So sánh tu từ trong tục ngữ Việt và tục ngữ Anh - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM VÕ HỒNG SA

LUẬN VĂN THẠC SĨ SO SÁNH TU TỪ TRONG
TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ ANH Chuyên ngành:

Văn học Việt Nam

Mã số:
60 22 34 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
3

QUY ƢỚC VIẾT TẮT
CSSS: Cở sở so sánh

điều mình nói bằng một sự so sánh cụ thể. Thủ pháp này góp phần hữu hiệu
vào việc miêu tả, khắc họa những bài học kinh nghiệm trong TN thông qua
những mối tƣơng quan về mặt hình ảnh. Do đó, tìm hiểu so sánh tu từ (SSTT)
trong TN Việt sẽ góp phần làm rõ đặc điểm của thể loại và nâng cao chất
lƣợng giảng dạy TN Việt ở nhà trƣờng các cấp hiện nay.
Hơn nữa, trong xu thế hội nhập hiện nay, tiếng Anh đang đƣợc sử
dụng phổ biến và trở thành ngôn ngữ chính thức ở nhiều quốc gia. Ở Việt
Nam càng ngày càng có nhiều ngƣời học và sử dụng tiếng Anh. Do đó, những
hiểu biết về SSTT nói riêng và TN Anh nói chung sẽ giúp ngƣời học không

(1)
“Proverbs are jewels that on the stretched forefinger of all time sparkle forever.”
5

chỉ biết mà còn hiểu sâu sắc hơn về ngôn ngữ và nền văn hóa của đất nƣớc
này.
Cuối cùng, việc tìm hiểu sự tƣơng đồng và khác biệt giữa SSTT trong
TN Việt và TN Anh sẽ ít nhiều làm rõ tƣ duy thẩm mỹ và bản sắc văn hóa của
mỗi dân tộc. Hiểu ngƣời cũng là một cách để hiểu mình hơn. Hi vọng rằng
đây sẽ là một tài liệu hữu ích cho việc giảng dạy và học tập chuyên đề TN của
học sinh, sinh viên Việt Nam ở nhà trƣờng các cấp cũng nhƣ của sinh viên
nƣớc ngoài ở các khoa Việt Nam học.
Đó là lý do ngƣời viết chọn đề tài “SSTT trong TN Việt và TN Anh”
làm đối tƣợng nghiên cứu.
0.2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Việc nghiên cứu so sánh tu từ trong TN Việt và TN Anh đã ít nhiều
đƣợc đề cập đây đó trong các công trình nghiên cứu chung về TN.
Ở Việt Nam, nhiều chuyên luận về TN có giá trị đã ra đời dƣới góc
nhìn của các nhà nghiên cứu văn học dân gian nhƣ: TN Việt Nam của Chu
Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri [12], Tìm hiểu thi pháp TN Việt

thường là những cái trừu tượng, thuộc phạm trù tinh thần (thân phận người
con gái, quan hệ tình yêu lứa đôi,…), cái dùng để so sánh phần nhiều là
những cái cụ thể, thuộc phạm trù vật chất (hạt mưa sa, con hạc đầu đình, tấm
lụa đào, giếng giữa đàng, miếng cau khô, cây quế giữa rừng, lửa mới nhen,
trăng mới mọc, đèn mới khêu, con ong, con tằm,…) và qua cái dùng để so
sánh, cái cần so sánh được cụ thể hóa.” [14, tr.141]
7

