ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRỊNH THU HƯƠNG GIỚI TỪ TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG ANH
(CÓ SO SÁNH VỚI THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành Phố Hồ Chí Minh - Năm 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Các tài liệu sử dụng trong luận án là trung thực. Các trích
dẫn trong luận án đều có chú thích rõ ràng. Các kết quả phân tích và
kết luận nêu trong luận án là hoàn toàn mới.
TP.HCM ngày 10 tháng 04 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trịnh Thu Hương MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH SÁCH BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
6. Bố cục của luận án 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
1.1 Giới từ trong tiếng Anh 13
1.1.1 Định nghĩa giới từ 13
1.1.2. Vai trò và vị trí của giới từ trong câu 13
2.1.3.1. Về ngữ nghĩa 58
2.1.3.2. Về ngữ pháp 59
2.2 Ngữ nghĩa và ngữ pháp của các giới từ IN, ON, AT, OUT
trong thành ngữ 60
2.2.1 Ngữ nghĩa và ngữ pháp của IN 62
2.2.1.1 Ngữ nghĩa của IN 62
2.2.1.2. Ngữ pháp của IN 64
2.2.2 Ngữ nghĩa và ngữ pháp của ON 65
2.2.2.1. Ngữ nghĩa của ON 65
2.2.2.2 Ngữ pháp của ON 67
2.2.3 Ngữ nghĩa và ngữ pháp của At 67
2.2.3.1. Ngữ nghĩa của AT 67
2.2.3.2. Ngữ pháp của AT 68 2.2.4 Ngữ nghĩa và ngữ pháp của OUT 69
2.2.4.1. Ngữ nghĩa của OUT 69
2.2.4.2. Ngữ pháp của OUT 71
2.2.5. Một số nhận xét về giới từ OF 72
2.3. Hiện tượng chuyển đổi từ loại của IN, ON, AT, OUT: 73
2.4 Phân biệt cách dùng IN, ON, AT 74
2. 5. Ngữ nghĩa thành ngữ thường dùng với giới từ IN, ON, AT, OUT, OF 79
2.5.1. Thành ngữ tiếng Anh với giới từ IN 79
2.5.2. Thành ngữ với giới từ ON 80
2.5.3. Thành ngữ với giới từ AT 81
2.5.4. Thành ngữ tiếng Anh với giới từ OUT 82
2.5.5. Bàn thêm về thành ngữ tiếng Anh với giới từ OF 83
2.6. Tiểu kết 83
CHƯƠNG 3: GIỚI TỪ IN, ON, AT, OUT TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ
NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 85
4.1.3.1. IN, ON, AT so sánh với VÀO 136
4.1.3.2. IN, OUT so sánh với VÀO, RA 137
4.1.3.3. IN, ON so sánh với TRÊN, TRONG 140
4.1.3.4 AT so sánh với Ở/TẠI 148
4.1.3.5. So sánh giới từ IN, ON, AT, OUT trong thành ngữ tiếng Anh với VÀO,
RA, TRONG, TRÊN, Ở, TẠI trong thành ngữ tiếng Việt 150
4.2.Ứng dụng trong việc giảng dạy ngoại ngữ 154
4.3. Ứng dụng trong việc dạy và học môn dịch (translation) 156
4.4. Tiểu kết 162
KẾT LUẬN 164
NGUỒN XUẤT XỨ TƯ LIỆU 170
NHỮNG CÔNG BỐ KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI
DUNG LUẬN ÁN 172
TÀI LIỆU THAM KHẢO 173
PHỤ LỤC 186
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Adj : tính từ
Adv : trạng từ
LM : mốc định vị
N : danh từ
ODE : Oxford Dictionary of English
Prep : giới từ
S : chủ từ
TR : vật được định vị
V : động từ DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Giới từ trong 3000 thành ngữ 55
Hình 2.2: Giới từ trong 10000 thành ngữ 56
Hình 2.3: Giới từ trong 10000 thành ngữ 57
Hình 3.1: Từ MOTHER của Lakoff theo dạng phạm trù tâm lan tỏa 95
Hình 3.2: Từ XE trong tiếng Việt theo dạng phạm trù tâm lan tỏa. 97
Hình 3.3: Sơ đồ về phạm trù tâm lan tỏa của giới từ IN 98
Hình 3.4: Sơ đồ về phạm trù tâm lan tỏa của giới từ ON 99
Hình 3.5: Sơ đồ về phạm trù tâm lan tỏa của giới từ AT 100
Hình 3.6: Sơ đồ về phạm trù tâm lan tỏa của giới từ OUT 101
Hình 4.1: Bản đồ ngành dịch của HOME 157
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiếng Anh là một ngôn ngữ có nhiều giới từ hơn những ngôn ngữ khác.
