So sánh lời hứa trong ngôn ngữ Việt - Thái. - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

CÀ THỊ NGÂN

SO SÁNH LỜI HỨA TRONG NGÔN NGỮ
VIỆT -THÁI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC


K50 ĐHSP Ngữ Văn.
Nhân dịp khoá luận được công bố, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm,
giúp đỡ đó. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, TS Vũ
Tiến Dũng- người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện
khoá luận này.

Tác giả

Cà Thị Ngân

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2

1.2.1. Quan điểm lịch sự của của Lakoff 12
1.2.1.1. Quy tắc 1: Không áp đặt 12
1.1.2.2. Quy tắc 2: Để ngỏ sự lựa chọn 13
1.1.2.3. Quy tắc 3: tăng cường tình bằng hữu 13
1.2.2. Quan điểm về lịch sự của G. Leech 13
1.2.3. Quan điểm lịch sự của Brown và Levinson 15
1.2.4. Quan điểm lịch sự phương Đông 16
CHƯƠNG 2; SO SÁNH LỜI HỨA TRONG NGÔN NGỮ VIỆT - THÁI 19
2.1. Một vài nét về cộng đồng dân tộc Thái 19
2.1.1. Môi trường địa lí tự nhiên 19
2.1.2. Môi trường kinh tế - xã hội 20
2.1.3. Môi trường văn hóa 21
2.2. Khái quát chung về lời hứa và lời hứa trong giao tiếp tiếng Việt. 22
2.2.1. Khái niệm hành vi hứa 23
2.2.2. Hứa – xét theo góc độ của văn hóa giao tiếp 24
2.2.2.1. Nguồn gốc của văn hóa ứng xử của người Việt 24
2.2.2.2. Hứa – theo góc nhìn của văn hóa giao tiếp 26
2.2.3. Hứa – xét theo góc độ của lịch sự 27
2.2.4. Hứa – xét theo góc độ của dụng học 29
2.2.5. Tiêu chí nhận diện hành vi hứa 29
2.3. Lời hứa trong giao tiếp tiếng Thái 31
2.3.1. Quan niệm về lời hứa trong văn hoá ứng xử của người Thái 31
2.3.2. Nội dung lời hứa trong giao tiếp tiếng Thái 33
2.3.2.1. Hứa sẽ chấm dứt một hành động 33
2.3.2.2. Hứa không vi phạm vào những sai lầm trước đó 34
2.3.2.3. Hứa hẹn một sự giúp đỡ 35
2.3.2.4. Hứa hẹn đi kèm một giả thiết 35
2.3.3. Hình thức thể hiện lời hứa trong giao tiếp tiếng Thái 36
2.4. So sánh lời hứa trong ngôn ngữ Việt-Thái 38
2.4.1. Những điểm tương đồng 38

của mình” (Điều thứ 5).
- “Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước tòa án” (Điều 66).
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 1992 bổ sung:
- “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân
tộc và phát huy những phong tục, tập quán truyền thống và văn hóa tốt đẹp
của mình” (Điều 5).
- “Nhân dân đảm bảo cho công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thuộc các dân tộc có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình
trước tòa án” (Điều 133)
“Luật phổ cập giáo dục tiểu học” ban hành ngày 6/8/1991 khẳng định:
- “Các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc
mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học”.
“ Luật giáo dục tiểu học” ngày 10/12/1998 viết rõ hơn:

2
- “Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói,
chữ viết của dân tộc mình. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu
số được thực hiện theo quy định của Chính Phủ”
Quyết định của Hội Đồng Chính Phủ về chủ trương đối với chữ viết các
dân tộc thiểu số, số 53 - CP ngày 22/02/1980 viết:
“ Tiếng nói và chữ viết của dân tộc thiểu số Việt Nam vừa là vốn quý của
các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước”.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, đặc biệt là từ tình cảm yêu mến, trân
trọng của một người con dân tộc Thái tha thiết mong muốn được đóng góp thêm
tiếng nói nhỏ bé của mình vào việc giúp cho mọi người hiểu đúng, hiểu đầy đủ
lời hứa trong giao tiếp tiếng Thái, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: So sánh lời hứa
trong ngôn ngữ Việt - Thái.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Ngày nay, sự tiếp xúc với thế giới bằng ngôn ngữ trở nên phổ biến và quan
trọng hơn bao giờ hết. Lịch sự được nhiều người quan tâm và nó có một vị trí rõ

