CÂU HỎI
Câu 1: Biện chứng của sự phát triễn xã hội trong thời đại ngày nay.
Câu 2: Mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ ở nước ta
Câu 3: Cách mạng khoa học công nghệ trong thời đại ngày nay.
1. Làm rõ những cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới mà
nhân loại đã trải qua?
2. Kinh tế tri thức là gì? Đặc trưng của kinh tế tri thức?
3. Phát triển khoa hoc công nghệ hiện đại ở Việt nam hiện nay?
4. Tác động của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế- xã hội.
Câu 4: Mối quan hệ giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại ngày nay.
Câu 5: Trình bày quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc và chính sách
dân tộc ở nước ta?.
1
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
- KHCN: Khoa học công nghệ
- CNH- HĐH: Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
- XHCN: Xã hội chủ nghĩa
- TBCN: Tư bản chủ nghĩa
2
Câu 1: Biện chứng của sự phát triễn xã hội trong thời đại ngày nay
Biện chứng của sự phát triển xã hội được thể hiện tập trung và xuyên suốt
qua biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, của cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng, của tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Mối quan hệ biện
chứng này được biểu hiện cụ thể trong đời sống xã hội đó là các mâu thuẫn cơ
bản trong ba lĩnh vực chính:
a. Trong kinh tế
- Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và các vấn đề môi trường:
+ Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất
và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ
xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân
và cả loài người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát triển có mối
cực đến quá trình đó khi đã xác lập được sự tự ý thức về mục tiêu cần phấn đấu
đạt tới. Từ khi có những phát hiện thiên tài của C.Mác, Ph.Ăng ghen ra đời đến
nay, lịch sử loài người đã trải qua rất nhiều thăng trầm, tư tưởng XHCN nhiều
lần phải đứng trước thử thách tưởng chừng không thể vượt qua. Sự sụp đổ của
mô hình XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu là bài học đau đớn, sát thực
nhất đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Từ nhận thức, hành
động không phù hợp với các quy luật khách quan, không nhìn nhận tư tưởng lý
luận của CNXH là một hệ thống mở và năng động không chú trọng phát hiện
đánh giá, tổng kết có tính lý luận đối với sự vận động của thực tiễn, các Đảng
cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu đã làm tiêu tan sự nghiệp mà phải mất bao
nhiêu công sức, trí tuệ và cả xương máu mới có được.
- Xét về lịch sử, không phải tới hôm nay, cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận
giữa CNTB và CNXH mới diễn ra, mà từ hàng trăm năm trước, ngay từ khi tư
tưởng lý luận của CNXH ra đời, nó đã lập tức phải đương đầu với sự phê phán,
phủ nhận, bôi nhọ, xuyên tạc dưới nhiều hình thức khác nhau. Bất chấp mọi trở
ngại, tính chất cách mạng và khách quan khoa học trong tư tưởng lý luận cùng
4
với lý tưởng cao cả mà CNXH hướng tới đã thu hút, lan tỏa khắp năm châu, trở
thành động lực tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong
cuộc đấu tranh cho một xã hội công bằng, dân chủ, cho một cuộc sống ngày
càng tốt đẹp. Điều này trở thành mối đe dọa đối với sự tồn vong của tư tưởng và
xã hội tư sản. Người ta chống lại CNXH với vô vàn thủ đoạn, từ chủ động gây
chiến tranh tới xuyên tạc, vu cáo, thậm chí là "gán" trách nhiệm cho những
người cộng sản về một số sự kiện xảy ra trên thế giới, ở một số quốc gia,
- Cũng xét về lịch sử, cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận giữa CNTB và
CNXH đã có nhiều biến động ở những thời kỳ khác nhau. Nếu trước Cách mạng
Tháng Mười các vấn đề trừu tượng trong hệ thống triết học của C.Mác,
Ph.Ăngghen và của chủ nghĩa duy vật lịch sử là trọng điểm của cuộc đấu tranh,
thì sau Cách mạng Tháng Mười, các nội dung này lại gắn với những vấn đề của
thực tiễn cách mạng, CNXH hiện thực, với các vấn đề lý luận liên quan tới sứ
tạp. CNXH là xu thế tất yếu của thời đại, nhưng xu thế ấy chỉ có thể trở thành
hiện thực khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới đoàn kết,
tập trung trí tuệ để tiếp tục kế thừa sáng tạo và không ngừng phát triển tư tưởng
lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa biến tư tưởng lý luận đó thành lực lượng
vật chất để xây dựng và bảo vệ xã hội mới, vừa sử dụng tư tưởng lý luận đó như
công cụ sắc bén trong cuộc đấu tranh chống lại những sai trái của giai cấp giai
cấp tư sản, phù hợp với bối cảnh chung của thế giới.