Trong khi đó, ở TN, theo tác giả, tình hình khác hẳn. “Cái cần so sánh
lẫn cái dùng để so sánh hầu hết là cái cụ thể, tuy khác loại nhưng đều thuộc
phạm trù vật chất. Vai trò chủ yếu của vế dùng để so sánh không thiên về
hướng cụ thể hóa mà thiên về hướng khái quát hóa, “quy luật hóa” điều được
nêu lên ở vế cần so sánh.” [14, tr.142]
Tác giả còn đề cập đến cơ sở so sánh (CSSS): “chuẩn mực so sánh
trong TN cũng rất đa dạng. Bởi thế, qua TN, chúng ta có thể tìm thấy những
cách liên tưởng bất ngờ, góp phần tạo ra cho người đọc những ấn tượng thẩm
mỹ khá phong phú”; tác dụng của so sánh: “nghiêng về nhận thức, nghiêng về
lí trí”; cấu trúc của so sánh: “do sự hạn chế về độ dài của câu nên so sánh
trong TN thường là so sánh đơn, rất ít kiểu so sánh chuỗi như trong ca dao”.
[14, tr.142]
Ở công trình “Thi pháp văn học dân gian” (Nxb. GD, 2000), Lê
Trƣờng Phát cũng đề cập ngắn gọn đến phép so sánh. Về phƣơng diện cấu
trúc, tác giả cho rằng so sánh thƣờng đƣợc thể hiện bằng hai vế, vế đầu là hiện
tƣợng cần đƣợc biểu đạt một cách hình tƣợng, vế sau là hiện tƣợng dùng để so
sánh. TN rất cô đúc, ngắn gọn nên lối so sánh chuỗi rất hiếm mà thƣờng xuất
hiện lối so sánh đơn. Về từ ngữ, tác giả cho rằng giữa hai vế đƣợc nối với
nhau bằng kết từ so sánh: như, như là, như thể, bằng, hơn,…Tác dụng của so
sánh trong TN thiên về hƣớng khái quát hóa, quy luật hóa; nghiêng về lí trí,
nhận thức. [57, tr.114 – 115]
Quan niệm của ông tƣơng đối thống nhất với quan niệm của Phan Thị

(2)
“While metaphor has attracted interest and research in a number of different disciplines –
philosophy, linguistics, cognitive psychology, literary theory and criticism – with an extraordinary
amount of papers and books on the subject, simile is much less investigated.” “Simile is a figure of
speech used in general language as well as specialized language, in everyday conversation as well
as literary, journalistic and promotional texts. Research on simile is carried out within rhetoric
(e.g. Mortara Garavelli 2002, 251 – 252), literary studies (e.g. Wellek & Warren 1973, 186 – 211),
linguistics and psycholinguistics (Ortony 1993; Miller 1993, Bredin 1998), often discussing simile
along with metaphor.”

9

nhƣ triết học, ngôn ngữ học, tâm lí học, lí thuyết và phê bình văn học,…với
vô số các bài báo và sách nghiên cứu thì SSTT ít đƣợc quan tâm hơn, chỉ
đƣợc đề cập lƣớt qua khi nhân tiện (simply mentioned in passing) trong các
công trình chung về tu từ học (nhƣ Mortara Garavelli, 2002, tr.251 – 252),
nghiên cứu văn học (Wellek & Warren, Theory of literature, Penguin, 2
nd

edition, 1973, tr. 186 – 211), ngôn ngữ học và ngôn ngữ tâm lý (Andrew
Ortony, Miller, George A., Images and models, Similes and metaphors,
Cambridge University Press, 2
nd
edition, 1993; Hugh Bredin, Comparisons
and similes, Queen’s University, Northen Ireland, United Kingdom, 1998)
[103].
Còn SSTT trong TN Anh chỉ đƣợc các nhà nghiên cứu liệt kê rải rác
trong các công trình về văn bản học chứ chƣa thấy tài liệu nào chuyên viết về
vấn đề này.
Intensifying similes in English của Svartengren T. Hilding [108] là

chung và TN nói riêng, “Intensifying similes in English” chỉ dừng lại ở việc
liệt kê ra những SSTT trong TN mà chƣa có sự miêu tả cụ thể về đặc điểm,
bản chất của chúng.

