ
thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Như vậy đổi mới là vấn đề sống còn của chủ nghĩa xã hội, ở nước ta
đổi mới là vấn đề phù hợp với xu thế tất yêu của thời đại.
+ Dưới sức ép của tình thế khách quan và hoàn cảnh hiện tại lúc bấy giờ của đất nước, nhằm vượt qua cuộc khủng
hoảng kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã có những bước cải biến nền kinh tế theo hướng thị trường, tuy nhiên
còn chưa toàn diện, chưa triệt để, đó là:
Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban bi thư Trung ương ( khóa IV), thực hiện chính sách khoán sản phẩm trong nông
nghiệp; bù giá vào lương ở Long An.
Nghị quyết Trung ương 8 ( khóa V – 1985) về giá – lương – tiềm.
Nghị định số 25 và Nghị định số 26/CP của Chính phủ.
Đây là những căn cứ thực tế để Đảng và Nhà nước ta đi đến quyết định đổi mới về cơ bản cơ chế quản lý kinh tế.
+ Đề cập đến sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI ( 12/1986) khẳng

nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của nhân loại, bởi vì kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ
cao.
- Hai là: kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
+ Kinh tế thị trường xét dưới góc độ “một kiểu tổ chức kinh tế” là phương thức tổ chức, vận hành nền kinh tế, là
phương tiện điều tiết kinh tế lấy cơ chế thị trường làm cơ sở để phân bổ các nguồn lực và điều tiết mối quan hệ giữa
con người với con ngươi. Kinh tế thị trường đối lập với kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc chứ không đối lập với các chế
độ xã hội.
+ Kinh tế thị trường vừa có thể liện hệ với chế độ tư hữu vừa có thể liên hệ với chế độ công hữu. Vì vây, kinh tế thị
trường tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Từ ngày 24 – 27/6/1991 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng họp tại Hà Nội. Trong khi khẳng định chủ
trương tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế vừa
cạnh tranh vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất, đã đưa ra kết luận quan trọng rằng
sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, nó tồn tại khách quan và cần thiết cho xây dựng chủ nghĩa xã
hội.
Đại hội xác định cơ chế vận hành của nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là
“cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác. Trong cơ
chế kinh tế đó, các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp
tác và liên doanh tự nguyện; thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động
và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Nhà nước quản lý nền kinh tế để định hướng dẫn dắt, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh
theo cơ chế thị trường, kiểm soát và xử lý các vi phạm trong hoạt động kinh tế đối với các thành phần kinh tê. Đảm
bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội.
Từ ngày 28/6 – 1/7/1996 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thư VIII của Đảng họp tại Hà Nội, tiếp tục thực hiện đường
lối trên, đã để ra nhiệm vụ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Ba là: Có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Kinh tế thị trường tồn
tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, có thế và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Ở bất kỳ xã hội nào, khi lấy kinh tế thị trường làm phương tiện có tính cơ sở để phân
bổ các nguồn lực kinh tế, thì kinh tế thị trường cũng có những đặc điểm chủ yếu sau:
+ Chủ thể kinh tế có tính độc lập, nghĩa là có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, lỗ, lãi tự chịu.

- Về quản lý: phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, đảm bảo vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước dưới
sự lãnh đạo của Đảng. Tiêu chí này thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tiêu cực, đảm bảo quyền
lợi chính đáng của nhân dân.
+ Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh
tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển.
Như vậy, sau suốt một thời gian dài từ 1954 – 1986 Nhà nước ta đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch
hóa tập trung, đã dấn tới sự khủng hoảng kinh tế trầm trọng vào những năm cuối của thập niên 80, vì vậy mà việc
Đảng – Nhà nước ta tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế tại Đại hôi Đảng lần VI ( 12/1986) là một nhu cầu cấp
thiết. Với đường lối đổi mới từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường là rất kịp thời, đúng đắn và phù
hợp với xu thế phát triển của thời đại. Sự đổi mới tư duy lãnh đạo xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường của
Đảng ta từ Đại hội Đảng lần VI đến nay, càng cho thấy rằng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là phù hợp và đúng đắn. Nhờ vậy mà nền kinh tế nước ta đã vượt qua được cuộc khủng hoảng và hiện nay đang
tiến bước trên con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa và mục tiêu từ nay đến năm 2020 đư nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp là rất khả quan.
Câu 14 Trình bày và phân tích đường lối đối ngoại của Đảng ta kể từ khi đổi mới ( 1986) cho tới
nay?
Bài làm.
14.1). Hoàn cảnh lịch sử.
- Thế giới từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX.
+ Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại, đã có tác động mạnh mẽ sâu sắc đến mọi
quốc gia trên thế giới.
+ Trật tự 2 cực ( Liên Xô – Mỹ) hình thành sau chiến tranh thế giới thứ II sụp đổ, thế giới ngày nay đang hình thành
một trật tự mới đa cực, xu thế phát triển chung: hòa bình, hợp tác và phát triển.
+ Các nước chuyển từ đối đầu, chạy đua vũ trang sang đối thoại, hợp tác, chạy đua phát triển kinh tế coi đấy là tiêu
chí khẳng định sức mạnh và vị thế quốc gia.
+ Trong khi các nước TBCN lợi dụng cuộc CMKHKT đã tiến hành cải cách để vượt qua cuộc khủng hoảng và ngày
càng phát triển năng động trở nên giàu có, thì các nước xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô lâm vào khung hoảng
nghiêm trọng.
→ Cần thiết phải có sự thay đổ tư duy, điều chính chiến lược đối nội, đối ngoại cho phù hợp với tình hình thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status