c. Về văn hóa – xã hội
- Có mâu thuẫn tiêu biểu là mâu thuẫn biện chứng giữa truyền thống và
hiện đại. Truyền thống và hiện đại là những yếu tố có mặt trong đời sống của xã
hội, trên mọi lĩnh vực của quá trình phát triển, trong đó có lĩnh vực văn hóa -
nền tảng tinh thần của xã hội. Tuy nhiên, truyền thống và hiện đại không bao giờ
tồn tại một cách tĩnh tại, tách biệt nhau mà luôn ở trong thế vận động, liên hệ tác
động lẫn nhau, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau, làm thành diện mạo
văn hóa của dân tộc. Nếu không nhận dạng và giải quyết tốt sự thống nhất biện
6
chứng giữa truyền thống và hiện đại của văn hóa, chúng ta không thể phát huy
đầy đủ vai trò của văn hóa đối với sự phát triển xã hội.
- Truyền thống, được hiểu như là tập hợp những tư tưởng và tình cảm,
những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất
định, được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác. Còn hiện đại được hiểu là những gì “thuộc thời đại
ngày nay”, là “cái đang diễn ra trước mắt, tức là mới”.
- Hiện đại gắn liền với phát triển, tạo ra những giá trị mới, có phẩm chất
tốt hơn của cái quá khứ. Truyền thống và hiện đại trong sự phát triển của văn
hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau; đó là sự
thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại. Về sự thống nhất giữa
truyền thống và hiện đại của văn hóa: Truyền thống là cơ sở, là tiền đề của hiện
đại và hiện đại là sự kế thừa, phát triển nâng cao truyền thống.
- Đồng thời, giữa truyền thống và hiện đại trong sự phát triển của văn hóa
cấp tiểu tư sản cộng với CNTB tư nhân cùng nhau, đồng thời chống lại cả
CNTB nhà nước, cả CNXH.
Câu 3: Cách mạng khoa học công nghệ trong thời đại ngày nay
8
1. Làm rõ những cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới
mà nhân loại đã trải qua từ trước đến nay?
Có thể khái quát cuộc cách mạng khoa học công nghệ mà nhân loại đã trải
qua như sau:
a. Cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất: Vào cuối thế kỉ XVIII với
máy hơi nước làm đại diện.
Diễn ra đầu tiên ở Anh sau đó lan sang các nước Tây Âu, là sự quá độ từ
nền sản xuất thủ công lên sản xuất cơ khí với việc sử dụng máy hơi nước làm
máy động lực, sử dụng than đá thay thế các công nghệ thủ công dùng than đá,
sức kéo động vật làm cho nền kinh tế phát triển nhảy vọt.
b. Cuộc cách mạng khoa học lần thứ hai: Cuối thế kỉ XIX với điện lực
và động cơ đốt trong làm đại diện.
Cuộc cách mạng này được thực hiện khi mà hệ thống công nghiệp dựa
trên nguồn nhiên liệu than đá và hơi nước đã bộc lộ giới hạn được thay thế bằng
động cơ đốt trong. Dùng xăng dầu làm nhiên liệu (1862), dùng điện (1869), dầu
lửa (1870),…tạo thành một nền công nghiệp dựa trên các nguyên tắc điện- cơ
khí. Biến lực lượng sản xuất thành nền sản xuất cơ khí đại trà và tự động hóa
cục bộ tạo ra hàng loạt ngành nghề mới.
c. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ ba:
Diễn ra sau chiến tranh thế giới thứ hai với việc ứng dụng năng lượng mới vi
điện tử, nguyên liệu tổng hợp nhân tạo, kĩ thuật, di truyền, kĩ thuật không gian,
laze, thông tin cáp quang, trong đó kĩ thuật điện tử và xử lí thông tin là trọng tâm,
thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất đẩy nhanh tốc độ xã hội
hóa- toàn cầu hóa và thay đổi đời sống kinh tế xã hội, ý thức xã hội.
2. Kinh tế tri thức là gì? đặc trưng của nề kinh tế tri thức?
a. Khái niệm
không bị mất đi.