trong ngôn ngữ Thái. Chính vì thế đây là một vấn đề cần được quan tâm nghiên
cứu. Vậy trong tiếng Thái lời hứa được thể hiện như thế nào? Lời hứa trong
tiếng Việt và tiếng Thái có những điểm tương đồng và dị biệt nào? Đề tài này
của chúng tôi sẽ trình bày một cách khái quát về lời hứa trong tiếng Việt và
Tiếng Thái, và bổ sung thêm vào sự hiểu biết của mọi người về vấn đề này.
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA KHÓA LUẬN
Mục đích của khóa luận ứng dụng những lí thuyết chung về hành vi ngôn
ngữ, lí thuyết lịch sự để xem xét hành động hứa trong tiếng Việt và tiếng Thái.
Từ đó tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt của lời hứa giữa hai ngôn ngữ
này. Từ mục đích đó khóa luận hướng tới nhiệm vụ sau đây:
- Giới thiệu một số quan điểm khác nhau về lịch sự của các nhà nghiên cứu
trên thế giới và Việt Nam, giới thiệu về lí thuyết hành động ngôn ngữ.
- Tìm hiểu so sánh lời hứa trong giao tiếp giữa tiếng Việt và tiếng Thái.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận là lời hứa trong giao tiếp tiếng
Việt và tiếng Thái.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi mà khóa luận quan tâm là việc sử dụng lời hứa trong giao tiếp
người Thái trên địa bàn thành phố Sơn La. Khóa luận quan tâm khảo sát lời hứa
của người Thái ở khu vực Bản Bó - Phường Chiềng An - Thành phố Sơn La. Từ
đó so sánh với lời hứa trong giao tiếp của người Việt (người Kinh) và tìm ra
những điểm tương đồng và khác biệt.
5. Ý NGHĨA CỦA KHÓA LUẬN
5.1. Ý nghĩa lí luận
- Vận dụng những kiến thức về hành vi ngôn ngữ và nghi thức lời nói vào

4
việc nghiên cứu lời hứa trong giao tiếp tiếng Việt và tiếng Thái từ đó hiểu sâu
sắc hơn về lời hứa.
5
6.1.5. Phương pháp quy nạp
Phương pháp quy nạp là phương pháp đi từ phân tích những luận cứ cụ thể
đến khái quát. Xét thấy phương pháp quy nạp phù hợp với khóa luận này, chúng
tôi đã lựa chọn và sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu.
6.1.6. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh giúp ta tìm ra và làm nổi bật những điểm tương đồng
và dị biệt của lời hứa trong hai ngôn ngữ Việt - Thái.
6.2. Nguồn ngữ liệu
Khóa luận này được thực hiện chủ yếu trên nguồn ngữ liệu tự nhiên, chủ
yếu là ngôn ngữ nói mà chúng tôi ghi chép lại từ những cuộc hội thoại trong
hoạt động giao tiếp của đồng bào người Thái.
Ngoài ra còn một số tư liệu liên quan khác đã được dẫn ở phần tài liệu.
7. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận kết luận và phần tài liệu tham khảo, cấu
trúc của đề tài gồm có 2 chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sơ lí thuyết
Chương 2: So sánh lời hứa trong ngôn ngữ Việt - Thái

6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1. LÍ THUYẾT VỀ HÀNH VI NGÔN NGỮ
Trong giao tiếp, thông thường người ta đối lập giữa nói và làm, thậm chí
người Việt chúng ta còn quan niệm nói và làm là hai phạm trù khác hẳn nhau.
Dân gian thường có câu:
“ Ăn như rồng cuốn

