ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN
NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
1
Câu 1: Vấn đề cơ bản về học thuyết Cung tiền: M1?
- Trong quá trình cung tiền, ai là người quyết định cung tiền trong nền kinh tế?
Ý 1:cung tiền chỉ lượng cung cấp tiền tệ trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng
hóa, dịch vụ, tài sản, v.v của các cá nhân (hộ gia đình) và doanh nghiệp(không kể các tổ chức
tín dụng).
M1: bằng tổng lượng tiền mặt (M0) và tiền mà các ngân hàng thương mại gửi tại ngân hàng trung ương.
M1 còn được gọi là đồng tiền mạnh.Có 4 đối tượng quyết định cung tiền trong nền kinh tế
- Ngân Hàng trung ương
Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc
trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi
hành chính sách tiền tệ. Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn
định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ. Hầu hết các ngân
hàng trung ương thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định đối với Chính
phủ.
- Các tổ chức nhận tiền gửi
Hay còn gọi là Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với
nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Tổ chức tín dụng bao gồm hai loại: ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
- Những người gửi tiền
- Những người đi vay
Từ đây giúp ta biết được nhưng chủ thể mà ta cần tác động đến nếu muốn điều chỉnh cung tiền.
Ý 2:Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và
thực thi, thông qua các công cụ , biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng
tiền, tạo công ăn việc làm ,tăng trưởng kinh tế .
Chúng ta có thể hiểu, chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà NHTW thông qua các hoạt động
của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu
2
Và ngược lại khi bán trái phiếu khi nền kinh tế lạm phát cao
- Ý nghĩa của học thuyết cung tiền trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam?
Gắn liền với công cuộc đổi mới & mở cửa của nước ta, có nhiều yêu cầu cần giảI quyết cùng lúc như: vừa
ổn định vừa phát triển KT trong nước,vừa mở rộng giao lưu, quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài,nhu cầu mở rộng lượng tiền cung ứng ngày càng lớn dẫn đến sự xác lập quan hệ cung-cầu mới về
tiền, trong khi đó vẫn phải tiếp tục ổn định KT Vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ,tạo lập nền tảng cho
sự phát triển chung.
Ở Việt Nam,Dựa vào học thuyết cung tiền, Ngân hàng nhà nước đã đẩy mạnh dùng các công cụ sẵn có để
thực thi chính sách tiền tệ cho việc ổn định tình hình kinh tế cho từng thời điểm thích hợp.
Ta có lấy ví dụ về việc khi ngân hàng NNVN quyết định tung trái phiếu ra bán ở thời kỳ 1999 để thu hồi
1 lượng lớn tiền mặt đang có trong dân giảm lạm phát.
Hay việc thắt chặt tiền tệ khi ngân hàng NNVN sử dụng vào năm 2011, với mức dự trữ bắt buộc tăng lên
gấp đôi, giảm bớt múc tăng trưởng tín dụng…giúp nền kinh tế nước ta dần hồi phục trước tình hình khủng
hoảng chung trên toàn thế giới.
Bước vào thế kỉ 21, Việt Nam xác định mục tiêu tăng trưởng KT &công bằng XH, vì vậy việc lựa chọn
giaỉ pháp nào để xây dựng &điêù hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn là 1 vấn đề khó
khăn,phức tạp.
Câu 2: Vai trò trung gian tài chính
Các tổ chức tài chính trung gian là các tổ chức tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ người có vốn tới
người cần vốn. Tuy nhiên không như dạng tài chính trực tiếp, người cần vốn và người có vốn trao đổi trực
tiếp với nhau ở thị trường tài chính, các trung gian tài chính thực hiện sự dẫn vốn thông qua một cầu nối.
Nghĩa là người cần vốn muốn có được vốn phải thông qua người thứ ba, đó chính là các tổ chức tài chính
gián tiếp hay các tổ chức tài chính trung gian.
Vốn luân chuyển trong nền kinh tế chủ yếu thông qua các tổ chức tài chính, các ngân hàng
thương mại mà không phải qua thị trường tài chính bởi có những chi phí thông tin và chi phí giao dịch lớn
trong nền kinh tế.
Để những người cho vay nhân ra được những người muốn vay và để những người đi vay nhận ra
được những người muốn ch vay là một vấn đề đòi hỏi chi phí đắt tiền. Khi một người cho vay tìm ra được
4
một người muốn cho vay, người này còn có thêm một khó khăn là phải chi phí thì giờ và tiền cho một
5
Vốnluânchuyểntrongnềnkinhtếchủyếuthông qua cáctổchứctàichính,
cácngânhàngthươngmạimàkhôngphải qua thịtrườngtàichínhbởicónhững chi phíthông tin và chi
phígiaodịchlớntrongnềnkinhtế.
Đểnhữngngườichovaynhânrađượcnhữngngườimuốnvayvàđểnhữngngườiđivaynhậnrađượcnhữngn
gườimuốnchvaylàmộtvấnđềđòihỏi chi phíđắttiền.Khimộtngườichovaytìmrađượcmộtngườimuốnchovay,
ngườinàycòncóthêmmộtkhókhănlàphảichiphíthìgiờvàtiềnchomộtcuộckiểmtratínnhiệmđểbiếtđượcliệungườ
ivaycóthểhoàntrảvốncủaông ta không.Ngoàicác chi phíthông tin này,
quátrìnhthựctếchovayhoặcmuamộtchứngkhoáncầnđếncác chi phígiaodịch ; trongtrườnghợpchovayvốn,
phảiviếtramộthợpđồngvaythíchhợp,còntrongtrườnghợpmuamộtchứngkhoán,phảithanhtoánchongườimôigi
ới.