- Sáng tạo là linh hồn của đổi mới, sáng tạo là vô tận. Đổi mới thường
xuyên là động lực thúc đẩy sự phát triển. Công nghệ đổi mới nhanh, vòng đời
công nghệ rút ngắn, có khi chỉ mấy năm, thậm chí mấy tháng. Các doanh nghiệp
muốn trụ được và phát triển phải luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm.
- Dân chủ hóa, xã hội thông tin thúc đẩy sự dân chủ. Mọi người đều dễ dàng
truy cập thông tin mình cần. Điều này dẫn đến dân chủ hóa các hoạt động và tổ
chức điều hành xã hội. Người dân nào cũng được có thông tin kịp thời về các chính
sách của Đảng và nhà nước.
- Các doanh nghiệp vừa hợp tác vừa cạnh tranh để phát triển.
- Nền kinh tế toàn cầu hóa. Thị trường và sản phẩm mang tính toàn cầu.
- Sự thách thức văn hóa. Trong nền kinh tế tri thức xã hội thông tin, văn hóa
có điều kiện phát triển nhanh và văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
xã hội. Do thông tin, tri thức bùng nổ, trình độ văn hóa nâng cao, nội dung và hình
thức các hoạt động văn hóa phong phú đa dạng. Nhu cầu thưởng thức của người
dân cũng tăng cao, giao lưu văn hóa thuận lợi, tạo điều kiện cho nền văn hóa dễ
giao thoa, tiếp thu các tinh hoa của nhân loại để phát triển.
Do vậy, một quốc gia muốn chuyển sang nền kinh tế tri thức cần hình thành
bốn trụ cột quan trọng:
- Môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho sáng tạo và sử dụng tri
thức, một môi trường và thể chế theo luật, cho phép dòng chảy tự do của các tri
thức hỗ trợ thông tin và truyền thông, khuyến khích làm chủ doanh nghiệp như
trọng tâm của kinh tế tri thức.
- Xây dựng hệ thống giáo dục và đào tạo có chất lượng cao để nâng cao năng
lực sáng tạo, chia sẻ và sử dụng tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao
- Hạ tầng cơ sở thông tin hiện đại giúp dễ dàng liên lạc và xử lý thông tin.
- Hệ thống sáng tạo có hiệu quả. Một mạng lưới các trung tâm nghiên cứu,
đại học, tổ chức chuyên gia cố vấn, doanh nghiệp tư nhân, các nhóm cộng đồng là
11
cần thiết để thu nhận kho tri thức toàn cầu luôn không ngừng tăng, truyền bá và
chiếm 60% tổng dư xã hội, 8% doanh ngiệp có công nghệ tiên tiến. Rất nhiều
năm qua, xí nghiệp nông nghiệp lạc hậu và hao mòn lưu hình từ 20 đến 30%.
+ Tốc độ áp dụng khoa học công nghệ (KHCN) cả nước có khoảng 10%,
trong ba vùng trọng điểm có 12%; Trong công nghiệp tự động hóa 1,9%, trong
công nghiệp bán tự động hóa 19%. Như vậy công nghệ chưa được áp dụng nhiều.
+ Đảng ta rất chú trọng phát triển KHCN. Điều này được thể hiện rõ trong
các văn kiện Đại hội, đặc biệt trong các Đại hội IX, XX,XI khẳng định KHCN là
động lực là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế- xã hội, là điều
kiện cần thiết giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN.
+ KHCN là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của các cấp các
ngành, là nhân tố chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế và củng cố
quốc phòng an ninh
+ Sự nghiệp phát triển KHCN là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân
ta. Cần phát huy nhân tố nội sinh với tiếp thu văn minh của thế giới. Đảng cho
rằng phát triển KHCN phải gắn liền với việc bảo vệ và cải thiện phát triển môi
trường sinh thái, phát triển kinh tế nhanh và bền vững.
- Giải pháp:
+ Tạo động lực cho sự phát triển của KHCN, khuyến khích và tạo lập thị
trường phát triển KHCN.
+ Khuyến khích doanh nghiệp và có cơ chế tổng hợp để các doanh nghiệp
tìm đến KHCN để đặt hàng. Khuyến khích việc cổ vũ phát minh, sáng chế, ứng
dụng KHCN đảm bảo thu nhập trả công xứng đáng với lao động chất xám.