Howard Sargeant đã viết: “Chúng ta đã biết rằng tiếng Anh là một ngôn ngữ mà các
từ không thay đổi hình thái hay hình thức nhiều lắm. Chính vì thế giới từ được dùng
tiếp hàng. Điều này được chứng minh qua nhiều nghiên cứu của các nhà Anh ngữ
học. Chẳng hạn, Pollio và các đồng nghiệp đã đếm các dạng thức tu từ mới cũng
như các dạng thức tu từ khô cứng (được coi là thành ngữ) được dùng và phát hiện ra
là người nói và người viết dùng 1,8 dạng thức tu từ mới và 4,08 thành ngữ trong
một phút. Lazar, Warr-Leeper, Nicholson, & Johnson (1989) phát hiện ra rằng 36%
của tất cả các phát ngôn đều có chứa ít nhất một thành ngữ đa nghĩa (multiple
meaning expression); ít nhất là một thành ngữ xuất hiện trong 11,5% của tất cả các
phát ngôn, và thành ngữ được dùng với tần suất ngày càng tăng ở các cấp học lớn
hơn. Makkai, Boatner, & Gate (1996) đã trình bày hơn 4000 thành ngữ tiếng Anh
trong cuốn “Từ điển thành ngữ tiếng Anh-Mỹ” của họ (Dictionary of American
idioms) và lần xuất bản gần đây số lượng thành ngữ trong cuốn từ điển này đã lên
đến hơn 8000. Cuốn “Từ điển thành ngữ tiếng Anh Mỹ” của tác giả Richard A.
Spear do nhà xuất bản McGraw Hill xuất bản lần đầu tiên vào năm 1987 chỉ có
8000 thành ngữ. Nhưng gần đây, trong lần xuất bản lần thứ tư vào năm 2007 thì đã
có hơn 14000 thành ngữ [148, 3-4].
Tóm lại sử dụng giới từ và thành ngữ là hai đặc điểm nổi bật trong tiếng Anh
và gây khó khăn cho người học tiếng Anh như một ngoại ngữ. Chính vì vậy, luận án
này nghiên cứu giới từ trong thành ngữ. Sau hơn mười năm giảng dạy tiếng Anh và
nhiều năm lao động để biên soạn từ điển thành ngữ Anh Việt, chúng tôi đã tập hợp
tài liệu, xác định khung lí thuyết và tận dụng những kinh nghiệm của mình trong
quá trình giảng dạy để thực hiện luận án “Giới từ trong thành ngữ tiếng Anh (có so
sánh với thành ngữ tiếng Việt)”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về giới từ và thành ngữ. Sớm nhất thì phải kể
đến Aristotle, nhà triết học Hy Lạp 384-322 trước Công nguyên. Dựa trên các cơ sở
ngữ pháp học và logic học, Aristotle phân chia từ thành từ nối, danh từ, động 3
từ…Trong đó, từ nối mà ông đề cập gồm có liên từ và giới từ. Các học giả thuộc
4
dùng để liên kết, sẽ gồm hai loại nhỏ là "liên từ" (liên kết quan hệ đẳng lập) và
"giới từ" (liên kết quan hệ chính phụ).
Hiện nay, nghiên cứu giới từ đã có định hướng mới, theo ngôn ngữ học tri
nhận, nhờ vào những nghiên cứu tiên phong của Ray Jackendoff, George P. Lakoff,
Ronald Wayne Langacker, Evans, Vyvyan & Melanie Green… Langacker đã nêu
cặp khái niệm nổi tiếng, đó là Trajector/Landmark (Vật được định vị/Mốc định vị)
và FIGURE/GROUND (Hình/Nền) để làm cơ sở cho những lược đồ ý tượng (Image
Schema) dùng để nghiên cứu giới từ. Vận dụng các khái niệm này thì nổi tiếng nhất
có lẽ là nghiên cứu trường hợp (case study) của Lakoff (1990) về sự chuyển nghĩa
của từ OVER theo kiểu tâm lan tỏa (radiality), được in dưới dạng phụ lục của cuốn
“Fire, Woman and Dangerous things” (The University of Chicago Press). Nghiên
cứu của Lakoff được xem là một nghiên cứu kinh điển của ngữ pháp kết cấu
(construction grammar), một nhánh của ngữ pháp tri nhận.