cược hay bộ lộ cảm xúc, Austin gọi những phát ngôn này là phát ngôn ngữ vi.
Phát ngôn ngữ vi là những phát ngôn mà khi người ta nói chúng ra thì đồng thời
người ta thực hiện ngay cái việc biểu thị trong phát ngôn. Nhờ phân biệt phát
ngôn khảo nghiệm và phát ngôn ngữ vi mà Austin phát hiện ra bản chất hành
động của ngôn ngữ. [ 4 ]
Các hành động được thực hiện bằng lời nói gọi là các hành động ngôn ngữ.
Theo Austin có ba loại hành động ngôn ngữ trong một phát ngôn, đó là :
- Hành động tạo lời
- Hành động tại lời
- Hành động mượn lời
1.1.1.1. Hành vi tạo lời (locutionary act)
Hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như : ngữ
âm, từ, các kiểu kết hợp thành câu để tạo ra một phát ngôn đúng về hình thức
và nội dung.
Ví dụ: (1) Sáng nay, tôi dậy sớm.
Phát ngôn này đã được tạo thành từ các từ ngữ : sáng nay, tôi, dậy, sớm.
Các từ ngữ này được kết hợp theo đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt về cấu tạo
cụm từ và câu như : chủ ngữ đứng trước vị ngữ, trạng ngữ thời gian đặt ở ngay
trước nòng cốt câu
Hành động tạo lời là hành động cơ sở của phát ngôn, nhằm tạo ra một câu
với hình thức và nội dung ý nghĩa nhất định. Điều này cũng cho thấy rằng, nếu
một người gặp khó khăn trong việc phát âm các từ để tạo ra một phát ngôn có ý
nghĩa trong một ngôn ngữ ( chẳng hạn như người có khiếm khuyết trong bộ máy
phát âm hoặc người nước ngoài) thì người đó không thành công trong việc tạo ra
một hành động tạo lời. Chẳng hạn, một người nước ngoài nói tiếng Việt thường
sẽ nói là:
Ví dụ: (2). a Rat han hanh duoc lam quen !
Sở dĩ người ta nói và chúng ta nghe thấy như vậy là do ảnh hưởng của phát
âm không có dấu thanh, một đặc điểm nổi bật của các ngôn ngữ Ấn Âu. Phát
ngôn này bình thường sẽ không được coi là một hành vi tạo lời, mà hành vi tạo

(5) Bác bao nhiêu tuổi rồi ạ?
Hỏi nhiều khi không dùng để hỏi mà dùng để chào. Ví dụ :
(6) Mẹ đi chợ về ạ?
(7) Bác mời cơm muộn thế ạ?
Từ cách hiểu như trên chúng ta nhận thấy rằng nắm được ngôn ngữ không
chỉ có nghĩa là chỉ nắm được âm, từ ngữ, câu của ngôn ngữ đó mà còn nắm
được các quy tắc điều khiển hành động tại lời như hỏi, xin lỗi, cảm ơn, hứa

9
hẹn sao cho đúng lúc, đúng chỗ phù hợp với ngữ cảnh, thích hợp với “phông
văn hóa” với người được hỏi. Ví dụ như ở Việt Nam và các nước Á Đông nói
chung hỏi thăm sức khỏe, tuổi tác, hôn nhân được xem là sự quan tâm, thân mật
nhưng ở phương Tây điều đó lại bị coi là mất lịch sự.
Hành động tại lời khác với hành động tạo lời và hành động mượn lời ở chỗ
nó có tính chất của một hành động theo thiết chế. Một hành động theo thiết chế
gắn với những quyền lực và trách nhiệm của những người nằm trong thiết chế.
Nói cách khác hành động tại lời làm thay đổi tư cách pháp nhân của người đối
thoại. Chúng đặt người nghe vào những nhiệm vụ và quyền lực mới so với tình
trạng của họ trước khi thực hiện hành động tại lời đó. Điều này rất dễ nhận ra ở
hành động hứa, khi ta hứa với ai điều gì thì ngay lúc hứa ta đã bị ràng buộc trách
nhiệm phải thực hiện cho được lời hứa và người nghe có quyền đợi kết quả từ
lời hứa đó.
Mặc dù được chia thành ba hành động cụ thể như trên nhưng lí thuyết về
hành động ngôn ngữ chủ yếu quan tâm đến hành động tại lời.
1.1.1.4. Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi
Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn - sản phẩm của một hành vi ở lời nào đó khi
hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực. Phát ngôn ngữ vi có
kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi ở lời tạo ra nó. Kết cấu lõi đó được gọi là biểu
thức ngữ vi. Chẳng hạn chúng ta có phát ngôn ngữ vi :
Ví dụ: (8) Xin bố mẹ cứ yên lòng, con sẽ cố gắng học tập tốt.

