Lời Mở Đầu .............................................................................................................................. 2
A. Cơ sở lý luận ........................................................................................................................ 3
I.Một số quan điểm về lợi thế so sánh ..................................................................................... 3
1.Lợi thế so sánh theo quan điểm của David Ricardo ......................................................... 3
2.Lợi thế so sánh theo một số quan điểm hiện đại .............................................................. 4
2.1 Lợi thế so sánh theo mô hình của trường Đại học Stanford Hoa kỳ ........................ 4
2.2 Lợi thế so sánh theo mô hình đàn nhạn bay ( The flying geese model) ................... 5
II.Đánh giá lợi thế so sánh theo các quan điểm ....................................................................... 7
1.Đánh giá lợi thế so sánh theo quan điểm của David Ricardo .......................................... 7
2. Đánh giá lợi thế so sánh theo quan điểm hiện đại ........................................................... 8
3 Phân tích một ví dụ về lợi thế so sánh của David Ricardo ............................................... 8
4. Đánh giá về lợi thế so sánh theo các quan điểm của David Ricardo ở Việt Nam ........ 10
B.Thực trạng ở Việt Nam ....................................................................................................... 12
I. Những đặc điểm chung để phát triển kinh tế Việt Nam .................................................... 12
II.Những lợi thế so sánh của Việt Nam ................................................................................. 13
1.Những lợi thế so sánh tự nhiên ....................................................................................... 13
2.Những lợi thế so sánh tự tạo ........................................................................................... 16
III.Những bất lợi của Việt Nam ............................................................................................. 25
1.Những bất lợi về điều kiện tự nhiên ............................................................................... 25
2.Những bất lợi về điều kiện tự tạo ............................................................................... 25
IV. Phân tích ví dụ về lợi thế cạnh tranh hàng nông sản Việt Nam ...................................... 28
2.Những bất lợi. .................................................................................................................. 29
3.Một số ví dụ về hàng nông sản ....................................................................................... 29
C. Nhận xét và một số giải pháp để phát triển kinh tế theo lợi thế so sánh Ở Việt Nam ..... 32
I. Nhận xét .............................................................................................................................. 32
1.Ưu điểm về lợi thế kinh tế ở Việt Nam .......................................................................... 33
2.Nhược điểm về lợi thế kinh tế ở Việt Nam .................................................................... 35
II.Một số giải pháp và kiến nghị ............................................................................................ 38
Kết Luận ................................................................................................................................. 44
1
Lời Mở Đầu
dầu mỏ, …Tóm lại là sự chuyên môn hóa từ phạm vi nhỏ ở các địa phương
đến những không gian lớn hơn giữa các quốc gia trong hoạt động thương
mai đều đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia. Lý thuyết này được Ricardo
đề ra năm 1987 và gọi là quy luật lợi thế so sánh. Đây là một ly thuyết quan
trọng mà tất cả mọi nền kinh tế đều phải áp dụng trong thực tiễn để có được
sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ổn định trong quan hệ kinh tế hiện đại.
Trường hợp có nhiều hàng hoá với chi phí không đổi và có hai quốc gia thì
lợi thế so sánh của từng hàng hoá sẽ được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ
hàng hoá có lợi thế so sánh cao nhất đến hàng hoá có lợi thế so sánh thấp
nhất và mỗi nước sẽ tập trung vào sản xuất những mặt hàng có lợi thế so
sánh từ cao nhất đến cao ở mức cân bằng. Ranh giới mặt hàng nào là có lợi
thế so sánh cao ở mức cân bằng sẽ do cung cầu trên thị trường quốc tế quyết
định.
Trường hợp có nhiều quốc gia thì có thể gộp chung tất cả các nước khác
thành một nước gọi là phần còn lại của thế giới và những phân tích trên vẫn
giữ nguyên tính đúng đắn của nó. Lợi thế so sánh không những áp dụng
trong trường hợp thương mại quốc tế mà còn có thể áp dụng cho các vùng
trong một quốc gia một cách hoàn toàn tương tự.
