Đề tài: MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ PHƯƠNG ÁN BẢO VỆ CÁC DI
TÍCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
A.PHẦN MỞ BÀI :
I. Lý do chọn đề tài:
Quảng Nam, vùng đất có bề dày lịch sử hàng ngàn năm, là nơi hội tụ của các
nền văn hoá Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt, Trung Hoa Sự kế thừa đó đã tạo nên
bản sắc văn hoá Đất Quảng.
Những tháp cổ Champa cho thấy tài năng sáng tạo và sức sống của một dân
tộc, những công trình kiến trúc ở đô thị cổ Hội An, những lăng mộ tiền hiền của các
tộc họ có công dựng làng, lập ấp đã ghi dấu cho giai đoạn lịch sử của những người
đi mở đất, tất cả đều được gọi là di tích và phục vụ đắt lực cho du lịch tỉnh nhà nói
riêng và đất nước Việt Nam nói chung. Không chỉ góp phần đáng kể trong thu nhập
GDP của tỉnh, nâng cao mức sống của người dân địa phương mà nó còn là truyền
thống văn hoá quí giá của vùng đất và con người Quảng Nam.Vì vậy ta cần bảo tồn
và phát huy những giá trị văn hoá ấy, nhưng thực tế cho thấy phần lớn các di sản
văn hoá đã bị tác động của thiên nhiên và chiến tranh làm phai mờ, hư hại, thất lạc,
Khu tháp Chăm giờ đã không còn nguyên vẹn như trước kia mà hầu như bị sụp đổ
hoàn toàn, phố cổ Hội An những công trình nhà cổ theo năm tháng bị xuống cấp
nghiêm trọng vấn đề đặt ra cho mỗi người là cần quan tâm bảo vệ di tích trên địa
bàn địa phương mình đang sống. Vì nó mang giá trị rất lớn về Kinh tế - Văn hoá -
Xã hội và đời sống người dân, quá trình hình thành và phát triển của đất Quảng hoà
quyện vào lịch sử đất nước và con người Việt Nam.
Chính di tích là một minh chứng cho sự phát triển, bền vững, trường tồn và thể
hiện đầy đủ bề dày lịch sử văn hoá dân tộc qua hàng nghìn năm dựng nước, giữ
nước, dấu ấn của mỗi giai đoạn lịch sử được thể hiện qua những di tích, sẽ mãi mãi
trường tồn với thời gian. Để lưu giữ và phát huy được giá trị vốn có của di tích ta
cần phải có những phương án bảo vệ, trùng tu tôn tạo thích hợp nhất. Đó là điều nan
giải không chỉ đặt ra cho người có chức trách mà cho mọi thời đại, mọi tầng lớp
- 1
người dân trên địa bàn tỉnh. Chính điều này tôi đã chọn cho mình một đề tài thực
tập là:
công cuộc phát triển vùng đất trên nhiều lĩnh vực. Thiên nhiên vừa ưu đãi vừa tạo ra
những thử thách khắc nghiệt cho mảnh đất và con người nơi đây. Những thuận lợi
và khó khăn thường đan xen trong một tổng thể tự nhiên ấy, tạo ra sự phong phú đa
dạng cho con người và các yếu tố Văn hoá - Xã hội tồn tại và phát triển. Những lớp
cư dân sinh sống trên mảnh đất này đã không ngừng đấu tranh để được khẳng định,
trường tồn và giữ gìn sắc thái Văn hoá riêng của mình đồng thời cùng cộng đồng
tạo dựng lên một cuộc sống mới.
Quảng Nam một vùng đất giàu truyền thống văn hoá mà nền tảng là Văn hoá
Sa Huỳnh, rồi trong toàn bộ tiến trình lịch sử, mảnh đất và con người Quảng Nam
từng chứng kiến sự hiện diện của nền Văn hoá Chăm Pa rực rỡ và huy hoàng với
Mỹ Sơn kỳ vỹ và nhiều đền tháp Chăm vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay. Nếu xét
trên khía cạnh Văn hoá vật chất và Văn hoá tinh thần thì những giá trị mà nền văn
hoá này để lại cho Quảng Nam nói riêng và Việt Nam nói chung là vô cùng lớn lao.