(3)
“The aim of this work is not only to collect these similes, but to try to find out the
human interests behind them, the experiences and the circumstances of life and the outlook upon
life that have helped to create them.”
11

Trong bài báo “Comparisions and similes” của Bredin, Hugh
(Queen’s University, 1998), ở phƣơng diện ngôn ngữ, ông đề cập đến 2 vấn
đề: so sánh và SSTT. Ông cho rằng sự khác biệt giữa so sánh thông thƣờng và
SSTT nằm ở chỗ SSTT là so sánh vị ngữ, nhằm miêu tả về chủ ngữ. Còn so
sánh thông thƣờng là một so sánh đối xứng, trong đó chủ ngữ và vị ngữ hoàn
toàn độc lập. Trong các so sánh thông thƣờng, chủ ngữ và vị ngữ có thể thay
thế cho nhau mà nghĩa của câu không thay đổi.
(4)

Ở phần cuối của bài viết, ông cũng chỉ ra SSTT hoàn toàn khác biệt,
độc lập với ẩn dụ
(5)
. Cả so sánh và ẩn dụ đều đƣợc thiết lập dựa trên mối quan
hệ giữa hai thực thể nhất định, nhƣng hai biện pháp tu từ này khác nhau ở 3
phƣơng diện sau: SSTT đối chiếu các thực thể đƣợc đề cập văn bản với nhau,
trong khi ẩn dụ so sánh thực thể này với một khái niệm hoàn toàn khác; SSTT
có thể có nghĩa đen hoặc nghĩa bóng, ẩn dụ thì chỉ đƣợc hiểu theo nghĩa bóng;
SSTT đƣợc đánh dấu bằng nhiều phƣơng tiện thể hiện quan hệ so sánh khác
nhau, ẩn dụ thì không có dấu hiệu nào trên bề mặt. Có lẽ còn có một sự khác
biệt nữa giữa hai biện pháp tu từ này, xét về mặt ảnh hƣởng, tác động, SSTT

(7)
. Các quyển từ điển này liệt kê SSTT theo thứ tự A – B – C,
cũng lấy từ nhiều nguồn khác nhau nhƣ văn học dân gian, sách vở, kinh thánh,
các tác phẩm văn học viết,…
Trong các giáo trình về văn học Anh nhƣ Introduction to English
folklore [80]; English literature [87]; A course in British literature [98]; Lịch
sử văn học Anh quốc [40] …; ngƣời viết cũng không thấy các nhà nghiên cứu
đề cập đến vấn đề SSTT trong TN.
Tóm lại, theo tài liệu chúng tôi tìm đƣợc, các nhà nghiên cứu văn
học, ngôn ngữ ở Anh chƣa xem SSTT trong TN của nƣớc họ là một đối tƣợng
nghiên cứu riêng biệt.
Về việc nghiên cứu đối chiếu giữa TN Việt và TN Anh, hiện nay
công việc này chủ yếu vẫn dừng lại ở việc so sánh TN về phƣơng diện văn
hóa nhƣ: “Khảo luận về TN người Việt [47] của Triều Nguyên, “Dấu ấn văn
hóa qua TN” [10] của Nguyễn Đức Dân, “So sánh TN Anh – Việt trong quá
trình hình thành và phát triển” [25] của Nguyễn Thƣợng Hùng, “Một số biểu

(6)
London, G.G. Harrap & Company, 1917.
(7)
Illustrated by David Austin, Publishing: Routledge & Kegan Paul, London, 1982.
13

hiện của văn hóa qua các thành ngữ, TN có từ chỉ bộ phận cơ thể người trong
tiếng Anh và tiếng Việt” [17] của Nguyễn Thị Vân Đông, “Ngôn ngữ với việc
phản ánh các yếu tố văn hóa và nhân sinh quan – thông qua TN Việt, Anh”
[41] của Nguyễn Văn Mƣời, … Một số kết quả nghiên cứu của các công trình
trên là định hƣớng quý báu cho ngƣời viết khi đi vào lí giải dấu ấn văn hóa
qua SSTT trong TN ở chƣơng III của luận văn.
Về nghiên cứu đối chiếu SSTT trong TN Việt và Anh, ngƣời viết tìm