Về thành ngữ tiếng Anh thì cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu và nhiều
chuyên khảo về thành ngữ, nhiều cuốn từ điển thành ngữ đã được biên soạn để giúp
người học học tập và tra cứu dễ dàng hơn. Theo Cowie (1998) thì giới nghiên cứu
Liên Xô và Đông Âu đã nghiên cứu thành ngữ từ thập niên 50. Trong ba mươi năm
qua, thành ngữ cũng bắt đầu trở thành một đề tài được nhiều học giả Tây Âu và Hoa
Kỳ quan tâm nghiên cứu. Ngoài ra cũng đã có nhiều dự án nghiên cứu thành ngữ
trên quy mô lớn và đã có rất nhiều hội thảo quốc tế về thành ngữ. Đã có rất nhiều từ
điển chuyên về thành ngữ của những nhà xuất bản tên tuổi như Longman, Oxford,
Cambridge… Số lượng công trình nghiên cứu về thành ngữ trong thời gian gần đây
là rất nhiều và đa số khảo sát thành ngữ dưới góc độ cấu trúc ngữ nghĩa. Tuy nhiên,
sự xuất hiện của ngôn ngữ học tri nhận vào đầu những thập niên 1970 đã mang lại
nhiều thay đổi về cách nhìn nhận và cách tiếp cận thành ngữ. Có những công trình
nghiên cứu về thành ngữ chứa yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người như của Ning Yu
(2007), Armina Janyan và Elena Andonova (2000) … các sách chuyên khảo về
thành ngữ của Chitra Fernando (1997), Andreas Langlotz (2006), Sam Glucksberg (2001)…
Hiện nay, ngôn ngữ học tri nhận được coi là một hệ thống lý thuyết, cách tiếp 6
cận có cơ chế rất linh hoạt chứ không phải đơn thuần là một lý thuyết ngôn ngữ đơn
lẻ. Quá trình tri nhận của con người xứng đáng là một diễn đàn dành cho những
nghiên cứu liên ngành, theo đó có một loạt vấn đề cần nghiên cứu như: bản chất và
sự sắp xếp hay tổ chức của hệ thống ý niệm, bản chất của quá trình tri nhận tham
gia vào việc nói và hiểu ngôn ngữ tự nhiên (gồm cả ngôn ngữ dấu hiệu, cử chỉ -sign
language), mối quan hệ của chúng với các miền khác của sự tri nhận của con người,
bao gồm hệ thống kiến thức và khái niệm chung và các quá trình (vấn đề ngôn ngữ
và tư duy) và các hệ thống cảm giác và hành vi ứng xử khác như là tầm nhìn và
hành vi ứng xử phi lời (ví dụ như: điệu bộ, cử chỉ) [135].
Đặc biệt, liên quan đến các giới từ, các nhà ngôn ngữ học tri nhận đã tiếp tục
các truyền thống của tâm lý học và triết học, lưu ý đến tầm quan trọng của không
gian và các trải nghiệm không gian được thể hiện trong ngôn ngữ và tư duy [172, ix].