cũng như tính quy ước.
(ii) Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy định trong
thủ tục.
B - Thủ tục phải được thực hiện (i) một cách đúng đắn và (ii) một cách đầy đủ.
C - Thông thường thì (i) những người thực hiện hành vi ở lời phải có ý
nghĩ, tình cảm và ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và (ii) khi hành
động diễn ra thì có ý nghĩa tình cảm đúng như đã có.
1.1.2. Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ của Searle
Với công trình nghiên cứu “Speech Act”’ (hành vi ngôn ngữ), Searle đã
được coi là người có vị trí quan trọng trong sự phát triển của lí thuyết hành vi
ngôn ngữ. Searle đã vạch ra những hạn chế trong bảng phân loại các động từ
ngữ vi của Austin.
Trên cơ sở phân tích một số hành vi ở lời Searle đã đưa ra những điều kiện
sử dụng hay còn gọi là “điều kiện thỏa mãn” để việc thực hành hành vi ở lời đạt
hiệu quả cao, đúng với đích của nó. Có tất cả bốn điều kiện và được biểu hiện
theo từng phạm trù, từng hành vi ở lời cụ thể.
1.1.2.1 Điều kiện sử dụng các hành vi tại lời theo Searle
Trên cơ sở phân tích một hành vi tại lời: hành vi hứa trong tiếng Anh, Searle

11
đã điều chỉnh lại, bổ sung vào những điều kiện may mắn của Austin và Searle
gọi chúng là “điều kiện sử dụng” hay “điều kiện thỏa mãn”. Mỗi hành vi tại
lời đòi hỏi phải có một hệ thống những điều kiện gọi là những quy tắc (Rules)
để cho việc thực hiện đạt hiệu quả đúng với đích của nó. Mỗi điều kiện là
điều kiện cần còn toàn bộ hệ điều kiện là điều kiện đủ. Có tất cả bốn điều
kiện sau:
a. Điều kiện nội dung mệnh đề
b. Điều kiện chẩn bị
c. Điều kiện chân thành
d. Điều kiện căn bản

giao tiếp tốt đẹp hơn, bao hàm cả sự nhường nhịn, tránh xung đột, căng thẳng:
“Lịch sự nhiều khi là sự nhân nhượng tuyệt vời người ta trọng nó hơn cả sự rõ
ràng, minh bạch, nhằm tránh những điều phiền toái bực mình”. Rakoff đã đưa ra
hai quy tắc:
1. Quy tắc rõ ràng
Quy tắc rõ ràng là quy tắc của cộng tác hội thoại
2. Quy tắc lịch sự
Quy tắc lịch sự được phân thành các quy tắc dưới bậc sau:
Quy tắc 1: không áp đặt ( Don’t impose)
Quy tắc 2: Để ngỏ sự lựa chọn (Offer option)
Quy tắc 3: Tăng cường tình bằng hữu (Encourage felings camaraderie)
1.2.1.1. Quy tắc 1: Không áp đặt
Quy tắc này thuộc về phép lịch sự quy thức (fomal politeness) thích hợp
với hoàn cảnh giao tiếp có sự khác biệt về quyền lực, địa vị giữa những người
tham gia tương tác như giữa một sinh viên với chủ nhiệm khoa, giữa một nhân
viên với giám đốc.
Không áp đặt ở đây được hiểu là không ngăn cản Sp2 thực hiện theo ý
muốn của mình. Ngược lại với không áp đặt, tức là buộc Sp2 không được hành
động theo mong muốn của mình. Theo quy tắc này, để lịch sự người nói Sp1 sẽ
giảm sự áp đặt bằng cách xin phép, xin lỗi, tránh cả những hành động khiến Sp2
xao nhãng việc Sp2 đang làm, hay điều Sp2 đang nghĩ tới khi Sp1 đang nói.
Không áp đặt còn có nghĩa là không đưa ra hoặc không tìm hiểu quan điểm
riêng tư, tránh đề cập đến cái riêng của cá nhân như đời sống gia đình, thu nhập,
thói quen. Quy tắc này khiến chúng ta tránh những lời nói tục tằn, thô lỗ, những
tiếng lóng, tiếng địa phương, tránh ngôn ngữ cảm xúc, tránh cả những đề tài có
tính chất kiêng kị như các đề tài về tình yêu, giới tính, chính trị, tôn giáo, bệnh

13
tật, khó khăn về kinh tế vì chúng được xem là quá cá nhân trong những cuộc
trao đổi ngoài xã hội.