Song song với sự lớn mạnh của Đại Việt, từ khi có sự đặt chân của chúa Tiên
Nguyễn Hoàng trở về sau nền Văn hoá Đại Việt đã hình thành và phát triển, bền
vững cho đến hôm nay.
Quảng Nam là một trong những vùng đất có dấu tích con người tồn tại, tụ cư
và sinh sống lâu đời của khu vực duyên hải miền trung Việt Nam. Những cư dân có
mặt trên đất Quảng Nam trước đây và ngày nay, là những cư dân có mặt từ rất sớm
trong lịch sử phát triển của vùng đất, vừa là những cư dân từ nơi khác chuyển đến
an cư, lạc nghiệp vào những thời điểm lịch sử khác nhau. Trong các cư dân đó có cư
- 3
dân số lượng đông (Người kinh), có cư dân số lượng ít nhưng khi đã tụ cư trên
mảnh đất này họ đoàn kết cùng nhau khai phá vùng đất, bảo vệ xây dựng và phát
triển quê hương ngày càng giàu ®Ñp hơn.
Mỗi cộng đồng, mỗi tộc người mang trong mình dấu ấn Văn hoá mang âm
hưởng riêng, dù là nhóm, dân tộc thiểu số hay người kinh thì đều có nét riêng của
mình, điều đó sẽ làm phong phú thêm cá tính chung của người dân đất Quảng trong
quá trình sinh tồn. Trong các tính cách của con người Quảng Nam sau này vẫn ẩn
chứa tính cách của những người đi mở đất thủa trước, có cốt cách tinh thần của
quan lịch sử - hoá của di tích.
- Phục hồi di tích: Là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích Lịch sử -Văn hoá,
danh lam thắng cảnh đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích Lịch
sử - Văn hoá, danh lam thắng cảnh đó.
-Tu sửa cấp thiết di tích: Là hoạt động sửa chữa nhỏ nhằm gia cố, gia cờng các
bộ phận di tích để kịp thời ngăn chặn di tích khỏi bị sập đổ trớc khi tiến hành công
tác tu bổ toàn diện.
***Có 2 chức năng :
Chức năng giữ gìn
+ Đây là chức năng cơ bản có ý nghĩa quyết định, nếu không giữ di tích, để
mất di tích thì sẽ không thực hiện đợc chức năng thứ 2 và mất đối tợng bảo tồn và
huỷ diệt Văn Hoá.
- 5
+ ý nghĩa lớn lao của chức năng giữ gìn di tích Lịch sử Văn hoá: Nghiên cứu,
phát hiện, lựa chọn gìn giữ cho trúng, cho hết bộ phận tài sản Văn hoá của dân tộc,
của đất nớc mà trách nhiệm thuộc về những ngời làm công tác Bảo tồn Bảo tàng.
* Điều kiện gìn giữ :
- Nắm vững đặc điểm lịch sử văn hoá của đất nớc trên từng khu vực, từng địa
phơng.
- Nắm vững lịch sử các DT
- Nắm vững các đặc điểm địa lý của đất nớc và của từng địa phơng.
- Nắm vững tôn giáo.
- Trình độ năng lực chuyên môn càng cao càng tốt, vì trình độ năng lực quyết
định hiệu quả công việc nghiên cứu, phát hiện lựa chọn, giữ gìn DT
+Tiêu chuẩn để lựa chọn giữ gìn di tích:
Tiêu chuẩn đặt ra cho việc giữ gìn di tích ở mỗi nớc phải dựa trên tình
hình thực tế, đặc điểm, giá trị Văn hoá của đất nớc đó quy định dựa trên các cơ sở
sau:
* * Nội dung giá trị chứa đựng trong di tích:
Niên đại ghi dấu ở di tích.