Vai trò của không gian và các trải nghiệm không gian trong ngôn ngữ và tư
duy được ngôn ngữ học tri nhận nhấn mạnh như là quá trình nghiệm thân
(embodiment), quá trình được coi là nền tảng của sự phát triển ngữ nghĩa trong
ngôn ngữ. Theo các nhà tri nhận luận, sự thể hiện của ngữ nghĩa trong ngôn ngữ là
dựa trên các khái niệm nền tảng trong tự nhiên. Ngôn ngữ không nhìn nhận một
cách trực tiếp về “thế giới thật”. Đúng hơn là ngôn ngữ nhìn nhận/nói về cái đại
diện trong hệ thống khái niệm của con người. Hệ thống khái niệm bao gồm hệ cấu
trúc khái niệm (nghĩa là các khái niệm cơ sở, các lược đồ hình ảnh v.v), phản ánh và
giải thích thế giới với tư cách là một trung gian phản ánh thông qua sự nhận thức và
trải nghiệm của con người. Cấu trúc khái niệm là một kết quả cho thấy con người
chúng ta trải nghiệm và tương tác với thế giới vật chất không gian (spatio-physical
world) mà chúng ta đang sống như thế nào. Thế giới bên “ngoài kia” cung cấp cho
chúng ta một cơ tầng tri giác mộc mạc (raw sense-perceptual substrate), làm nền
cho hệ thống ý niệm (conceptual system). Tuy nhiên, chúng ta trải nghiệm cái gì và
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là giới từ trong thành ngữ tiếng Anh
có so sánh với tiếng Việt. Đối tượng nghiên cứu là giới từ, còn thành ngữ là môi
trường để các giới từ hành chức và cũng làm vai trò hạn định phạm vi thu thập tư
liệu và khảo sát về giới từ. Việc xét giới từ trong thành ngữ giúp nhấn mạnh vào 8
nghĩa không gian và phi không gian của giới từ cũng như là nhân tố tạo nên tính
bóng bảy, súc tích của thành ngữ. Bức tranh về giới từ trong thành ngữ chắc chắn là
một bức tranh nhiều màu sắc, thú vị.
3.2. Mục đích nghiên cứu:
- Xác lập khung lí thuyết cần thiết để nghiên cứu giới từ trong thành ngữ
tiếng Anh, so sánh với tiếng Việt, xoay quanh những khái niệm quan trọng như giới
từ, giới ngữ, động từ phức đoạn, thành ngữ, ẩn dụ và nghiệm thân, quan hệ giữa
ngôn ngữ-văn hoá-tư duy.
-Nghiên cứu ngữ nghĩa và ứng xử ngữ pháp (grammatical behaviours) của 4
giới từ có tần số xuất hiện cao nhất trong tiếng Anh nói chung và thành ngữ tiếng
Anh nói riêng là IN, ON, AT, OUT.
- Nghiên cứu quá trình phát triển ngữ nghĩa của các giới từ IN, ON, AT,
OUT đi từ nghĩa không gian đến nghĩa phi không gian và những biến đổi từ loại
(parts of speech, hay word classes) kèm theo quá trình phát triển ngữ nghĩa này.
- So sánh quá trình phát triển ngữ nghĩa và biến đổi từ loại của IN, ON, AT,
OUT của tiếng Anh với các từ tương đương trong tiếng Việt nhằm áp dụng kết quả
nghiên cứu vào việc chữa lỗi có liên quan đến giới từ trong thành ngữ cho người
Anh học tiếng Việt và ngược lại.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1. Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, thủ pháp ngôn ngữ học.
Trước hết, phương pháp miêu tả được dùng để miêu tả cấu trúc của thành
4.2. Nguồn tư liệu:
Nguồn tư liệu chính của luận án là các giới từ trong thành ngữ tiếng Anh
được lấy từ Từ điển thành ngữ tiếng Anh của nhà xuất bản Longman và Oxford, từ
điển thành ngữ Anh Việt của Lã Thành – Trịnh Thu Hương- Trung Dũng.
Các tư liệu về ngữ nghĩa từ vựng của từ trong tiếng Việt được lấy từ Từ điển
tiếng Việt của Hoàng Phê và Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý. Nguồn ngữ
liệu về thành ngữ tiếng Việt lấy từ cuốn Từ điển Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
của Nguyễn Lân. 10
Ngoài ra, luận án còn sử dụng tư liệu lấy từ các ấn phẩm tiếng Anh và tiếng
Việt đã được xuất bản. Riêng về tư liệu khảo sát các lỗi do giao thoa (chuyển di)
tiêu cực, chúng tôi lấy tư liệu là các bài tập, bài dịch của sinh viên và các cộng tác
viên người bản ngữ nói tiếng Anh.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về lí luận, luận án góp phần vào việc làm phong phú hơn lí thuyết ngôn ngữ
học tri nhận thông qua ngữ liệu và nghiên cứu đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt,
liên quan đến những giới từ không gian thường gặp nhất, đồng thời góp phần làm rõ
hơn mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hoá, chỉ ra những quá trình ý niệm
hoá mang tính phổ quát và những quá trình ý niệm hoá mang tính đặc thù.