“Principles of pragmatics” (Những nguyên lý của dụng học), Leech quan niệm
rằng lịch sự là sự bù đắp của những hao tổn, thiệt thòi do những hành động nói
năng của người nói gây ra cho người đối thoại. Quy tắc này dựa trên khái niệm

14
“thiệt” (cost) và “lợi” (benefit), nội dung khái quát của nó như sau: tối thiểu hoá
những lối nói bất lịch sự và tăng tối đa những lối nói lịch sự”. Nội dung của
nguyên tắc lịch sự đã được Leech cụ thể hóa trong 6 phương châm giao tiếp lịch
sự đó là:
1. Phương châm khéo léo (tact maxim)
a. Giảm thiểu tổn thất cho người
b. Tăng tối đa lợi ích cho người
2. Phương châm hào hiệp (Genrosity maxim)
a. Giảm thiểu lợi ích cho ta
b. Tăng tối đa tổn thất cho ta
3. Phương châm tán thưởng (Approbation maxim)
a. Giảm thiểu sự chê bai người
b. Tăng tối đa khen ngợi người
4. Phương châm khiêm tốn (Modesty maxim)
a. Giảm thiểu khen ngợi ta
b. Tăng tối đa sự chê bai ta
5. Phương châm tán đồng (agreement maxim)
a. Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta và người
b. Tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người
6. Phương châm thiện cảm (simpathy maxim)
a. Giảm thiểu các ác cảm giữa ta và người
b. Tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người
Theo Leech thì mức độ lịch sự của hành vi tại lời phụ thuộc vào 3 nhân tố:
Thứ nhất: phụ thuộc vào bản chất của hành động nói được thực hiện
Ví dụ: (12)

kém lịch sự
a, Học bài đi! b. Đóng cửa lại!
c. Đưa tờ báo đây!
d. Mời bạn dùng thêm chút
bánh nữa!

lịch sự cho người
lịch sự hơn

16
Brown và Levinson căn cứ vào các khái niệm thể diện với sự phát triển thể
diện dương tính và thể diện âm tính, hai ông đã cho rằng trong tương tác có thể
hiểu ra bốn kiểu thể diện:
- Thể diện dương tính của người nói
- Thể diện âm tính của người nói
- Thể diện dương tính của người nghe
- Thể diện âm tính của người nghe
Cả bốn thể diện này đều được đưa vào một cuộc giao tiếp và nó có quan hệ
theo kiểu “cộng sinh” với nhau.
Phần lớn các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm tổn hại đến thể
diện của các nhân vật giao tiếp. Những hành vi này được Brown và Levinson
gọi là Face Threatening Acts - Hành vi đe dọa thể diện (viết tắt là FTA).
Chính các hành vi động ngôn ngữ thường đe dọa thể diện của người nói và
của người nghe nên khi thực hiện một hành động ngôn ngữ cần xem xét và điều
chỉnh các hành vi ở lời nói cũng như những cuộc giao tiếp cho phù hợp với quan
hệ liên cá nhân mới được giao tiếp. Hành động ấy được Brown và Levinson gọi
là hành động cứu vãn thể diện.