- Giữ gìn di tích: Là công việc kết hợp giữ nguyên tắc pháp lí và nguyên tắc
khoa học, giữ vai trò quản lý của nhà nớc với vai trò của các cơ quan chuyên môn,
vai trò tham gia giữ gìn của các tổ chức quần chúng nhân dân làm cho di tích kéo
dài tuổi thọ, tồn tại lâu dài với thời gian.
** Chức năng phát huy khai thác sử dụng di tích.
- Di tích lịch sử đợc lựa chọn thờng chứa đựng nội dung lịch sử khoa học,
những nhân tố chân - thiện - mỹ, những khả năng giải toả tâm linh, chúng có ý
nghĩa to lớn trong việc nâng cao trình độ hiểu biết của nhân dân trong cùng cuộc
cách mạng văn hoá t tởng XHCN. Và đa những nội dung giá trị chứa đựng trong di
tích đến đông đảo quần chúng tức là khai thác và sử dụng di tích. Và đây là chức
năng cần phải thực hiện có hiệu quả. Vì đây là chức năng phục vụ cho sự tiến bộ xã
hội -phục vụ cho công cuộc cách mạng văn hoá t tởng.
+ ý nghĩa của khai thác sử dụng di tích: Là chức năng và mục tiêu của hoạt
động bảo tồn, và mang tính xã hội, tổ chức khai thác sử dụng tốt sẽ có tác dụng gìn
giữ di tích tồn tại lâu dài trong lịch sử.
- 7
+Đối tợng: Là những yếu tố nguyên gốc.
+Khai thác sử dụng phải vận dụng yếu tố liên ngành kết hợp chặt chẽ với ph-
ơng thức bảo tồn học. Có nh vậy mới khai thác đợc hết những giá trị chứa đựng
trong từng loại di tích và nâng cao trình độ hiểu biết của nhân dân, góp phần tích
cực vào sự nghiệp cách mạng văn hoá t tởng và tiến bộ xã hội.
+Khai thác và sử dụng di tích là một công việc rất khó khăn và phức tạp. Để
thực hiện đợc có hiệu quả cần phải có những điều kiện sau:
** Các di tích phải giữ đợc yếu tố nguyên gốc và đợc bảo quản chu đáo.
Ngời khai thác, sử dụng phải hiểu rõ nội dung, giá trị của từng di tích, địa danh
lịch sử của di tích, mối quan hệ giữ di tích với những vấn đề Văn hoá xã hội của thời
kỳ đó để định hớng khai thác sử dụng di tích.
Ngời cán bộ hớng dẫn tham quan di tích phải vừa là ngời thuyết phục vừa là
ngời nghệ sĩ, vừa là thầy giáo. Vì mục đích của việc hớng dẫn tham quan là gây ấn
tợng đúng và đủ về di tích cho khách tham quan. Đây là nguyên tắc nhất thiết phải
+ Phân loại tình trạng bảo quản.
Kết cấu Kiến Trúc công trình di tích
Nắm được 3 mặt cơ bản của di tích: Vật chất, tư tưởng (giá trị ), lịch sử (thời
gian).
1/ Vật chất: Mang tính chất vật lý, phải phục thuộc vào các quy luật vật lý và
bị phá huỷ theo quy luật ấy (chịu sự chi phối của thiên nhiên).
2/ Về tinh thần: Là người sáng tạo ra tinh thần đã đưa vào di tích những thủ
thuật, năng lượng và hơi thở của thời đại thực chất sự sáng tạo đó phản ánh toàn bộ
bản chất, tâm lý, đạo đức xã hội của thời đại trải qua một thời gian một số di tích bị
bỏ quên đi sau đó được đánh giá lại.
3/ Lịch sử: Giai đoạn Lịch sử hình thành bước đầu tiên của các tác phẩm.