-To swim like a duck. (Bơi nhƣ vịt.)
-As snug as a bug in a rug. (Thoải mái và ấm áp nhƣ rệp
trong chăn.)
-To fit like a glove. (Vừa vặn nhƣ chiếc găng tay.)
-To stick to somebody like a leech. (Dính ai nhƣ đỉa.)
-To eat like a pig. (Ăn nhƣ heo/lợn.)
Còn trong phần đặc điểm về ngôn ngữ trong tỉ dụ Anh, Việt, các tác
giả đƣa ra ba luận điểm: tính âm thanh của lời nói (lặp vần, lặp âm đầu), tính
đa thành tố (hai vế, ba vế so sánh), tính tiềm ẩn của liên từ so sánh. Trong
phần đặc điểm về văn hóa của tỉ dụ trong TN Việt Anh, họ đƣa ra ba luận
điểm: tính dân tộc, tính hài hƣớc châm biếm, tính sáo ngữ. Các luận điểm
thƣờng ngắn, không có sự lí giải và chỉ đƣợc chứng minh bằng vài câu TN (có
lẫn cả thành ngữ).
Nhìn chung, trong giới hạn của một bài viết ngắn đăng trên tạp chí, hai
tác giả không thể đào sâu để nói cho đủ, nói cho hết về vấn đề này. Phƣơng
pháp nghiên cứu còn chƣa hợp lí, tài liệu khảo sát chƣa xác đáng, dẫn đến kết
quả chỉ mới dừng lại ở mức định hƣớng, gợi ý sơ lƣợc cho những công trình
sau.
Tóm lại, trong phạm vi tài liệu mà ngƣời viết tìm hiểu đƣợc, chƣa có
công trình nào xem SSTT trong TN của ngƣời Việt và ngƣời Anh là đối tƣợng
nghiên cứu riêng biệt, chƣa có khảo sát nào thật sâu để làm nổi bật giá trị của
chúng. Trên tinh thần kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi
trƣớc, ngƣời viết hi vọng rằng có thể làm sáng tỏ phần nào sự tƣơng đồng và
15

dị biệt qua SSTT trong TN Việt và TN Anh dƣới góc độ ngôn ngữ học và văn
hóa học.
0.3. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
So sánh bao gồm so sánh logic và SSTT. Trong luận văn này, ngƣời
viết chỉ khảo sát thủ pháp so sánh với tƣ cách là phƣơng thức diễn đạt tu từ

xếp theo từng nhóm thể hiện các khía cạnh khác nhau của đề tài. Đây là tài
liệu tham khảo vô cùng cần thiết cho những công trình nghiên cứu chuyên sâu
về TN Anh. Sách do nhà xuất bản rất uy tín ở Anh là Penguin ấn hành. Phần
chuyển ngữ các câu TN đƣợc in trong sách từ tiếng Anh sang tiếng Việt là do
ngƣời viết thực hiện.
Nhìn chung, mức độ bao quát và tần số xuất hiện của các hình ảnh
so sánh có thể sẽ dao động khi đối chiếu kết quả thống kê giữa công trình này
và công trình khác nhƣng chắc chắn rằng, những hình ảnh quen thuộc có ảnh
hƣởng đến đời sống vật chất và tinh thần của mỗi dân tộc sẽ có tần số xuất
hiện cao trong tất cả các công trình.
Sở dĩ ngƣời viết chọn khảo sát hai công trình văn bản học này vì
chúng đã tạo đƣợc tiếng vang rất lớn trong giới nghiên cứu, trong đó TN đƣợc
khảo sát với tƣ cách là một thể loại riêng biệt, không có sự nhập nhằng với
thành ngữ, và chúng đều đƣợc phân loại theo đề tài. Điều đó sẽ giúp chúng ta
có thể theo dõi đƣợc vốn TN phong phú, đa dạng của ngƣời xƣa “không phải
là trong trạng thái rời rạc, mà là trong một hệ thống nội dung liên tục, qua đó
hình dung được một cách tổng quát về xã hội và con người thời xưa từ các
17

lĩnh vực đời sống lao động, đời sống vật chất, đời sống xã hội, đến lĩnh vực
đời sống tinh thần.”