Trunggiantàichínhvàngânhàngthươngmạicóthểgiúpgiảm chi phígiaodịchtrêncơsở: tiếtkiệm do
quymô(gópnhữngvốnmuốnchovaycủanhiềunhàđầutưvớinhauchovậyhọcóthểthuđượclợiíchnhờphươngphá
ptiếtkiệm do quymô, tứclà, sựgiảm chi phígiaodịchchomỗiđô la
đầutưkhiquymôgiaodịchtănglên)vàmởrộnghiểubiếtđểgiảm chi phí( chẳnghạn, mộtngânhàngcóthể chi
nhiềutiềntrongviệcthuêmộtluậtsưđểsoạnmộthợpđồngpháplývaytiềnhoànhảothìhọcóthểsửdụnghợpđồngnày
nhiềulầntrongnhữnggiaodịchchovaycủahọ, nhưthếhạthấp chi phívềluậtphápchomỗigiaodịch). Nhưvậy,
trunggiantàichínhcóthểcungcấpchocáckháchhàngcủamìnhnhữngdịchvụlinhhoạt,
tứclànhữngdịchvụlàmdễdàngchocáckháchhàngthựchiệngiaodịch.
Hơnnữa,trongnềnkinhtếluôntồntạitìnhtrạngthôngtin
khôngcânxứngnênxuấthiệnrủirođạođứcvàlựachọnđốinghịchtronghoạtđộngluânchuyểnvốn.
Lànơinắmbắtnhiềuthông tin củakháchhàngcũngnhưcácdoanhnghiệp, tổchứckinhtế,
cáctrunggiantàichínhsẽgiúplàmgiảmnhữngloạirủironàyvàkhiếnchocácđồngvốnđượcđảmbảo an toànhơn.
Ngườichovaysẽantâmhơnvềkhoảntiềncủamình.
Mộtđặcđiểmnữakhiếncáctrunggiantàichínhvàngânhàngthươngmạiđượcưachuộnghơnthịtrườngtàic
hính,đólà:
đốivớinhữngngườicóquymôvốnnhỏthìkhảnănghọcóthểthamgiathịtrườngtàichínhlàrấtthấpbởinhữngràocảnv
ềchiphíhayđiềukiệnđểthamgia.Cònđốivớinhữngngườicónhucầusửdụngvốnkhôngquálớnnhưngvẫnmuốncó
nhucầusửdụngvốnchocôngviệccủamìnhthìviệcthamgiatrênthịtrườngtàichínhlàđiềukhôngthể.Trongnhữngtr
ườnghợptrên,phươngánkhônngoannhấtchínhlàthôngquatổchứctàichínhtrunggianđểđápứngnhucầuvềvốncủ
giữa nam và nữ)
+ Đa dạng hóa công nghiệp
7
+ Hiện đại hóa nông nghiệp
+ Phát triển doanh nghiệp nhỏ
+ Khuyến khích hoạt động kinh doanh sáng tạo
+ Phát triển thị trường vốn
Do vậy, các Tổ chức tài chính Phát triển (DFC) có thể sẽ buộc phải cho vay vốn cho các dự án
theo đó:
+ Cơ cấu tài chính không đáp ứng được các tiêu chuẩn thương mại thông thường. Nhìn chung,
điều này có nghĩa là hệ số giữa vốn vay và vốn cổ phần thường quá cao do việc các cơ quan chủ quan dự
án không có khả năng huy động đủ vốn cổ phần. Các DFC có thể bổ xung cho nguồn vốn cổ phần còn
thiếu đó bằng cách đầu tư cổ phần vào một phần của dự án, mặc dầu làm như vậy có nghĩa là làm tăng rủi
ro của tổ chức đó tới một mức độ không còn được coi là hợp lý.
+ Ngân lưu của dự án không đáp ứng được các điều kiện thanh toán nợ thông thường. Khi đó, các
DFC buộc phải gia hạn thời gian ấn hạn, hoặc các thời hạn cho vay thông thường. Có thể các DFC sẽ làm
được như vậy nhưng đối với một DFC hoạt động trên cơ sở vốn lưu chuyển tuần hoàn, việc dự án chậm
thanh toán sẽ làm hại tới khả năng cấp vốn vay cho các dự án khác trong tương lai (và có thể là những dự
án đáng được cấp vốn vay hơn).
+ Ít hoặc không có hình thức bảo lãnh thế chấp phù hợp. Điều này thường đúng đối với trường
hợp các doanh nghiệp nhỏ (theo Kitchen, 1978) hoặc các doanh nghiệp đã mang thế chấp các tài sản hiện
có. Trong trường hợp các doanh nghiệp bị thất bại, thị trường mua bán các loại tài sản này lại rất có thể
chỉ mang tính chất hạn hẹp, do vậy khi đem bán chẳng thu được là bao. Tại các quốc gia càng nhỏ và
càng nghèo thì điều này càng đúng.
+ Các doanh nghiệp chủ đầu tư có ít kinh nghiệm trong lĩnh vực đang xin đầu tư hoặc trong các
lĩnh vực khác. Những rủi ro này rất có thực nếu như ngành công nghiệp hoặc loại hình công nghệ liên
quan là mới đối với quốc gia đó.