Trong quá trình tồn tại di tích Lịch sử có sự biến đổi khác nhau (trải qua thời gian)
- 9
sự biến đổi đó nếu không được sự tác động, sử dụng biện pháp bảo quản của con
người thì di tích trở thành đống vật chất vô cơ mà thôi.
Khái niệm bảo quản có liên quan chặt chẽ với nhau trong ba mặt thực chất cơ
bản của di tích mà dùng biện pháp, phương pháp, hình thức bảo quản chủ yếu là bảo
vệ mặt bản chất cơ bản thứ nhất đó là vật chất.
B/ Tìm hiểu đặc điểm, kết cấu kiến trúc di tích Việt Nam.
I. Sáu đặc điểm kiến trúc cổ truyền Việt Nam.
1. Kiến trúc: Có tính di tích và tình địa phương phong phú có bản sắc riêng
biệt trên cở sở vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế xã hội, kiến trúc cổ Việt Nam được xây
dựng trong các thời kỳ lịch sử Việt nam không có công trình đồ sộ nguy nga nhưng
các công trình kiến trúc nó để lại một bản sắc mà không nơi nào có tạo ra một
truyền thống 1.000 văn hiến do có nhiều di tích cho nên kiến trúc phong phú từ
trang trí kiến trúc đến tạo hình, từ vật liệu xây dựng đến phương pháp kết cấu.
2. Phong cách: Kiến trúc giản dị, khiêm tốn, nhẹ nhàng, khoáng đạt, phù hợp
phong tục tập quán dân tộc và khí hậu nhiệt đới Việt Nam. Nói lên phong cách đơn
giản của người dân Việt Nam trừ một số kiến trúc màu mè của người giàu có.
Kiến trúc Việt Nam thường là thiên nhiên, vườn cây, con người. Kiến trúc hoà
suy luận.
3/ Đảm bảo sự bền vững cho di tích. Ngăn ngừa nguyên nhân hậu quả của quá
trình di tích bị phá hoại. Không bớt xén công trình, đảm bảo chất lượng nguyên liệu
như đã được duyệt. Không thay đổi bớt xén làm di tích kém chất lượng. Nói cách
khác đảm bảo di tích giữ được phẩm cách cá tính, diện mạo di tích gốc mang lại ấn
tượng “Lão đương ích tráng, nhưng không hoàn đồng”.
4/ Tiến hành khảo sát toàn diện di tích trước khi sử dụng các biện pháp bảo
quản. Trong công trình khảo sát phải ghi chép tỉ mỉ tình trạng Bảo quản, tìm hiểu tư
liệu lưu trữ tư duy Lịch sử di tích và lịch sử thời đại đã sản sinh ra nó, nghiên cứu
những công trình tương tự. Thảo luận rộng rãi các phương pháp Bảo quản (trùng tu,
tu bổ) phải thông qua hội đồng.
5/ Kết hợp chặt chẽ giữa nguyên tắc pháp lý và nguyên tắc khoa học, vai trò
quản lý của nhà nước và vai trò của quần chúng nhân dân.
- 1 1
Chương IV. Di Sản Văn Hoá Thế Giới và Một Vài Di Tích Cấp Quốc Gia
Của Tỉnh Quảng Nam
A. Sơ lược về Di Tích :
Quảng Nam một điểm đến hai Di Sản Thế Giới với: Phố cổ Hội An và Thánh
Địa Mỹ Sơn đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước tìm đến tham quan
và nghiên cứu.
I. Khu Tháp Mỹ Sơn:
Trong khu thung lũng có bán kính
khoảng 2 km gần làng Mỹ Sơn, thuộc tổng An
Hoà, huyện Duy Xuyên ( nay xã Duy Phú,
huyện Duy Xuyên) cách thành phố Đà Nẵng
khoảng 70 km về phía Tây Nam.