Trong tiếng Trung Quốc, khái niệm lịch sự hiện đại có nghĩa là “khiêm với
mình và tôn kính người”. Điều này được phản ánh rất rõ ràng trong cách thức
xưng hô, nói năng của người Trung Quốc. Họ tự xưng mình là “bỉ nhân” (người
ở vùng xa không biết lễ nghi), gọi con mình là “khuyển tử” (chó con), gọi văn
mình viết là “chuyết tác” (tác phẩm thô vụng), họ gọi ý kiến, suy nghĩ của mình
là “ngu ý”, “thiển ý”… Đến cả hoàng đế Trung Quốc cũng tự xưng mình là “quả
nhân” (người cô độc) hoặc “cô gia” (người không được ai hỏi han)… Trong khi
đó, họ lại tôn vinh người đối thoại bằng cách gọi: “tiên sinh”, “đại ca”, “hiền
muội”… gọi ý kiến của người đối thoại là: “cao ý”, “tôn ý”…
Như vậy, ứng xử theo quan niệm của người Nhật, người Trung Quốc không
phải là hệ quả của tính toán cá nhân mà là áp lực chuẩn mực của xã hội lên hành
vi cá nhân, người ta gọi đó là lịch sự chuẩn mực.
Lịch sự chuẩn mực là hành động ứng xử ngôn ngữ phù hợp với chuẩn mực
giao tiếp xã hội nhằm mục đích tôn trọng các giá trị xã hội (địa vị, quyền lực,
thứ bậc, tuổi tác, giới tính, uy tín…) của người đối thoại và cũng chính là của
người nói [14]. Do đó, trong giao tiếp lời nói, cá nhân nào vi phạm quy tắc lịch
sự chuẩn mực thường bị đánh giá tiêu cực về tư cách đạo đức, nhân cách… và
điều này đồng nghĩa với thái độ vô lễ.
Trong giao tiếp, lịch sự chuẩn mực thường được gắn với các nghi thức lời
nói như chào hỏi, mời mọc, cảm ơn, xin lỗi, chúc tụng… trong từng ngôn ngữ.
Đối với một số nền văn hóa phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt
Nam… Nghi thức lời nói thường đi kèm với các phương tiện giao tiếp phi ngôn
ngữ khác như: cúi chào, chắp tay, quỳ gối… mới được nhìn nhận là chuẩn mực.
Như vậy, tính áp đặt của chuẩn mực xã hội lên hành vi cá nhân đã chi phối
quan niệm lịch sự của người phương Đông, đó là quan niệm lịch sự chuẩn mực.

18
Tiểu kết chương 1

Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ được J.L.Austin xây dựng. Tác giả cho


2.1. Một vài nét về cộng đồng dân tộc Thái
2.1.1. Môi trường địa lí tự nhiên
Nằm trong thành phần của dân tộc Việt Nam, sau người Tày, người Thái là
dân tộc thiểu số đông thứ hai ở Việt Nam. Với tên gọi “phủ Táy” (người Thái).
Theo thống kê gần đây, dân tộc Thái ở Việt Nam có hơn một triệu năm trăm
nghìn người, cư trú tập trung dọc dải miền Tây của tổ quốc, ở các tỉnh Lai Châu,
Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Lào Cai, miền tây Thanh Hóa và Nghệ
An. Sau năm 1954 có một bộ phận đồng bào Thái di cư vào sinh sống tại các
tỉnh Đắc Lắc, Lâm Đồng. [11]
Người Thái có những câu thơ nổi tiếng ca ngợi vẻ đẹp quê hương đồng
thời đó cũng như một lời giới thiệu khéo léo về địa bàn cư trú của mình :
“Hên to pú tốc pú dặn duội
Huổi tốc huổi lạn cáp hin tó”
(Nhìn thấy chăng núi tiếp núi trập trùng
Suối reo, thác đổ, uốn khúc qua nền đá vôi)
Địa bàn cư trú của người Thái là những vùng đất có địa hình phong phú.
Đó là những miền đất của những dãy núi cao thấp gối kề nhau, chạy theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam xen lẫn với những vùng cao nguyên rộng lớn, những bình
nguyên lòng chảo được hình thành trên cấu trúc của hệ thống đá vôi, thung lũng
sâu với các dòng chảy của các con suối khi êm đềm khi dữ dội. Đó còn là miền
đất của những cánh rừng già đã được hình thành từ rất lâu đời với quần thể động
thực vật vô cùng phong phú. Khí hậu nhiệt đới phức tạp, thời tiết mỗi vùng một
khác, lại hay thay đổi đột ngột, mùa khô lạnh với những trận gió mùa Đông Bắc,
với sương muối bao phủ; mùa mưa với những trận mưa rừng kéo dài, độ ẩm cao,
mùa xuân rực rỡ với hoa Ban nở trắng rừng, vạn vật sinh sôi nảy nở. Và nếu như
người Thái ở Vân Nam- Trung Quốc sinh sống ở “Xíp xoong păn ná” (mười hai
nghìn ruộng), ở”cảu păn ná” (Chín nghìn ruộng) vùng Bắc Lào, ở “Lan ná”
(Một triệu ruộng) vùng Đông Bắc Thái Lan, thì ở Việt Nam người Thái sinh
sống ở vùng các cánh đồng phì nhiêu màu mỡ, rộng nhất miền Tây được phản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status