Như vậy, một điều rõ ràng là DFC phải chịu những rủi ro thương mại và tài chính rất lớn, và căn
cứ theo lý thuyết thị trường vốn, điều này sẽ đòi hỏi phải có một tỷ lệ sinh lợi. Tuy nhiên, việc phải đáp
ứng được các mục tiêu quốc gia của chính phủ lại thường có nghĩa là các tổ chức ngày thường buộc phải
Đây có thể là một quan điểm gây nhiều tranh cãi, nhưng xem ra chúng ta nên tạo điều kiện cho
DFC hoạt động như là những thể chế tài chính tốt hơn là như những tổ chức xã hội và nên để cho chính
phủ tập trung giải quyết hoặc giảm bớt các biến dạng kinh tế thường buộc các tổ chức DFC phải giải
quyết những mục tiêu kinh tế và xã hội có thể mâu thuẫn nhau. Mối nguy hiểm của csc dự án yếu kém về
tài chính là ở chỗ mức sinh lợi của các dự án này thấp hoặc lâu sinh lợi (hoặc cả hai). Nếu phải cấp tài
chính cho những dự án như vậy, thì khả năng cấp vốn tài chính cho các dự án tương lai của các DFC sẽ bị
9
hạn chế, gây hại cho tăng trưởng kinh tế và tài chính quốc gia. Kinh nghiệm của DFC (Công ty Tài chính
Quốc Tế) là một ví dụ minh họa cho sự hoạt động kém hiệu quả của các DFC, IFC thu được mức sinh lợi
trung bình là 15% cho toàn bộ hoạt động đầu tư của mình, nhưng phần đầu tư của IFC vào các tổ chức
DFC chỉ mang lại được mức sinh lợi 10%.
Lý do tồn tại của một tổ chức DFC trong một nền kinh tế thị trường (hoặc hỗn hợp) là để nhằm
cung cấp vốn dài hạn (vốn vay hoặc vốn cổ phần) mà thị trường tài chính không có khả năng cung cấp.
Chúng ta không thể phủ nhận được rằng những khoản vốn đó là cần thiết cho công nghiệp, nông nghiệp,
một số ngành dịch vụ nhất định và các dự án cơ sở hạ tầng trong những trường hợp chính phủ không trực
tiếp cấp tài chính hoặc không dùng được vốn ngắn hạn để cấp vốn do không có khả năng có vốn liên tục
để cấp. Các tổ chức DFC đã cung cấp được nguồn vốn dài hạn tới mức độ mà các tổ chức đó có thể làm
được. Câu hỏi lúc này đặt ra là liệu các tổ chức DFC lẽ ra đã có thể làm việc đó một cách hiệu quả hơn
theo một phương thức khác tốt hơn hay không? Đồng thời, chúng ta cũng có thể thấy một điều rằng các tổ
chức DFC thường hay cấp vốn tài chính với mức lãi suất thấp hơn mức thị trường, mọt phần là do các tổ
chức này được nhận vốn ưu đãi từ chính phủ và đợc hưởng lợi bởi chính sách kiềm dchees lãi suất. Các tổ
chức này còn đóng vai trò là cơ quan cho vay lại (on-lending) các khoản vốn của các cơ qan cho vay nước
ngoài, chủ yếu cấp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp cũng thường được nhận mức
lãi suất ưu đãi. Trong hầu hết mọi trường hợp, các tổ chức này có một vị trí được ưu ái và bảo hộ trong
khu vực tài chính, là nơi cũng ít diễn ra sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính.
Ở những nước chỉ có một số ít các tổ chức tài chính (và các tổ chức này lại hạn hẹp trong chiến
lược cho vay) và các hoạt động kinh doanh chỉ tập trung vào mục đích chộp giật cũng như khả năng bảo
lãnh vay nợ còn bị hạn chế, thì sự tồn tại của các tổ chức DFC là một sự cần thiết. Phần lớn các nước kém
phát triển đều ở trong tình trạng như miêu tả trên đây, nhưng các chính phủ theo đuổi mục đích phát triển
một khu vực tài chính cạnh tranh và ngày càng lớn cũng cần phải thấy rằng về lâ dài, vị trí được ưu ái của
giải pháp thực tiễn nào thay thế cho hình thức DFC. Tuy nhiên rất nhiều quốc gia và nhiều tổ chức DFC
tại các nước đó hiện đã đạt tới mức độ chín muồi nhất định để có thể xem xét kỹ tới vai trò tương lai của
các tổ chức DFC đó.
(e) Các ngân hàng đầu tư theo kiểu Anh (merchant bank)
Các ngân hàng đầu tư là hình thức bổ trợ cho các ngân hàng thương mại theo kiểu Anh. Ở Mỹ,
chúng mang tên gọi là Investment Bank. Với việc loại bỏ các ủy ban chứng khoán nhỏ tại Mỹ vào năm
1975, các ngân hàng đầu tư đã chuyển hóa thành các tập đoàn tài chính lớn và tình hình hiện nay cho thấy
là các ngân hàng đầu tư của Anh cũng sẽ phát triển theo hướng tương tự khi chúng ta xét tới thỏa thuận về
việc xóa bỏ các ủy ban chứng khoán nhỏ tại đây. Nhìn chung, các ngân hàng tổng hợp thực hiện chức
năng của cả ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. Do vậy, chúng ta sẽ thường chỉ thấy hình thức
đầu tư này (merchant bank) tại những nước có ngân hàng thương mại theo kiểu Anh hoặc Mỹ.