Vào khoảng thế kỷ IV, vua
Bhadravarman đã cho xây dựng một ngôi đình
bằng gỗ để thờ thần Siva - Bhadresvara. Đến
đầu thế kỷ VII, Vua Sambhuvarman cho xây
nhất của nghệ thuật Champa đã được hồi sinh, Mỹ Sơn đã trả lại phần nào dáng vẻ
ban đầu của nó, làm cho người ta có thể hình dung được một thánh địa uy nghiêm
kỳ vĩ của vương quốc Champa xưa kia.
II. Phố Cổ Hội An:
- 1 3
Một phần quang cảnh
nhóm tháp B,C và D tại
Mỹ Sơn
Hội An cách thành phố Đà Nẵng khoảng 25km về hướng Đông Nam, nằm
trên bờ Bắc Sài Giang (còn gọi là sông chợ Củi - vùng hạ lưu sông Thu Bồn), nơi
có nhiều con sông lớn của Quảng Nam hội tụ và đổ ra biển Đông cửa Đại. Cách đây
khoảng 2000 năm đã có một cảng thị sơ khai ở vùng đất Hội An, nhiều duy vật
được tìm thấy trong các mộ chum và nơi cư trú cổ của người Sa Huỳnh, cho thấy
dân cư đã có quan hệ buôn bán trao đổi với các nơi khác trong vùng Đông Nam Á
từ lâu đời. Dần dần cảng thị này phát triển thành Đại Chim Hải Khẩu dưới thời
vương Quốc champa.
Năm 1570, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Quảng Nam, đã tiếp tục khai phá
vùng đất Đàng trong, xây dựng làng xóm, phát trển nông - thương nghiệp. Năm
1613 chúa Nguyễn Phúc Nguyên cải cách xã hội, tăng cường việc mua bán các
nước Bắc Á và các nước châu Âu và chuẩn bị lực lượng để đối phó với chúa Trịnh
ở đàng ngoài.
Trong các thế kỷ 17 đến thế kỷ 18 là thời kỳ ở vùng Đông Nam Á có nhiều
chuyển biến quan trọng, chính sách ngoại thương của Trung Hoa và Nhật Bản đã
ảnh hưởng không ít đến sự phát triển của vùng này, Hội An củng chịu tác động
mạnh mẽ bởi những yếu tố bên ngoài đó.
Năm 1649 ở Trung Quốc, nhà Thanh diệt nhà Minh, lập ra nhiều triều Mãng
Thanh, đã dẫn tới sự di cư ồ ạt của người Hoa xuống vùng Đông Nam Á, nhiều
người đã định cư ở Hội An, bộ phận người Hoa này được gợi là người Minh
Hương.
Vào khoảng cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII thương thuyền Nhật
người anh cả cho đi học, ông quyết chí học hành thành đạt để thực hiện hoà bão của
mình. Năm Canh Tý ông đỗ Cử nhân, năm 1901 đỗ phó bảng, được bổ chức thừa
biện bộ lễ.
Năm 1905, sau khi từ quan, ông cùng hai người bạn thân vận động phong
trào Duy Tân với tôn chỉ mục đích rất tiến bộ. Nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí,
hậu dân sinh. Đến năm1908, phong trào Duy Tân phát triển mạnh với đỉnh cao là
cuột kháng sưu nổ ra ở Quảng Nam, rồi lan rộng cả miền trung, ông bị thực dân
Pháp bắt tại Hà Nội, giải về Huế kết án tù và đày đi Côn Lôn. Trước sự đấu tranh
quyết liệt của ông và sự ủng hộ của những người Pháp tiến bộ, thực dân pháp phải
trả tự do cho ông.
Từ Côn Lôn về, ông chủ trương dựa vào cách mạng pháp để dành lại cách
mạng độc lập dân tộc, do vậy ông đã sang pháp với người con trai cả. Tại Pháp, ông
có mối quan hệ mật thiết với luật sư Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc. Tiếc
rằng do những hạn chế về mặt tư tưởng trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, ông chưa
tiếp cận với cách mạng vô sản, mãi đến cuối đời, khi bắt đầu có những nhận thức
mới về con đường cứu nước thì sức ông đã kiệt. Năm 1925 ông về nước, cư ngụ tại
Sài Gòn, tại đây ông đã diễn thuyết hai lần trước quần chúng thành phố.