Toàn bộ phân tích của Ricardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sự khác
nhau giữa các nước trong công nghệ sản xuất dẫn đến năng suất vật chất và
đòi hỏi lao động đơn vị khác nhau. Xét trên góc độ giá yếu tố đầu vào cũng
dẫn đến lợi thế so sánh với nền tảng công nghệ như nhau:
3
- Các nước phát triển có cung yếu tố đầu vào về tư bản nhiều hơn các nước
đang phát triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi nhân công lớn hơn. Ngược
lại số nhân công trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển lại lớn
hơn các nước phát triển. Như vậy giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻ
hơn tương đối so với giá thuê nhân công; ngược lại ở các nước đang phát
triển giá thuê nhân công lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản. Nói một
cách khác, các nước phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còn các
Bản khác.Đây là lý thuyết phát triển công nghiệp để tạo ra sự chuyển dịch
lợi thế so sánhcủa nền kinh tế với 3 phiên bản cụ thể :
Phiên bản 1: một nước –một ngành hàng:
Tình huống đặt ra cho nước đang phát triển áp dụng để phát triển một ngành
công nghiệp cụ thể. Ban đầu, quốc gia đó phải nhập khẩu sản phẩm từ các
nước công nghiệp phát triển đi trước.Sau đó, tích lũy vốn và học tập kinh
nghiệm để phát triển sản xuất tại chỗ thay thế nhập khẩu.Trên cơ sở đó, nhập
khẩu sẽ giảm dần và tiến đến xuất khẩu.
Hình 1
5
Phiên bản 2: một nước –nhiều ngành hàng:
Qui luật phát triển trong từng ngành hàng giống như đã trình bày ở phiên
bản 1. Qui luật phát triển công nghiệp của một nước là: phát triển các ngành
thứ cấp trước, phát triển các ngành sơ cấp sau.Theo đó, lợi thế so sánh (và
sản phẩm xuất khẩu) của quốc gia sẽ chuyển dịch liên tiếp giữa các ngành
theo thứ tự nêu trên.
Hình 2
Phiên bản 3: nhiều nước –một ngành hàng:
Qui luật phát triển công nghiệp trong từng nước giống như đã trình bày ở
các phiên bản 1 & 2.Từ đó, sẽ diễn ra sự phân công lao động quốc tế theo
khu vực trong từng ngành hàng cụ thể.Đội hình bay của đàn nhạn Đông Á:
Nhật Bản đầu đàn; các nước NICs hàng thứ hai; các nước nổi trội của
ASEAN hàng ba; Trung quốc và Việt Nam ở hàng thứ tư.
6
Hình 3
II.Đánh giá lợi thế so sánh theo các quan điểm
1.Đánh giá lợi thế so sánh theo quan điểm của David Ricardo
David Ricardo đưa ra 2 học thuyết về lợi thế so sánh tuy nhiên 2 học
thuyết này có những ưu nhược điểm và phạm vi ứng dụng khác nhau.
Mô hình 2 quốc gia 2 sản phẩm chỉ có giá trị lý thuyết để hiểu rõ về lợi thế
Khi nghiên cứu về lợi thế so sánh ta còn hiểu được quy luật chuyển
dịch của nó và trình tự phát triển hợp lý giữa các ngành công nghiệp. Vì vậy
mà ta phải vận dụng kết hợp các mô hình nghiên cứu về lợi thế so sánh để áp
dụng phù hợp với từng ngành hàng và phù hợp với nền kinh tế nước ta
3 Phân tích một ví dụ về lợi thế so sánh của David Ricardo
Để làm rõ học thuyết của mình David Ricardo đã đưa ra ví dụ để phân
tích. Ông đã lấy ví dụ về việc sản xuất lúa mỳ và rượu vang ở nước Anh và
nước Bồ Đào Nha để phân tích về giả thuyết 2 sản phẩm 2 quốc gia. Và
David đã phân tích việc sản xuất 2 sản phẩm này về chi phí lao động, sản
xuất trước khi có thương mại và khi có thương mại thì quá trình và kết quả
sản xuất đã có những thay đổi đáng kể. Ta có thể thấy rõ qua các bảng số
liệu mà ông đưa ra sau đây:
8
Bảng 1: Chi phí về lao động để sản xuất
Sản phẩm Anh (giờ công) Bồ Đào Nha (giờ công)
1 đơn vị lúa mỳ 15 10
1 đơn vị rượu vang 30 15
Theo số liệu trên thì ta thấy Bồ Đào Nha có lợi thế tuyệt đối so với Anh cả
về sản xuất lúa mỳ và rượu vang: năng suất lao động của Bồ Đào Nha gấp 2
lần của Anh trong sản xuất rượu vang và gấp 1,5 lần trong sản xuất lúa mỳ.