Trước đây, các ngân hàng đầu tư này chủ yếu chuyên doanh cung cấp tài chính thương mại, đặc
biệt là chuyên chấp nhận hối phiếu. Trong thế kỷ vừa qua, các ngân hàng này chuyển dần thành các ngân
11
hàng phát hành và kinh doanh chứng khoán, lúc đầu chủ yếu là các loại cổ phiếu của Chính phủ nước
ngoài và sau đó là cổ phiếu công ty. Các ngân hàng này cũng cung cấp nhiều loại dịch vụ công ty khác
nhau và thực hiện cả dịch vụ quản lý đầu tư (porttolio manager) cho các công ty và cá nhân. Khác với các
ngân hàng đầu tư kiểu Mỹ và các ngân hàng tổng hợp, các ngân hàng này không trực tiếp kinh doanh
chứng khoán. Trong cơ cấu tài chính kiểu Anh hiện nay, chức năng kinh doanh chứng khoán được dành
cho các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán. Mặc dù các ngân hàng đầu tư kiểu Anh có cung
cấp tài chính công ty (corporalefinace) và nhận tiền gửi, tổng lượng huy động trực tiếp của các ngân hàng
này thường là rất nhỏ. Các sản phẩm tài chính trọn gói chủ yếu bao gồm vốn của các tổ chức khác, phần
lớn là của các ngân hàng và các thể chế thương mại. Theo quan điểm của chúng tôi, tầm quan trọng chính
của các ngân hàng này chính là ở vai trò của chúng trên thị trường chứng khoán, và do vậy tôi sẽ để dành
mục này cho chương 6.
(g) Các quỹ tiết kiệm tại bưu điện (Posst Olllce SavingsBunks – FOSB).
Tại rất nhiều nước đang phát triển, bưu điện chính là thể chế nhận tiền gửi tiết kiệm dễ tiếp cận
nhất đối với đại bộ phận dân chúng, do bưu điện có chi nhánh ở khắp nơi, đặc biệt là các vùng nông thôn,
đồng thời lại không quá uỷ quyền trong con mắt của các tầng lớp thấp. Do đó, loại thể chế này huy động
được những khoản tích luỹ mà lẽ ra đã được cất kỹ trong gương hoặc đem ra chi dùng. Đồng thời, phương
mà lẽ ra các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí có thể thực hiện, vì vậy gây kiềm chế sự tăng trưởng của thị
trường chứng khoán và hạn chế nguồn vốn dài hạn dành cho khu vực tư nhân.
Mặc dù tầm quan trọng của các thể chế này trong tiết kiệm và đầu tư vẫn còn nhỏ bé tại các nước
đang phát triển, hiện tình hình cho thấy tại một số nước, các tổ chức này đang phát triển rất nhanh.
UNESCO (1973) có nhận xét về: “tốc độ tăng trưởng của các công ty bảo hiểm tại châu phi”. Tại
Indonesia, nguồn vốn huy động được bởi các công ty bảo hiểm nhân thọ và quỹ bảo hiểm xã hội tăng
47% và 45% trong các năm 1978 và 1979. (Mức tăng ưowng ứng trong chỉ số CPI là 28%). Xu hướng các
chính phủ thường cho phép cơ chế tích luỹ này được ưu đãi về thuế sẽ kích thích sự tăng trưởng của hình
thức này, mặc dù khi đó thị trường tài chính sẽ bị thêm nhiều biến dạng. Ngoài ra, có thể chế này đôi lúc
bị coi là những đối tượng đầu tư quá dè dặt và bảo thủ, không chạy theo mức sinh lợi cao. Trên thực tế, có
một số trường hợp chỉ mang lại sức sinh lợi vô cùng thấp. Trong những trường hợp như vậy, tác động của
sự biến động trên thị trường có thể dẫn tới tình trạng vốn bị hướng vào các khoản đầu tư an toàn nhưng
lợi tức thấp thay vì vào các khoản đầu tư mới, rủi ro cao hơn nhưng lợi tức hứa hẹn cũng cao hơn. Sự tăng
trưởng của bảo hiểm nhân thọ cũng chịu tác động của tỷ lệ lạm phát cao và tình trạng bị kiềm chế của thị
trường tài chính. Emery (1970) có cân nhắc rằng “khu vực bảo hiểm tại hầu hết các nước Đông Nam Á
không phải là một nguồn vốn đáng kể”. Chỉ có ở Malaysia các công ty bảo hiểm mới có vai trò quan
trọng trong việc cung cấp nguồn vốn phí ngân hàng. Ở Singapre, Philippine và Miến điện, các công ty
này chỉ đóng một vai trò tương đối quan trọng. Tại các nước khác, khu vực này luôn hoàn toàn không
quan trọng. Emery cho rằng sự tăng trưởng của khu vực này bị hạn chế do “chỉ có một bộ phận nhỏ dân
13
chúng có quan tâm tới bảo hiểm nhân thọ “và “tỷ lệ lạm phát cao ở indonesia và Việt Nam, 2 trong số
nhiều nước khác, cũng làm cho việc bán dịch vụ bảo hiểm bị hạn chế. Đối với các nước Mỹ la tinh, Riette
(1979) cũng nhận thấy rằng “tỷ lệ tích luỹ qua hình thức bảo hiểm nhân thọ đã ngày một giảm trong
những năm gần đây, chủ yếu là do tác động của lạm phát đã hạn chế việc bán các hợp đồng và chính sách
bảo hiểm nhân thọ”.