Sau một cơn bệnh nặng, ông qua đời ngày 24/03/1926 trong sự tiếc thương
vô hạn của đồng bào cả nước.
Dù sự nghiệp đấu tranh giành độc lập cho dân tộc của Phan Châu Trinh
không thành, nhưng tấm lòng yêu nước thương dân của ông luôn luôn sáng ngời,
tấm gương kiên cường bất khuất của ông là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam,
ông mãi mãi là nhà tư tưởng lớn của nhân dân Việt Nam.
Để tưởng nhớ đến một vị tiền bối cách mạng của dân tộc, với đạo lý
uống nước nhớ nguồn, đồng thời để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, tỉnh uỷ và
UBND tỉnh đã cho xây dựng một ngôi nhà lưu niệm trên nền ngôi nhà cũ, nơi cụ
Phan sinh ra và lớn lên.
- 1 6
Toạ lạc trên lưng chừng đồi, con đường dốc thoai thoải dẫn lên được lát đá
xanh, hai bên đường phủ đầy cỏ cây đồng nội, nhà lưu niệm Phan Châu Trinh ẩn
việc của các đồng chí lãnh đạo như: Đ/c Võ Chí Công, Chu Huy Mân, Võ Thứ
Chính tại khu di tích này, Khu uỷ và bộ tư lệnh quân khu V đã cùng nhau vạch ra
đường lối chiến lược cụ thể chỉ đạo Quân khu V đánh Mỹ, nơi đây đã từng diễn ra
các cuộc Hội nghị, đại hội quan trọng, là địa điểm tập huấn cho các cán bộ trung
đoàn, sư đoàn, cán bộ các tỉnh trong toàn khu về học tập các nghị quyết của Đảng
góp phần cùng cách mạng Miền Nam giành thắng lợi trong việc ký kết hiệp định
Paris năm 1973.
Hiện nay khu di tích Nước Oa đã được tôn tạo lại một số hạn mục như:
Tường rào, nhà làm việc, nhà trưng bày đã khánh thành và đưa phục vụ khách
tham quan từ trong dịp kỷ niệm Quốc Khánh 02/09/1998.
V. Địa Đạo Kỳ Anh:
Địa đạo Kỳ Anh nay thuộc xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng
Nam, cách trung tâm tỉnh lỵ khoảng 7 km về phía Đông Bắc. Phía Bắc giáp xã Bình
Nam (Thăng Bình), phía Nam giáp xã Tam Phú, phía Đông giáp xã Tam Thanh và
phía Tây giáp xã Tam An (huyện phú Ninh). Các tuyến địa đạo nằm rải rác các
thôn, xóm trong xã, nhưng bề thế và có tầm quan trọng về chiến lược quân sự hơn
cả là hai thôn: thôn Thạch Tân và thôn Vĩnh Bình.
Vào những năm 1961 – 1964, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ở
miền Nam Việt Nam vào giai đoạn quyết liệt, quy mô rộng khắp. Năm 1965, trước
sự lớn mạnh của phong trào cách mạng, các vùng giải phóng này càng mở rộng,
nguy cơ phá sản của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” đã rõ ràng. Ở Quảng Nam,
trong đó có Kỳ Anh được xem là trong những mục tiêu để chúng thực hiện ý đồ đó,
- 1 8
bởi chiếm được Kỳ Anh sẽ là bàn đạp lấn chiếm cả vùng đông Tam Kỳ, hơn nữa địa
điểm này gần đường quốc lộ 1A, gần căn cứ Tuần Dưỡng (Bình An, Thăng Bình),
gần tỉnh lỵ Quảng Tín, nên chúng quyết lấn chiếm để làm vành đai an toàn cho cả
tỉnh về phía đông.