Ricardo đã phân tích ví dụ này như sau:
Một đơn vị rượu vang tại Anh sản xuất phải tốn chi phí tương đương với chi
phí để sản xuất 2 đơn vị lúa mỳ; Bồ Đào Nha: để sản xuất 1 đơn vị rượu
vang chỉ mất chi phí tương đương với chi phí để sản xuất 1,5 đơn vị lúa mỳ.
Vì vậy Bồ Đào Nha sản xuất rượu vang rẻ hơn tương đối so với Anh.
Ở Anh sản xuất lúa mỳ rẻ tương đối so với Bồ Đào Nha: chi phí cơ hội có
0,5 đơn vị rượu vang trong khi ở Bồ Đào Nha phải mất 2/3 đơn vị rượu
vang.
Qua ví dụ trên và qua những phân tích của mình Ricardo đã đưa ra kết luận
ở Bồ Đào Nha sản xuất rượu vang rẻ hơn tương đối so với ở Anh và ở Anh
chế về lợi thế so sánh do ông đưa ra. Nhưng điểm hạn chế đó là ở những giả
định. Chẳng hạn trên thực tế các yếu tố thay đổi chứ không giống như giả
định: Các nhân tố sản xuất không dịch chuyển một cách hoàn hảo; những
người sản xuất ở Anh hay ở Bồ Đào Nha không tìm được việc làm một cách
dễ dàng: người sản xuất lúa mỳ chỉ tìm được việc làm trong sản xuất rượu và
ngược lại; đồng thời các rào cản thuế quan và thương mại là khó tránh khỏi
ở bất kỳ quốc gia nào. Vì vậy việc đưa các ví dụ để chứng minh học thuyết
lợi thế so sánh chưa phân tích hết được các yếu tố tác động.
4. Đánh giá về lợi thế so sánh theo các quan điểm của David Ricardo ở Việt
Nam
Chiến lược phát triển kinh tế theo hướng thị trường mở cửa trong điều kiện
khu vực hoá và toàn cầu hoá đang mở ra trước mắt cho Việt Nam nhiều
10
Ngoài mục tiêu hợp tác để bảo vệ nền hoà bình và ổn định khu vực nói riêng
và phạm vi thế giới nói chung, Việt Nam gia nhập ASEAN và các tổ chức
kinh tế quốc tế còn vì những lý do khác, trong đó mục tiêu và các lợi ích
kinh tế trong quá trình hợp tác là vấn đề được ưu tiên.Muốn hợp tác hội
nhập có kết quả, Việt Nam cần nhận thấy mình có những lợi thế so sánh gì
và sẽ bổ sung cơ cấu trong quá trình hội nhập kinh tế với các nước ASEAN
và các nước khác trên thế giới ở những lĩnh vực nào?
Từ việc nghiên cứu lý thuyết lợi thế so sánh và sự phát triển lý thuyết lợi thế
so sánh của Ricardo cho phép chúng ta rút ra nhiều gợi ý quan trọng đối với
Việt Nam trong bối cảnh mới.
Từ sự phân tích và lập luận ở trên cho thấy: lợi thế so sánh của Việt
Nam là các lợi thế tĩnh, nếu các lợi thế này không có khả năng tái sinh thì nó
sẽ mất dần đi. Điều này thấy rất rõ ở hai lợi thế mà Việt Nam đang có là tài
nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào. Mặc dầu Việt Nam được coi
là một đất nước phong phú về các loại khoáng sản, nhưng nếu tính theo mức
đầu người thì không phải là nước giàu khoáng sản. Về lao động, Việt Nam
có nguồn lao động trẻ dồi dào, tuy nhiên lực lượng này lại chưa quen với lối
Có nhiều khoáng sản quý giá như than đá, quặng, sắt, chì, dầu mỏ...góp
phần phát triển công nghiệp.