Các số liệu về nguồn vốn đầu tư cho hình thức bảo hiểm nhân thọ tại các nước thứ ba không được
đầy đủ lắm, mặc dù cảm giác chung là doanh số không lấy gì làm quan trọng. Rietti (1979) cho rằng tại
Châu Mỹ la tinh, chí có khoảng 5% bộ phận dân chúng tham gia hoạt động kinh tế là có mua bảo hiểm
sinh mạng, và trong toàn khu vực, chỉ khoảng 25% thu nhập quốc dân được mua bảo hiểm nhân thọ, trong
khi đó tại các nước phát triển, con số này là 100%.
đầu tư công nghiệp và kích thích giá nhà tăng cao.
Dĩ nhiên, các tổ chức này vay ngắn cho vay dài. Do vậy, chức năng chính của loại hình thể chế
này là chuyển hoá thời hạn, và cũng vì vậy mà các tổ chức này rất dễ bị đổ (run). Nhưng nhìn chung, họ
cũng tránh được rủi ro này thông qua việc nhận tiền gửi của nhiều đối tượng gửi nhờ, phần lớn các đối
tượng muốn gửi tiền để có đủ tiêu chuẩn vay đầu tư nhà ở. Mức tiền gửi ổn định và người vay trả nợ đúng
hạn là các yếu tố quan trọng đối với hoạt động của các tổ chức này. Tại một số nước, các tổ chức này
được chính phủ bảo đảm (thậm chí do chính phủ sở hữu). Tại các nước khác, như ở Anh chẳng hạn các tổ
chức này được bảo đảm bởi các thoả thuận “cứu hộ” ký kết giữa các tổ chức với nhau nhằm được giúp đỡ
trong trường hợp đổ bể. Các tổ chức này thường thu hút những người tích luỹ nhỏ và có cạnh tranh với
ngân hàng và bưu điện trong việc thu hút vốn gửi. Tuy nhiên, đối với người gửi tiền thì động cơ chính
chính là lời hứa sẽ được vay đầu tư nhà ờ sau khi đã đạt được một mức tiền gửi nhất định hoặc sau một
thời hạn tích luỹ nhất định. Vì lý do đó, các tổ chức cấp vốn vay xây nhà cũng có tác dụng khuyến khích
tích luỹ và có thể cũng tăng được tích luỹ, chứ không chỉ đơn thuần chuyển tích luỹ từ hình thức thể chế
này sang hình thức thể chế khác.
Một điều thú vị là nguồn gốc của các tổ chức cho vay đầu tư xây dựng bắt đầu tư những thể chế
tiết kiệm và cho vay phi chính thức tại miền bắc nước Anh trong thế kỷ 19. Có một số tồn tại mãi, song
cũng có một số chấm đứt hoạt động sau khi các thành viên của mình đã mua nhà xong. Quy mô và tầm
quan trọng của loại hình tổ chức này trong khu vực tài chính của Anh cho thấy tiềm năng phát triển thành
các tổ chức chính thức của các tổ chức tài chính phi chính thức tại các xã hội đang phát triển.
Tại các thuộc địa của Anh, mô hình này cũng diễn ra tương tự, ví dụ như tại Malaysia. Tuy nhiên,
tại các nước khác, các ngân hàng tiết kiệm và cho vay và các ngân hàng cho vay thế chấp mua nhà thường
là nguồn cung cấp vốn vay đầu tư ở nhà chính.
(i) Các ngân hàng tiết kiệm và cho vay (Savings and Loans Banks).
15
Các ngân hàng tiết kiệm (tên gọi tắt của các loại tổ chức nêu trên) là những trung gian tài chính
phi lợi nhuận, có những mục tiêu sau đây:
+ Nhận tiền gửi tiết kiệm cho đầu tư xây dựng nhà ở, đặc biệt cho nhóm người có thu nhập thấp.
+ Cấp tín dụng cho người gửi tiết kiệm và cho các đối tượng khác, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ
và cá nhân đóng trong vùng hoạt động.
Các tổ chức này có thể do chính phủ sở hữu hoặc do chính quyền địa phương, khu vự sở hữu,
Quốc gia của Chính phủ, có chức năng tương tự) và cùng cạnh tranh để thu hút vốn. Tuy nhiên, các tổ
chức này lại rất khác nhau trong việc cấp tín dụng. Hiện còn chưa rõ đâu là giải pháp cho phép tối đa hoá
nguồn vốn huy động hoặc đâu là giải pháp ít tốn kém nhất. Tuy nhiên, việc các tổ chức cho vay và tiết
kiệm phát triển với chi nhánh khắp nơi trong nước xem ra là rất hấp dẫn đối với các nước đang phát triển
do các tổ chức này có thể thu hút những khoản tích luỹ nhỏ, tại khu vực nông thôn, đồng thời cung cấp tín
dụng cho các loại hình hoạt động khác nhau.
Các tổ chức cho vay và tiết kiệm tại các nước châu Mỹ la tinh có xu hướng theo mô hình của Mỹ,
với phần lớn là các tổ chức cho vay xây dựng, trừ lại các thuộc địa cũ của Anh. Tổ chức cho vay và tiết
kiệm đầu tiên trong khu vực được thành lập tại Peru vào năm 1957 nhưng sau đó trong những năm 60 và
70, rất nhiều nước khác thành lập theo. Kết quả là hầu như mọi quốc gia trong vùng đều có loại tổ chức
này. Tuy nhiên, ngay từ năm 30, 40, 50 các ngân hàng thế chấp cũng đã được thành lập để cung cấp vốn
xây dựng nhà ở (chủ yếu cho giới trung lưu).