Với tầm quan trọng về chiến lượt quan trọng như vậy, nên địch liên tiếp lấn
chiếm. Trước tình hình ấy, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Kỳ Anh phải làm gì để
củng cố thế trận và giữ vững vùng giải phóng, thực hiện tốt phương châm “bám đất,
huyện Hương Trà (Thừa Thiên), ít lâu sau được thăng Tri phủ Lạng Giang (Bắc
Giang), án sát Nam Định, rồi Bố chánh Bắc Ninh. Ông nổi tiếng là công minh và
thanh liêm trong suốt 30 năm làm quan.
Năm 1879, vua Tự Đức phong ông làm chức Binh Bộ Thượng Thư và bổ
nhiệm làm Tổng Đốc Hà - Ninh (Hà Nội- Bắc Ninh). Năm 1882, lấy cớ bảo vệ Pháp
Kiều, đại tá henri riviesre đêm quân đánh Bắc Kỳ lần thứ II. Tổng đốc Hoàng Diệu
nhận thấy nguy cơ của một cuộc chiến sắp nổ ra, ông đã cấp tốc cho người về tấu
trình với triều đình nhà Nguyễn xin viện binh, mặt khác ông ra lệnh cho giới
nghiêm và thông báo khắp nơi chuẩn bị đối phó khi tình thế chiến tranh xảy ra. Thế
nhưng, triều đình nhà Nguyễn lúc này đứng đầu là vua Tự Đức, chẳng những không
cho quân chi viện mà còn hạ chiếu quở trách, quan lại thì tham sống sợ chết. Trước
sức ép từ mọi phía, Hoàng Diệu vẫn tỏ ý chí quyết tâm chống Pháp, ông chuẩn bị
lực lượng chiến đấu nhằm bảo vệ thành Hà Nội đến cùng.
5 giờ sáng ngày 8/3 năm Nhâm Ngọ (25/04/1882), Riviere đưa tối hậu thư
buộc phải nộp thành. Tổng đốc Hoàng Diệu phái Tôn Thất Bá đi điều đình, nhưng
thực dân Pháp không trả lời, chúng đã nổ súng tấn công thành Hà Nội với sự yểm
hộ của 4 tàu chiến. Mặc dù quân ta ra sức chống trả, nhưng thế cô, sức yếu, nên sau
một thời gian ngắn chiến đấu dũng cảm, thành Hà Nội đã bị vỡ, Hoàng Diệu vào
cung viết di biểu, rồi ra ngoài Võ Miếu, dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự vẫn để khỏi rơi
vào tay giặc.
Sau khi quyên sinh, thi thể ông được dân chúng và các văn thân Hà Nội đem
mai táng ở khu Học đường gần Văn Miếu. Sau đó, thể theo nguyện vọng của gia
- 2 0
đình, ông được cải táng về quê nhà tại làng Xuân Đài, xã Điện Quang, huyện Điện
Bàn.
Mộ Hoàng Diệu được trùng tu tôn tạo lần thứ I vào năm 1982 và lần thứ II
vào năm 1998. Lăng mộ Tổng đốc nằm trong một khu đất rộng chừng 2000m
2
, kiểu
dáng kiến trúc thanh thoát, nhẹ nhàng tựa cuộc đời thanh bạch và trung kiên của
- Đối với mỗi di tích có chức năng khác nhau thì thẫm quyền đợc phân cấp cho
mỗi địa phơng cũng khác nhau.
- Ví dụ:
- Di tích cấp Quốc gia do cấp bộ cấp bằng và chịu sự quản lý của Uỷ Ban nhân
dân tỉnh và sở Văn hoá - Thông Tin.