+ Tạo vốn cho hoạt động KHCN.
+ Mở rộng và phát triển hợp tác quốc tế
13
+ Phát triển nguồn nhân lực KHCN.
+ Đổi mới hoàn thiện thể chế, hệ thống tổ chức quản lí hoạt động KHCN.
b. Một số định hướng phát triển KHCN ở Việt nam hiện nay ( Trích
theo Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI)
- Hướng vào nghiên cứu, ứng dụng KHCN gắn với yêu cầu phát triển của
từng ngành, từng lĩnh vực, từng sản phẩm gắn với đào tạo và sản xuất kinh doanh.
- Xây dựng và thực hiện chương trình đổi mới công nghệ quốc gia, có
chính sách khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất,
trước hết là đối với những ngành, những lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn.
- Ưu tiên phát triển công nghệ cao, ứng dụng nhanh KHCN vào các lĩnh
vực công nghiệp và nông nghiệp.
- Nhanh chóng hình thành một số cơ sở nghiên cứu ứng dụng để tiếp thu, cải
tiến công nghệ và sáng tạo công nghệ mới gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Phát huy hiệu quả các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Có chính
sách khuyến khích, bổ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong
việc đổi mới và áp dụng công nghệ, làm chủ các công nghệ then chốt, mũi nhọn
và đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, trong đó ưu
tiên các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Quan tâm đúng mức đến việc nghiên cứu cơ bản, có trọng điểm theo yêu
cầu phát triển của đất nước.
- Chú trọng phát triển các ngành, lĩnh vực KHCN làm nền tảng cho phát
triển kinh tế tri thức như: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ
15
vật liệu mới, công nghệ môi trường Tập trung phát triển sản phẩm công nghệ
cao, có giá trị lớn trong một số ngành, một số lĩnh vực.
- Hình thành hệ thống đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động KHCN. Thực
hiện nghiêm túc các quy định về quyền sở hữu trí tuệ, tập trung phát triển và
khai thác tài sản trí tuệ. Mở rộng và nâng cao hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt
chuẩn mực quốc tế.
16
Câu 4: Những tác động của KHCN đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
CNH- HĐH chính là việc áp dụng những thành tựu KHCN để đổi mới về
căn bản và nâng cao toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của xã hội, từ kinh tế đến
chính trị, văn hoá,… Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương
nhiều hơn vào các hoạt động, các quan hệ xã hội, nhân cách nói chung và nhân
cách đạo đức của con người nói riêng có thêm điều kiện để phát triển. Hơn thế,
đạo đức giờ đây được thể hiện ra trong tính tích cực xã hội của con người, thay
vì thứ đạo đức trong xã hội truyền thống mang nặng tính thụ động bởi con người
không có nhiều cơ hội gia nhập vào các quan hệ, các hoạt động xã hội.
Thứ hai: KHCN làm thay đổi phương thức quản lý sản xuất, bao gồm từ
việc tổ chức sản xuất đến huy động nguồn lực.
- Việc tổ chức sản xuất đã được hỗ trợ một cách đắc lực bởi công nghệ
truyền thông và thông tin như hệ thống quản lý dữ liệu trên mạng nội bộ, thư điện
tử… Với các công cụ này, một Chính phủ điện tử có thể thực hiện hoạt động quản
lý điều hành quốc gia hiệu quả hơn; hoặc các nhà quản lý doanh nghiệp có thể
giám sát được hoạt động sản xuất và kinh doanh không chỉ của một văn phòng,
xưởng máy, nhà máy mà còn của cả các chi nhánh của công ty trên quy mô một
quốc gia hoặc toàn cầu, gần như tức thì, để có thể có những quyết sách kịp thời.
Khả năng này cho phép các công ty đa quốc gia ngày càng mở rộng hoạt động của
mình trên thế giới. Quan trọng hơn cả, nhà quản lý có thể bỏ được nhiều khâu trung
gian trong điều hành sản xuất, mà vẫn mở rộng được quy mô sản xuất. Theo thống
kê của Hal Varian, Robert E.Litan, Anderw Elder và Jay Shuter tại một nghiên cứu
khảo sát năm 2002 mang tên “Nghiên cứu về tác động của mạng” đối với lợi ích
kinh tế của các ngành công nghiệp tại Mỹ, Anh, Pháp và Đức thì tính từ năm 1998
đến thời điểm kết thúc cuộc điều tra, các tổ chức, công ty của 4 nước trên đã tiết
kiệm được 163,5 tỷ USD thông qua ứng dụng mạng Internet vào hoạt động. Như
vậy, đầu ra của hàm sản xuất đã tăng thực tế thông qua khoản tiết kiệm này.