Cho tới năm 1970, Philiopine là nước duy nhất ở Châu Á có các tổ chức cho vay và tiết kiệm. Ở
đó cũng có các ngân hàng tiết kiệm và các tổ chức cho vay xây dựng. Tại Hồng Kông có các tổ chức cho
vay và xây dựng, trong khi đó tại Malaysia và Singapore có các công ty cho vay xây dựng Emery (1970)
có nhận xét: một trong các nhóm thành công nhất chính là các tổ chức cho vay xây dựng của Malaysia và
Singapore… Sự hoạt động của các tổ chức này có thể được coi là hình mẫu cho các nước Đông Nam Á
khác.
2. CÁC TỔ CHỨC BÁN CHÍNH THỨC VÀ KHÔNG CHÍNH THỨC.
(a) Các hợp tác xã tín dụng và các hiệp hội tín dụng.
Các chương trình cho vay và tiết kiệm hợp tác xã hay tiết kiệm tương hỗ là khu vực chính thức
tương đương với các chương trình cho vay và tiết kiệm không chính thức (xem dưới đây). Các tổ chức
này chính thức ở chỗ chúng có đăng ký với Cục Đăng ký (hay phòng đăng ký) của các hợp tác xã hay các
Cục đăng ký của các Tổ chức Tương hoá xã hội. Cả Emery (1970) và Drake cho rằng các hợp tác xã
thành công nhất là các hợp tác xã đô thị, nơi mà hầu hết thành viên là những người làm công việc văn
phòng “công nhân cổ trăng”. Các tổ chức này dường như là cung cấp tín dụng tiêu dùng hơn là các quỹ
đầu tư. Các hợp tác xã nông nghiệp, mặt khác đôi thi được các chính phủ và các FDI sử dụng như là
17
phương tiện để chuyển các khoản vay cho các tiểu nông để mua thiết bị, cải thiện đất đai và sử dụng vào
vốn lưu động và vì vậy chúng ngay lập tức được coi là công cụ để cung cấp các tài trợ đầu tư. Hoạt động
18
chức và hiệp hội tín dụng thành công trong việc cung cấp tín dụng nông nghiệp và nông thôn ở Châu Phi
(Van Pizchke và Rouse, 1983). Báo cáo cho biết tổ chức Caisse Nationale de Crelit Agricole (Morocco)
chương trình tiết kiệm hợp tác xã của Kenya, các hiệp hội tín dụng ở Camcroun, các câu lạc bộ tiết kiệm
nông thôn ở Zimbabwe và các nhóm tín dụng ở Malawi đã thành công hay ít nhất là một phần nào đó
thành công. Những tổ chức này đối ngược với các thất bại chung của các tổ chức tự chovay nông thôn
huy động các nguồn vốn nội bộ”.
(b) Các hội Cho vay và Tiết kiệm không chính thức.
Các chương trình tín dụng hợp tác xã và các hiệp hội tín dụng thường đăng ký với chính phủ hay
là một phần của phong trào quốc gia và vì thế được coi là chính thức hoặc là các tổ c hứ bán chính thức.
Ngoài các tổ chức kiểu này, các hội cho vay và tiết kiệm không chính thức với chức năng như là các câu
lạc bộ tiết kiệm cho các thành viên và cũng cung cấp các khoản vay cho các thành viên. Chủng được sử
dụng bởi phần lớn những người không thể tiếp cận được với các hiệp hội cho vay và tiết kiệm không
chính thức, và không có các tài khoản ngân hàng, hoặc là vì các tổ chức chính thức không gần về mặt địa
lý, hoặc vì các cá nhân không có vị trí tài chính và xã hội thích hợp. Vì vậy hình thức này rất phổ cập ở
các vùng nông thôn nói chung có thể cung cấp các thông tin rẻ hơn những người cho vay khác, và cũng
rất phổ cập tại các vùng đô thị nơi mà chúng cung cấp những lãi suất hấp dẫn hơn so với các tổ chức tín
dụng đông đúc khác cho những người tiết kiệm.
Các hội hội cho vay và tiết kiệm không chính thức có thể hoạt động theo nhiều cách khác nhau.
Có thể là các quỹ có vốn cố định (như các ngân hàng), có nguồn vốn biến động, trong đó các thành viên
đóng góp theo từng tháng, lần lượt, cố định hay theo kỳ. Họ có thể cho vay vì bất cứ mục đích nào hay có
thể giới hạn việc cho vay cho một số các mục đíc nhất định như nhà cửa hay giáo dục. Chúng có thể tồn
tại để tiết kiệm việc chi tiêu của cộng đồng, như là các nhà máy cung cấp điện của làng xã. Việc quản lý
thường được các thành viên cung cấp miễn phí và vì vậy chi phí rẻ hơn. Trong khi các hiệp hội có thể
quan trọng đối với các thành viên, nhưng thực tế thì chúng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng tiết kiệm
của toàn đất nước. Tuy nhiên, Begashaw (1977) ước lượng rằng ở Ethiopia, các hiệp hội không chính
thức thực hiện tiết kiệm và cho vay lên tới 8% hay hơn của tổng thu nhập đất nước.