- Di tích cấp tỉnh, thành phố, do Uỷ Ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cấp bằng
công nhận cấp thẫm quyền, chịu trách nhiệm thực thi quản lí di tích đó là Uỷ Ban
nhân dân cấp huyện thị, thành phố, trực thuộc tỉnh, phòng văn hoá thông tin.
I. Phơng pháp bảo vệ Di Tích:
Phơng pháp bảo vệ là cơ sở đầu tiên để bảo quản trong tơng lai.
* Xây dựng kế hoạch phòng chống tai nạn rủi ro một ly của sự phòng ngừa!
Lập kế hoạch trớc phòng chống tai nạn không những giảm đi sự huỷ hoại vĩnh
viễn cho di tích, cho các su tập hiện vật mà còn là biện pháp tích cực ngăn ngừa
hiểm hoạ xảy ra.
Vì vậy những ngời làm công tác Bảo Tồn Bảo Tàng đợc nhân dân và nhà nớc
giao phó để gìn giữ các Di Sản Văn hoá đóng một vai trò quan trọng trong công việc
phòng chống và khắc phục các tai họa đó. Công tác lập kế hoạch bao gồm việc đánh
giá của tình trạng di tích aphan tích và xử lí các nguy cơ đang đe dọa và tiến hành
các bớc cần thiết để cứu lấy di tích và các bộ su tập chẳng may khi hoả hoạn, lũ lụt
xảy ra.Văn bản kế hoạch này phải đợc gởi đến toàn bộ nhân viên trong cơ quan.
*Các phơng án bảo vệ thờng xuyên đối với di tích.
Luôn luôn bảo vệ gìn giữ di tích phòng ngừa sự xâm hại của con ngời và các
yếu tố khác.
- 2 3
Không để di tích bị h hỏng, mất mát.
Phải luôn luôn kiểm tra phát hiện ngăn ngừa nấm mốc côn trùng xâm hại di
tích.
Kiểm tra độ ẩm tơng đối của di tích.
II.Phơng pháp phân tích (phơng pháp từng phần)
Phơng pháp phân tích có thể đợc coi là việc mở rộng một số mặt riêng biệt nào
biệt.
+ Dự báo động đất.
+ Dự báo bị dòng chảy biến thành sông.
+ Phương pháp di chuyển di tích đến địa điểm mới phải tuân thủ các
nguyên tắc nhất định để đảm bảo an toàn cho di tích nên xem nó như là một phương
pháp.
Chỉ di chuyển di tích trong những trường hợp sau đây: Di tích nằm trong
vùng dự báo là có nguy cơ động đất, xoay đổi dòng chảy của sông, vùng chiến
tranh.
Phương pháp này chỉ áp dụng đối với di tích có kết cấu khung (khung gỗ)
người ta sẽ tháo dỡ từng bộ phận của di tích đến địa điểm mới lắp lại.
Việc tháo gỡ phải nghiên cứu thật cẩn thận, đánh số ký hiệu các bộ phận tháo
rời của di tích, các bộ phận hư hỏng sẽ được bỏ đi còn các chi tiết tốt sẽ được giữ lại
xử lý bảo quản sau đó sẽ lắp ghép lại như cũ. bằng mọi cách phải giữ lại được yếu
tố nguyên gốc đặc biệt là yếu tố trang trí.
Trước khi tháo dỡ phải làm các thủ tục kế hoạch tháo dỡ mái dần dần từ khung
đến tận nền nhà. Sau khi lắp ráp xong phải được chụp ảnh chi tiết tu sửa và thay đổi
báo cáo những năm tháng khởi công và hoàn thành.
Ngày nay, trong phương pháp hiện đại người ta có thể sử dụng các phương
pháp khác nhau như dùng máy bay hay trực thăng hoặc dùng ô tô lớn chuyên chở cả
di tích và ngôi nhà nhưng phải nghiên cứu kỷ để tránh khi chuyên chở khỏi bị hư
hỏng.
**B.Một số vấn đề về bảo tồn các Di Tích Khảo Cổ học ở Quảng Nam:
- 2 5