- Việc quản lý các vấn đề toàn cầu khác cũng có những bước chuyển
mạnh mẽ với các ứng dụng của công nghệ truyền thông và thông tin. Một mặt,
chức năng và vai trò của Nhà nước có những thay đổi so với vai trò truyền
thống. Một mặt, “Chính phủ điện tử” trong một “nền kinh tế điện tử”, theo cách
18
gọi của một số học giả, sẽ chuyển từ vai trò lãnh đạo và điều phối. Mặt khác,
thông tin được phổ biến nhanh chóng và rộng rãi hơn đã làm quá trình hoạch
xuất công nghiệp lôi cuốn lao động nông thôn vào các khu công nghiệp, đô thị;
các khu công nghiệp, đô thị được mở rộng hoặc xây dựng mới nhằm đáp ứng
nhu cầu của phát triển sản xuất, của công nghiệp hoá.
Thứ năm: KHCN với các thành tựu của nó, như truyền thông, đặc biệt là
viễn thông có tác dụng lớn trong việc cung cấp thông tin, truyền thông đại chúng
qua các phương tiện như tivi, máy tính, điện thoại…góp phần cho sự tiến bộ và
phát triển xã hội. Đặc biệt là công nghệ thông tin, là công cụ đắc lực để huy
động các nguồn lực sản xuất một cách có hiệu quả nhất. Công nghệ thông tin,
với hệ thống internet, thư điện tử, fax… là những công cụ lý tưởng để truyền đạt
ý tưởng, tri thức, và kinh nghiệm… nhanh và rộng khắp… Thực tế, “Cách mạng
công nghệ trong lĩnh vực giao thông và truyền thông đã xáo dần đi những rào
cản về không gian và thời gian”. Với công nghệ thông tin, việc quản lý các
luồng vốn cũng trở nên hiệu quả hơn. Các khoản vốn lớn được lưu động và chu
chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác với sự trợ giúp của thị trường chứng
khoán toàn cầu và các ngân hàng điện tử là yếu tố mạnh mẽ thúc đẩy đầu tư.
Hơn thế, công nghệ thông tin còn giúp huy động và di chuyển lực lượng lao
động trên quy mô toàn cầu. Trên thực tế, một lao động đang sống ở quốc gia này
có thể vẫn được huy động để được sử dụng sức lao động của mình dưới hình
thức chất xám, thông qua mạng internet.
Thứ sáu: Nói đến tiến bộ KHCN trong điều kiện hiện nay không thể
không kể đến những thành tựu trong lĩnh vực sinh học, sinh học người, y học,…
Nhân bản vô tính, biến đổi gien, sinh sản nhân tạo, cấy ghép các cơ quan, các
phủ tạng người,… Mỗi thành tựu như vậy đều mở ra những triển vọng lớn đối
với sản xuất và bảo vệ sức khoẻ con người.
Ngoài ra, KHCN còn có những tác động tích cực khác tới sự phát triển
kinh tế- xã hội như:
20
- KHCN còn là công cụ đắc lực trong thương mại quốc tế và đã mở ra một
phương thức giao dịch và thanh toán chưa từng có trong lịch sử kinh tế thế giới.
Thương mại điện tử bùng nổ với 2 tỷ USD năm 1996, 100 tỷ USD năm
Ngay từ thế kỷ XIX, C.Mác đã cảnh báo về tính hai mặt hay nghịch lý của
việc áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ. Ông viết: “Chúng ta thấy rằng, máy
móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm lao động của con người và làm
cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng
kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới, từ xưa đến nay chưa ai
biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc
của sự nghèo khổ. Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng
cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần. Dường như loài người càng chinh phục
được tự nhiên nhiều hơn thì con người lại càng trở thành nô lệ của những người
khác hoặc nô lệ cho sự đê tiện của chính mình”.
Nghịch lý đó dường như càng thể hiện rõ rệt hơn trong điều kiện CNH-
HĐH. Năm 1988, Fedérico Mayor cũng nhận xét: “Chưa bao giờ như ngày nay,
sự căng thẳng giữa khoa học và lương tâm, giữa kỹ thuật và đạo đức lên tới cực
điểm đã trở thành mối đe dọa toàn thế giới).