Các ngân hàng di động có thể hoạt động trên cơ sở không chính thức, cung cấp các dịch vụ cho
các thương nhân và tại thị trường. Chúng có thể trong một số trường hợp hoạt động như là các đại lý của
những người cho vay hoặc các thương nhân trong khu vực không chính thức, như ví dụ ở Đông Phi theo
phê phán vì đã thu những lãi suất quá đáng. Bottomley (1963, 1964, 1975) đã phân biệt 4 nhân tố quyết
định lãi suất ở các vùng nông thôn.
- tỷ lệ lãi suất phi rủi ro (đây là chi phí cơ hội của huy
động vốn);
Cộng với - phần thu bù đắp rủi ro.
20
Cộng với - phần thu bù đắp chi phí giao dịch
Cộng với - nhân tố của lợi nhuận độc quyền.
Khó mà có thể thực hiện việc phân chia các lãi suất nông thôn theo 4 nhân tố này. Thường thì,
mặc dù kết quả thu được là lãi suất thương mại tại các vùng nông thôn thường lớn hơn nhiều so với lãi
suất các tổ chức tín dụng chính thức thu của khách hàng. Ngân hàng thế giới (1975) đã ghi lại lãi suất
danh nghĩa và lãi suất thực tế đối với nông dân, theo nguồn cho vay. Tại tất cả các nước được liệt kê, lãi
suất thương mại do các cá nhân cho vay thu thường cao hơn nhiều so với lãi suất các tổ chức tín dụng thu.
Lãi suất thực tế được liệt kê cho tất cả các ngân hàng thương mại và các tổ chức cho vay ở 23 nước. Tóm
tắt một cách sơ lược, lãi suất thực tế thu, trung bình trên 23 nước, là 3.6% đối với các tổ chức cho vay và
54% đối với các cá nhân cho vay. Sự chênh lệch thật sửng sốt.
Tất nhiên hầu hết các tổ chức tín dụng đều được trợ cấp, nhưng người ta buộc phải nói đến lý do
khác đối với việc thu lãi suất quá cao của các cánhan cho vay. Trong số 4 nhân tố quyết định cho
Bottomley đưa ra, 3 lý do hoàn toàn có thể giải thích cho việc thu lãi quá cao này. Trên tất cả thị trường
tài chính, lãi suất bao gồm tỷ lệ phi rủi ro cộng với phần trả cho rủi ro chấp nhận cộng với chi phí giao
dịch là rất phổ biến. Thực tế, thị trường tiền tệ không thể tồn tại nếu không có cơ sở như vậy cho lãi suất.
Điều mà không thể chấp nhận được (không nghi ngờ gì chỉ có thể chấp nhận được đối với người cho vay)
là nhân tố lợi nhuận độc quyền, mà tôi sẽ trình bày một cách kỹ hơn dưới đây. Một giải thích có thể nữa
là đối với lãi suất rất cao là những người cho vay thường dự đoán quá cao rủi ro của tín dụng nông thôn,
và vì vậy đã thu phí rủi ro cao. Chúng tôi có ý định không đề cập nhiều đến lý do này vì cho rằng những
người cho vay có kinh nghiệm và hiểu công việc kinh doanh của họ. Phần thu bù đắp cho rủi ro có thể cao
nhưng dẫu sao cũng có thể điều chỉnh được. Tuy vậy còn có một lý do nữa không được nói đến trong các
nhân tố quyết định của Bottomely là sự thiếu hiểu biết của người vay. Thật đơn giản là họ không nhận
biết được lãi suất thực sự mà họ trả, đặc biệt đối với tín dụng ngắn hạn. Hơn nữa, họ không biết các
nguồn vốn rẻ hơn để xin vay hoặc là chính thức hoặc là không chính thức. Gần đây chính phủ Anh đã đưa
cấp thiết là 1/3, với phần còn lại là do các nhân tố khác, chủ yếu do thiếu vốn và thế chấp không an toàn.
Chi phí cao và khan hiếm tín dụng trong khu vực không chính thức đã buộc nhiều nước đang phát
triển phải thiết lập tổ chức tín dụng nông nghiệp và nông thôn. Tài trợ ngoài nước đã động viên quá trình
này với trợ giúp về kỹ thuật và bằng việc sử dụng các tổ chức để thực hiện các chương trình phát triển
nông thôn. Mục tiêu của các tổ chức tín dụng này là cung cấp thêm các tín dụng ở lãi suất thấp hơn lãi
suất hiện hành trên thị trường không chính thức. Wai (1977) thấy rằng trong 13 nước, mục tiêu này đều
đạt được ở một mức độ nào đó nếu so sánh giai đoạn 1948- 51 với 1968- 71. Chênh lệch giữa lãi suất
không chính thức và lãi suất chính thức đã thu hẹp từ 34% ở giai đoạn trước đến 19% ở giai đoạn sau, cho
22
thấy 2 thị trường đã xích lại gần nhau. Mặt khác, ông cho thấy, các luật nhằm giảm lãi suất không chính
thức không thành công.
Nhiều tổ chức đã được thiết lập, với sở hữu, tài trợ và trợ cấp bởi chính phủ. Tuy vậy ở một số
nước, ví dụ Brazil, Ấn Độ, khu vực tư nhân đã dẫn vai trò chủ đạo, mặc cho việc chính phủ khuyến khích
hay kìm hãm. Các Ngân hàng thương mại thường đóng vai trò nhỏ. Một ngoại lệ là cố gắng của chính phủ
Nigeria vào năm 1977, đã ra lệnh cho các ngân hàng thương mại mở các chi nhánh tại vùng nông thôn.