[12, tr. 191]
0.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Những phƣơng pháp chủ yếu mà ngƣời viết sử dụng trong quá trình
thực hiện luận văn gồm:
- Phƣơng pháp thống kê – phân loại: Đây là phƣơng pháp đƣợc tiến
hành đầu tiên nhằm cung cấp những dữ kiện, số liệu chính xác, tạo
cơ sở thực tế tin cậy cho các kết luận khoa học. Sử dụng phƣơng
pháp thống kê, ngƣời viết tiến hành phân loại các vấn đề theo nội

nhân sinh quan của ngƣời Việt và ngƣời Anh trong luận văn.
0.5. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Về phương diện khoa học:
+ Luận văn góp phần làm rõ ba
̉
n chất c ủa thê
̉
loa
̣
i TN nói chung và
SSTT trong TN của hai dân tộc nói riêng. Đây là một công trình nghiên cứu
chuyên ngành hẹp, đi sâu tìm hiểu giá trị của phép SSTT trong TN Việt và
Anh thông qua tầm nhìn liên ngành.
+ SSTT trong TN thể hiện những tƣơng đồng và dị biệt trong cách tƣ
duy, tri nhận về sự vật của ngƣời bản ngữ. Nó đƣợc coi là phƣơng tiện để
khám phá ra những bí mật của quá trình tƣ duy cũng nhƣ những kinh nghiệm
đƣợc hình thành trong quá trình con ngƣời và giới tự nhiên tƣơng tác với nhau.
Qua SSTT trong TN của ngƣời Việt và ngƣời Anh, chúng ta có thể thấy đƣợc
văn hóa Việt, tinh thần Việt cũng nhƣ văn hóa Anh, tinh thần Anh. Đồng thời
cũng hiểu thêm phần nào cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ của hai dân tộc; về
lối cảm, lối nghĩ, lối diễn đạt riêng của mỗi nƣớc.
19

- Về phương diện thực tiễn:
+ Khi đi vào hƣớng nghiên cứu đối chiếu này, chúng ta có điều kiện
làm sáng tỏ thêm vấn đề đặc trƣng tâm lí cộng đồng trong chiều sâu ngôn ngữ,
văn hóa. Đây là cơ sở giúp ta mở rộng hiểu biết, tạo tiền đề cho quá trình hội
nhập.
+ Luận văn góp phần vào quá trình trang bị những tiền đề tâm lí – văn
hóa – xã hội, làm cơ sở cho việc hiểu sâu ngôn ngữ, trực tiếp góp phần nâng

sắc văn hoá và trình độ nhận thức của mỗi dân tộc qua quá trình phân tích các
câu TN có chứa SSTT. Đó không chỉ là ngôn ngữ mà còn là dấu tích của các
nền văn hoá.
Ngoài ra luận văn còn có phần Phụ lục với 135 câu TN Việt có SSTT
và 178 câu TN Anh có SSTT. Các SSTT này đƣợc thống kê theo yêu cầu của
chính văn, chia thành 12 bảng. Trong đó, SSTT trong TN Việt và Anh đƣợc
phân loại theo yếu tố A, B về phƣơng diện đề tài và phƣơng diện từ vựng – cú
pháp. CSSS trong TN Việt và Anh đƣợc phân loại theo cấu tạo của chúng.
Ngoài ra còn có phụ lục về các hình ảnh lặp đi lặp lại ở yếu tố B trong SSTT
của TN Việt và Anh và bảng kê các số liệu đã đƣợc sử dụng trong luận văn.
Phần chuyển ngữ từ Anh sang Việt là do ngƣời viết thực hiện.

21

Phần thứ hai: NỘI DUNG
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SSTT TRONG TN VIỆT
VÀ TN ANH
1.1. KHÁI NIỆM TỤC NGỮ
1.1.1. Khái niệm TN ở Việt Nam
1.1.1.1. Khái niệm TN dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu văn học
Ở Việt Nam, khi tìm hiểu về TN các nhà nghiên cứu văn học thƣờng
nêu ra một số đặc trƣng sau đây:
+ Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao Việt Nam [56, tr. 39]:
“TN là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh
nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán.”
+ Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Văn học dân gian Việt Nam,
[26, tr.244]
“Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân
lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỉ.”

ngữ học:
Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học cho ta góc nhìn khác về TN.
23