- Nguồn lao động ở Việt Nam.
Về số lượng: Việt Nam chúng ta đang có nguồn nhân lực dồi dào với dân số
cả nước gần 86 triệu người.
Về chất lượng: Năm 2008 nước ta có 275 trường Trung cấp chuyên nghiệp,
209 trường cao đẳng, 160 trường Đại học và có tới 27.900 trường phổ thông,
226 trường dân tộc nội trú…Nhìn vào những con số này cho thấy lực lượng
trí thức và công chức thực sự là một nguồn lực quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế đất nước. Hơn nữa, lao động Việt Nam lại cần cù, chăm học hỏi
và sáng tạo trong tìm tòi áp dụng công nghệ mới vào quá trình lao động.
Việt Nam có một hệ thống chính trị ổn định với Đảng Cộng sản Việt nam
lãnh đạo và chính phủ điều hành, không xảy ra tình trạng xung đột, lật đổ,
đảo chính giữa các đảng phái chính trị vì vậy tạo điều cho nền kinh tế được
phát triển bền vững.
Nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hoá công nghiệp và
hội nhập kinh tế quốc tế sâu và rộng nên chính phủ có những chính sách
12
kích thích hay " trải thảm đỏ" mở cửa đón các doanh nghiệp nước ngoài đầu
tư vào trong nước.
Với chính sách cải cách kinh tế kịp thời chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang
nền kinh tế thị trường có định hướng của Xã hội chủ nghĩa giúp nền kinh tế
phát triển bước qua sự suy thoái kinh tế.
Nhà nước có nhận định chính xác về chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc gia đó
là giảm tỷ lệ cơ cấu kinh tế nông nghiệp tăng cơ cấu kinh tế ngành công
nghiệp và dịch vụ bước đầu đã có chuyển biến tích cực và có hiệu quả giúp
cho nền kinh tế có tốc độ phát triển cao.
II.Những lợi thế so sánh của Việt Nam
Lợi thế so sánh bao gồm lợi thế so sánh tự nhiên và tự tạo. Lợi thế so sánh tự
nhiên có từ các nguồn lực sẵn có như đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lao
thú vị cũng như làm tăng thêm phần phong phú về khí hậu => đa dạng về
các loại động, thực vật.
Nằm ở vị trí tiếp giáp giữa lục địa và đại dương trên vành đai sinh khoáng
châu Á – Thái Bình Dương cùng các hoạt động mác ma ứng cho nên tài
nguyên khoáng sản của Việt Nam khá đa dạng.Đây là một trong những điều
kiện để Việt Nam có thể phát triển ngành công nghiệp khai thác khoáng sản.
Như vậy, nét khá độc đáo của vị trí địa lý nước ta là: Nằm ở nơi gặp gỡ, giao
thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, của nhiều nền văn hoá lớn trên thế giới và
các luồng di cư trong lịch sử; Ở vị trí cầu nối giữa Đông Nam Á lục địa với
Đông Nam Á hải đảo. Cũng chính vì thế, đã làm cho thiên nhiên nước ta trở
nên đa dạng và phong phú mà nhiều nơi trên thế giới không có được.
- Về văn hóa – xã hội, do ở vị trí liền kề cùng với nhiều nét tương đồng về
tự nhiên, kinh tế, văn hóa, lịch sử và mối giao lưu lâu đời với các nước trong
khu vực đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chung sống hòa bình, hợp tác
hữu nghị và cùng phát triển với các nước (nhất là các nước láng giềng). Hơn
nữa, vị trí địa lí cũng ảnh hưởng lớn đến sự hình thành cộng đồng các dân
tộc Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc và có nền văn hóa đậm đà bản sắc
dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hóa văn hóa thế giới.
- Dân số nước ta đông, trẻ, nên có nhiều người đang trong độ tuổi lao động .