Việc nghiên cứu về giới từ và giới từ trong thành ngữ theo hướng tri nhận sẽ
giúp giải thích thấu đáo và triệt để sự lan tỏa nghĩa (radiality) của giới từ, từ những
nghĩa không gian lan tỏa sang những nghĩa phi không gian, tạo thành những phạm
trù mà ngôn ngữ học tri nhận gọi là các phạm trù tâm lan tỏa (radial categories). Lý
thuyết ẩn dụ ý niệm và khái niệm nghiệm thân, tính lan tỏa… được trình bày trong
luận án không chỉ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu giới từ và thành ngữ mà còn có
tiềm năng to lớn trong việc nghiên cứu ngôn ngữ, tâm lý, dịch thuật và giảng dạy
văn hóa học.
Về thực tiễn, các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp người Việt học tiếng
(IN, ON, AT, OUT).
Trong chương này chúng tôi tiến hành khảo sát các giới từ tiếng Anh có tần
số xuất hiện cao trong từ điển của Longman và Oxford ở hai phương diện ngữ nghĩa
và ngữ pháp, đó là bốn giới từ đơn IN, ON, AT và OUT. Chúng tôi miêu tả và phân
tích ngữ nghĩa của từng giới từ và sự chuyển đổi từ loại của bốn giới từ đơn này.
Sau cùng chúng tôi cố gắng phân biệt cách dùng của IN, ON, AT, OUT thông qua
nhiều ví dụ cụ thể để giúp người học có thể học và sử dụng những giới từ này dễ
dàng và hiệu quả.
Chương ba: Giới từ IN, ON, AT, OUT tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận.
Ở chương này chúng tôi giới thiệu chi tiết về một số khái niệm căn bản của
ngôn ngữ học tri nhận như khái niệm nghiệm thân, tâm lan tỏa, lý thuyết ẩn dụ ý
niệm của Lakoff và Johnson và sự đa nghĩa của từ. Thông qua các lý thuyết và khái
niệm này của ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi lý giải sự phát triển về ngữ nghĩa của 12
các giới từ không gian IN, ON, AT, OUT trong tiếng Anh, đó là quá trình lan tỏa từ
các nghĩa không gian sang các nghĩa phi không gian.
Chương bốn: So sánh giới từ IN, ON, AT, OUT với đơn vị tương đương
trong thành ngữ tiếng Việt.
Trong chương này chúng tôi điểm lại, phân tích và tổng kết quan điểm của
các nhà nghiên cứu nhằm nêu bật mối quan hệ và tác động, lẫn nhau giữa ngôn ngữ,
tri nhận và văn hóa. Sau đó chúng tôi so sánh và phân tích chi tiết về ngữ nghĩa của
từng giới từ trong thành ngữ tiếng Anh so sánh với thành ngữ tiếng Việt, thông qua
đó nêu ra sự tương đồng cũng như sự khác biệt về cách tư duy, về tri nhận không
gian giữa người Anh và người Việt. Cuối chương chúng tôi đề xuất một số cách dạy
và học nhằm giúp học viên người Việt học tiếng Anh và học viên người nói tiếng
Anh học tiếng Việt tốt nhất và hiệu quả nhất. Và từ đó chúng tôi cũng đưa ra những
giải pháp giúp cho việc dịch thuật giới từ trong thành ngữ từ tiếng Anh sang tiếng
Việt cũng như từ tiếng Việt sang tiếng Anh được hay hơn, dễ dàng và hợp lí hơn.
ngữ pháp cũng như trong việc tạo nên nghĩa của câu. Các tác giả Anh ngữ có nhiều
định nghĩa về giới từ, chúng tôi xin nêu ra một số định nghĩa. Theo Michael Swan
thì “giới từ là những từ như on, off, of, into, và thường đi theo sau nó là một danh từ
hay một đại từ” [147, xxiii]. Theo từ điển Oxford Advanced Learner (2010) thì
“giới từ là một từ hay một nhóm từ như là in, from, to, out of, on behalf of, được
dùng trước một danh từ hay đại từ để chỉ nơi chốn, vị trí, thời gian hay phương
cách. Còn cụm giới từ là một giới từ và danh từ đi theo sau giới từ đó ví dụ như ‘at
night hay after breakfast’” [108]. Theo David Thatcher thì “giới từ là một loại từ
loại dùng để nối hoặc liên hệ một phần của câu, thường là danh từ, hay đại từ, hay
động từ dưới hình thức V+ing hay một bổ ngữ (complement) tương đương với các
phần khác của câu hay với cả câu.” [167, 15]
Nhìn chung, định nghĩa của các tác giả đều có điểm thống nhất, đó là: giới từ
là từ nối trong câu, giới từ thường đứng sau động từ và trước các thành phần khác
của câu. Vị trí của giới từ trong câu rất linh hoạt. Trong luận án này chúng tôi sẽ sử
dụng định nghĩa giới từ của David Thatcher.