Cù Đình Tú trong “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ” [74,
tr. 39 – 49] dựa vào tiêu chí chức năng cho rằng: “TN cũng như các sáng tạo
khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo. Nó thông
báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới
khách quan. Do vậy mỗi TN đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn
một ý tưởng. Đó cũng là lí do giải thích TN có cấu tạo là các kết cấu hai
trung tâm”.
Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” [6, tr.72], dựa
vào tiêu chí cấu tạo và ngữ nghĩa, cho rằng TN và thành ngữ đƣợc phân biệt
trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tƣ duy. Theo ông, thành ngữ biểu thị
khái niệm, TN biểu thị phán đoán. “Nghĩa của thành ngữ tương đương với
nghĩa của cụm từ…Nghĩa của TN là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự
khẳng định về một chân lí nào đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh”
Hoàng Văn Hành trong “Tục ngữ theo cách nhìn của ngữ nghĩa học”
[22, tr. 59- 63] dựa vào tiêu chí cấu tạo và ngữ nghĩa, ông đã xem xét TN nhƣ
một phức thể đa diện và quan niệm TN là câu thông điệp nghệ thuật: “Khi nói
TN là những câu – thông điệp nghệ thuật là cùng một lúc chúng ta nhấn mạnh
hai đặc trưng bản chất, không tách rời nhau của nó: Một là, TN là câu,
nhưng là câu đặc biệt khác với mọi câu nói thông thường ở tư cách là làm
thông điệp nghệ thuật”.
Trong một hƣớng tiếp cận khác, Nguyễn Thái Hòa (Tục ngữ Việt Nam
– cấu trúc và thi pháp) khẳng định TN là loại “phát ngôn đặc biệt” [24, tr. 47
– 48]. Trong công trình của mình, tác giả đã xem xét TN trên các bình diện
thể chất, cấu trúc và chức năng. Ông kết luận:
24


rãi của dân gian thể hiện sự thông thái, chân lí, đạo đức và những quan niệm
truyền thống dưới hình thức ẩn dụ, cố định và dễ nhớ, nó được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác”.
(10)
[97]
Từ điển tục ngữ Oxford (The Oxford dictionary of proverbs, 2007) bổ
sung thêm: TN là những câu nói phổ biến và cổ xưa được lặp đi lặp lại, đặc
biệt chúng thường ngắn và diễn tả một cách sinh động thực tiễn, hoặc những
kinh nghiệm, quan sát.
(11)
[100]
Nhà nghiên cứu Richard L. Berry thì quan niệm: TN là những câu nói
ngắn gọn chứa đựng sự thông thái hoặc diễn đạt những kinh nghiệm cụ thể,
rõ ràng. Chúng chứa đựng rất nhiều giá trị văn hóa của con người. TN Anh
được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm văn học viết, văn học
dân gian, kinh thánh, lịch sử và kinh nghiệm thông thuờng. Chúng rất có giá
trị và là chìa khóa để hiểu người Anh.
(12)

Theo từ điển bách khoa toàn thƣ trên mạng, trang tiếng Anh
(), khái niệm “TN” (proverb) có nguồn gốc từ tiếng (10)
A proverb is a short, generally known sentence of the folk which contains wisdom, truth, morals,
and traditional views in a metaphorical, fixed and memorizable form and which is handed down
from generation to generation.
(11)
“An old and common saying which is often repeated; especially, a sentence which briefly and forcibly
expresses some practical truth, or the result of experience and observation.”

gian về thiên nhiên, lao động sản xuất, về các mối quan hệ trong gia đình và
ngoài xã hội, các quan niệm về nhân sinh, tôn giáo, tín ngƣỡng,…Nhìn chung,
đề tài của TN Việt và TN vô cùng rộng lớn, bất cứ lĩnh vực nào dân gian khi
có kinh nghiệm đều có thể đúc kết thành TN.

(13)
A proverb, (from the Latin proverbium), is a simple and concrete saying popularly known and repeated,
which expresses a truth, based on common sense or the practical experience of humanity.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status