Dù ở thời đại nào, nguồn nhân lực cũng luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết
định sức mạnh của một quốc gia. Bởi chúng ta biết rằng mọi của cải vật chất
đều được làm nên từ bàn tay và trí óc của con người. Việt Nam chúng ta
đang có nguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước gần 86 triệu người (Tính
đến ngày ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam: 85.789.573 người), nước
đông dân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực. Trong đó số người
trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng 67% dân số
cả nước. Cơ cấu Dân số vàng ở nước ta bắt đầu đầu xuất hiện từ năm 2010
14
và kết thúc vào năm 2040, kéo dài trong khoảng 30 năm. Rõ ràng Việt Nam
đang có thế mạnh lớn về nguồn lực lao động => lao động dồi dào, nhiệt tình,
- Hệ thống hạ tầng cơ sở phát triển: Mạng lưới giao thông ngày càng hoàn
thiện, các tuyến giao thông đường bộ được nâng cấp, xây mới, hệ thống
15
đường sắt, cầu vượt ngày càng nhiều và có chất lượng tốt. Bên cạnh đó là hệ
thống sông ngòi kênh rạch dày đặc tạo điều kiện rất tốt để phát triển kinh tế
theo đường thủy.
2.Những lợi thế so sánh tự tạo
- Nước ta có một nền chính trị ổn định vì vậy tạo điều kiện cho nền kinh tế
được phát triển bền vững. Từ năm 1990, kinh tế Việt Nam đã có bước phát
triển đáng kinh ngạc với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,5%. Ngay cả
trong cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997-1998 khiến nhiều nước
Đông Nam Á chao đảo, kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng. Năm
1999, tỷ lệ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam là 4,5%, trong khi kinh tế các
nước khác như Indonesia hay Thái Lan lâm vào khủng hoảng. Một trong
những lý do mang lại sự tăng trưởng này là việc kiên trì chính sách kinh tế
theo hướng hội nhập dần dần vào kinh tế thế giới, phù hợp với một quốc gia
có nền kinh tế còn yếu như Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam đã duy trì
chính sách kinh tế vĩ mô một cách dũng cảm từ hai chục năm qua, trong đó
có nỗ lực giảm nợ công, giảm lạm phát, đảm bảo cân đối ngân sách, kiểm
soát lượng tiền mặt lưu thông…
Sự ổn định chính trị là một trong những yếu tố không thể thiếu, góp phần
giúp Việt Nam có thể kiên trì chính sách phát triển kinh tế. Nền chính trị ổn
định tạo cho Việt Nam có được một nền hoà bình và thịnh vượng, Nếu nhìn
sang một quốc gia trong khu vực, dễ thấy rằng, trừ Singapore, thì từ năm
1990 trở lại đây, hầu hết các nước khu vực đều trải qua các cuộc đảo chính
hay khủng hoảng chính trị. Trong khi đó, nền chính trị của Việt Nam luôn
ổn định, đây là một đảm bảo cho sự gắn kết để thực hiện chính sách kinh tế
nhất quán.Mặt khác việc có một nền chính trị cũng là một điểm cộng cho
Việt Nam khi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
- Nhà nước có các chính sách hội nhập quốc tế, mở cửa đón các doanh
GDP ở các ngành Nông nghiệp,Tăng tỷ trọng GDP ở các ngành Công
nghiệp và dịch vụ, thể hiện ở bảng sau :
Năm
Tỷ trọng GDP các ngành
Nông nghiệp Công nghiệp Dich vụ
1990 38.1% 22.7% 38.6%
1995 27.2% 28.8% 44%
2000 24.5% 36.7% 38.7%
2005 20.9% 41% 38.1%
2008 20.6% 41.6% 38.7%
Bảng 1.2 : Tỷ trong GDP các ngành từ năm 1990 đến 2008
17
Năm 1990
20.60%
41.60%
38.70%
Nông nghi
ệp
Công nghi
ệ
p
Dich v
ụ
Năm 1995
20.60%
41.60%
38.70% Nông nghi
ệ
p
Công nghi