1.1.2. Vai trò và vị trí của giới từ trong câu
Tiếng Anh có khoảng 140 giới từ nhưng theo David Thatcher thì có 66 giới
từ đơn được dùng thường xuyên. Đó là những giới từ sau:
1)about, 2) above, 3) across, 4) after, 5) against, 6) along, 7)alongside, 8)amid(st),
9)among(st), 10)around, 11)as, 12)at, 13)before, 14)behind, 15)below, 16)beneath,
17)beside(s), 18)between, 19)beyond, 20)but, 21)by, 22)concerning, 23)considering,
24)despite, 25)down, 26)during, 27)except, 28)for, 29)from,30)in, 31)inside, 14
32)into, 33)less, 34)like, 35)minus, 36)near, 37)notwithstanding, 38)of, 39)off,40)
on, 41)onto, 42)opposite, 43)out, 44)outside, 45)over, 46)past, 47)pending, 48)plus,
49)regarding, 50)round, 51)since, 52)through, 53)throughout, 54)till, 55)to,
56)toward(s), 57)under, 58)underneath, 59)unlike, 60)until, 61)up, 62)upon, 63)via,
64)with, 65)within, 66)without.
giới từ đó (implied in the preceding verb) thì chúng ta có thể bỏ giới từ đó đi được.
Ví dụ: “climb (up) the mountain”, “pass (by) the forest”, “turn (round) the corner”
thì những giới từ (up), (by), (round) có thể bỏ được. Nhưng cũng có những trường
hợp, người ta thêm giới từ vào mà thực sự không cần thiết, ví dụ như: “catch on
fire”, “plummet down”. Hoặc ví dụ trong câu “Peter Mandelson has no special
knowledge or interest in Northern Ireland,” chúng ta có thể thêm giới từ of vào sau
từ knowledge. Trong tiếng Anh có một số động từ không bắt buộc phải có giới từ đi
theo động từ đó và không làm thay đổi nghĩa của động từ “approve of/approve”,
“offend against/ offend”, “repent of/repent” và trong những trường hợp này chúng
ta có thể bỏ được giới từ. Tuy nhiên có những trường hợp khi đưa thêm giới từ vào
thì nghĩa thay đổi, hay động từ bắt buộc phải có giới từ đi kèm.
Theo Tom Cole thì đôi khi việc sử dụng giới từ là không bắt buộc và điều
này khiến việc sử dụng giới từ càng thêm rối rắm. Ông đưa ra ví dụ so sánh: “When
I’m at home, I feel safe” và “when I’m home, I feel safe”, các câu hoàn toàn không
khác nhau về nghĩa, như vậy có giới từ AT hay không có AT đi trước chữ home thì
nghĩa của câu không có khác biệt gì. [81, 23-24].
1.1.3. Phân loại giới từ trong tiếng Anh
Về mặt ngữ nghĩa, có thể xem xét các loại giới từ và nghĩa cơ bản của theo
các phạm trù không gian (space), thời gian (time) và ẩn dụ (metaphor) chuyển đổi
từ phạm trù này sang phạm trù khác. Về mặt cấu tạo, Yule chia giới từ thành hai
loại đó là giới từ đơn (simple prepositions) và giới từ phức (complex prepositions).
Giới từ đơn lại có thể chia thành hai loại dựa trên cách dùng về ngữ pháp
(grammatical uses) và cách dùng về từ vựng (lexical uses) [181, 158]. Do khuôn
khổ có giới hạn của luận án, nên chúng tôi chỉ khảo sát có chọn lọc “giới từ đơn”
trong tiếng Anh.