Thứ nhất: Cùng với tiến bộ KHCN là sự phân cực giàu nghèo ngày một
sâu sắc.
Tiến bộ KHCN trong điều kiện kinh tế thị trường lại đẩy mạnh quá trình
cạnh tranh kinh tế. Những người đi tiên phong trong việc đổi mới công nghệ sẽ
thu được nhiều lợi nhuận, lợi nhuận siêu ngạch so với những người khác. Vì vậy
mà mặc dù, tổng thu nhập xã hội tăng lên nhanh chóng, nhưng phân phối lại
không đồng đều dẫn đến phân cực giàu – nghèo diễn ra gay gắt.
Ví dụ như ngày nay, khi một nhóm nhỏ giới chủ các công ty tư bản độc
quyền xuyên quốc gia giàu lên nhanh chóng, thì hơn 1 tỷ người lao động trên
toàn thế giới, bao gồm cả hàng trăm triệu người ở các nước tư bản phát triển
22
nhất, lại rơi vào cảnh đói nghèo, bệnh tật, thất học và bị gạt ra ngoài lề của sự
phát triển. Theo Báo cáo về phát triển con người năm 1999 của UNDP, mức
chênh lệch về thu nhập giữa 20% dân số thế giới sống ở các nước giàu nhất và
20% dân số thế giới sống ở các nước nghèo nhất đã tăng từ 30/1 năm 1960 lên
74/1 năm 1997(5). Theo Ngân hàng thế giới, năm 2006, tổng số người nghèo ở
hiện những hành vi tiêu cực, như làm ăn phi pháp, biến thủ công quỹ, trộm
cướp,… Lối sống tiêu thụ, do vậy, cũng là một trong những tác nhân dẫn đến
những tiêu cực về mặt đạo đức.
Thứ ba:. Tình trạng gia tăng áp lực cuộc sống, kích thích bạo lực và các
tệ nạn xã hội.
Dân số đô thị tăng lên quá nhanh và thông thường là nhanh hơn khả năng
cung ứng những dịch vụ hạ tầng, chẳng hạn giao thông, điện nước, cơ sở giáo
dục, y tế,… Hơn thế, con người lại bị cách biệt với thiên nhiên và bị dồn nén
vào những khu dân cư đông đúc và thường là chật hẹp. Điều đó dẫn đến tình
trạng gia tăng áp lực cuộc sống, kích thích bạo lực và các tệ nạn xã hội.
- Đối với những quốc gia phát triển, quá trình đô thị hoá mang tính tự giác
hơn, nghĩa là được quy hoạch một cách hợp lý nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa
việc đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất với việc đáp ứng các nhu cầu sống ngày
càng cao của con người. Điều đó làm giảm bớt đi áp lực cuộc sống.
- Ngược lại, với những quốc gia chậm phát triển, quá trình gia tăng đô thị
hoá thường là mang tính tự phát. Đô thị hoá tự phát là quá trình gia tăng và mở
rộng đô thị một cách tự phát, thiếu quy hoạch khoa học, là hệ quả của sự gia
tăng dân số cơ học và những làn sóng nhập cư ồ ạt, cũng như sự quản lý yếu
kém của các cấp chính quyền. Điều đó dẫn tới sự gia tăng tội phạm, bạo lực, tệ
nạn xã hội với tư cách biểu hiện của tình trạng xuống cấp đạo đức.Quá trình đô
thị hoá còn dẫn đến tình trạng xáo trộn cư dân, sự ly hương cư dân nông thôn.
Khi con người rời bỏ quê hương vào thành phố, vào các khu công nghiệp với
nghề nghiệp mới, cuộc sống mới thì mối dây liên hệ với gia đình, quê hương bị
suy yếu đi. ở các khu công nghiệp, các thành phố mới, con người từ tứ xứ không
24
thể ứng xử với nhau theo những chuẩn mực văn hóa, đạo đức thuần tuý của quê
hương mình nữa. Học giả phương Tây nổi tiếng - E.Fromm đã đưa ra cách nhìn
nhận tiêu cực về hiện tượng này. Theo ông, trong điều kiện như vậy, định hướng
lối sống, đạo đức của họ không có gì khác hơn là những định hướng từ truyền
thông đại chúng (mass communication). Công nghiệp hoá, đô thị hóa, truyền