Trong giai đoạn 1977 - 80, 200 chi nhánh nông thôn và sau đó 266 đã được mở. Mặc dầu việc này đã dân
tới việc tăng tín dụng nông thôn và cung cấp nhiều cơ hội hơn cho tiết kiệm nông thôn nhưng chương
trình này đã đem lại lỗ rất lớn cho ngân hàng. Ví dụ vấn đề đi lại, nhân viên, ăn ở, lượng kinh doanh nhỏ
và thế chấp thiếu bảo đảm (Osuntogun và Adewunmi, 1983). Việc tăng nhanh các chi nhánh của các ngân
hàng thương mại đã xẩy ra ở Ấn Độ, Indonesia, Philippines và Sri Lanka. Về mặt lâu dài, người ta hy
vọng rằng hệ thống tín dụng nông thôn sẽ hòa nhập vào thị trường tiền tệ quốc gia thông qua hệ thống
ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, quá trình này sẽ không dễ dàng và Wilson (1980) đã nhấn mạnh yêu
cầu cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ và ngân hàng thương mại nếu muốn thiết lập thành công
hệ thống ngân hàng ở nông thôn.
Việc chính phủ cấp tín dụng lãi suất thông qua các tổ chức tín dụng nông thôn mới đầu có vẻ là
một phương án tối ưu. Nỗ lực nhằm xóa bỏ lợi nhuận độc quyền trên thị trường tín dụng không chính
thức là rất đáng trọng, và người ta thông cảm với những cố gắng làm giảm khó khăn cho người nghèo.
Tuy nhiên, những chương trình này thường gặp phải những khó khăn như lãi suất cố định cao, hệ thống
quản lý tín dụng sơ sài và tốn kém, việc phân bổ tín dụng sai chỗ làm cho tín dụng sai chỗ làm cho tín
dụng chủ yếu đến với các phú nông hoặc chỉ được sử dụng như tín dụng tiêu dùng và việc các tổ chức tín
khoảng 20% tổng dự nợ tín dụng thương mại của những thị trường được nghiên cứu. Những tổ chức công
nghiệp nhỏ tham gia trên thị trường này rất nhiều. Theo Rao (1981), một cuộc điều tra của Ngân hàng Dự
trữ Ấn Độ đã cho thấy nguồn vốn tín dụng của những tổ chức phi tài chính đã đáp ứng được:
- 39% tổng số vay nợ của những tổ chức công nghiệp nhỏ mà phần đầu tư vào nhà xưởng và thiết
bị lên tới 1000 Rupi;
- 25% tổng số vay nợ của tất cả các tổ chức công nghiệp nhỏ;
- 3,5% tổng số vay nợ của các công ty tư nhân sở hữu những tổ chức công nghiệp nhỏ;
- 21,4% những khoản vay liên quan đến vốn cổ phần trong lĩnh vực công nghiệp nhỏ.
Lãi suát trên thị trường không chính thức nói chung thường cao hơn lãi suất cho vay của ngân
hàng khoảng 2- 4%, có khi tới 10%. Một điều thú vị là, theo Timberg và Aiyar so với tín dụng ngân hàng
thì tín dụng của thị trường không chính thức có chi phí hoạt động thấp hơn. So với các ngân hàng thương
mại thì những ngườic cho vay trên thị trường không chính thức có những lợi thế sau:
24
- Họ không phải để một phần vốn nằm im không sinh lời vì không phải dự trữ bắt buộc theo luật
định.
- Họ có mối quan hệ gần gũi và thường xuyên với khách hàng của mình và với cả cộng đồng kinh
tế nối chung nên có thể cho vay mà không cần đảm bảo.
- Họ có ít công việc giấy tờ và các thủ tục hành chính quan liêu.
Từ những lợi thế này và từ kinh nghiệm của Ấn Độ có thể thấy rằng thị trường không chính thức
có một vai trò quan trọng tài trợ cho kinh doanh ở các đô thị của những nước đang phát triển. Tuy là thiếu
những bằng chứng có hệ thống nhưng những bằng chứng cá biệt có thể chúng mình cho kết luận này.
3. KẾT LUẬN
Ở nhiều nước đang phát triển những tổ chức tài chính chính thức vẫn còn lạc hậu và không có khả
năng cạnh tranh. Những tổ chức này ít về mặt số lượng và đối với phần đông dân cư thì việc tiếp nhận
những tổ chức này lại không phải là chuyên đề dễ dàng. Kết quả là các công cụ tiết kiệm bị hạn chế, và vì
vậy việc huy động tiết kiệm cũng bị hạn chế theo. Do đó các tổ chức tín dụng không chính thức có điều
kiện phát triển và chiếm lĩnh những mảng thị trường mà các tổ chức chính thức còn bỏ ngõ. Tuy nhiên thị
trường tài hcính không chính thức cũng có nhiều điểm yếu và chưa hoàn thiện hạn chế những tác dụng
của nó. Mặc dù nhiều chính phủ đã cố gắng khắc phục tình trạng kém hiệu quả về mặt tổ chức bằng cách
thiết lập các tổ chức tài chín, những tổ chức này, đến lượt nó lại không có hiệu quả. Các tổ chức tài chính