ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã ngành: 9 22 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Văn Lộc và
GS.TS Đinh Văn Đức, những người thầy mẫu mực đã truyền cho tôi tri thức, kinh
nghiệm, niềm say mê nghiên cứu để hoàn thành luận án này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè và người thân trong gia đình đã tiếp sức
cho tôi, giúp tôi có được kết quả như hôm nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Hương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC................................................................................................................. iii
BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................iv
MỞ
....................................................................................................................1
ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................................1
2.
Mục
đích
và
1.1.2. Nghiên cứu về kết trị và kết trị của động từ......................................................5
1.1.3. Nghiên cứu về động từ ba diễn tố .....................................................................9
1.2. Cơ sở lí luận .......................................................................................................13
1.2.1. Động từ............................................................................................................13
1.2.2. Khái niệm diễn tố, phân biệt diễn tố với tham thể ngữ nghĩa và chu tố .........14
1.2.3. Các kiểu kết trị của động từ ............................................................................20
1.2.4. Khái niệm hiện thực hoá kết trị.......................................................................21
1.2.5. Cách phân loại động từ - khái niệm động từ ba diễn tố ..................................22
1.2.6. Lí thuyết ba bình diện của câu với việc nghiên cứu động từ ba diễn tố .........24
1.2.7. Nguyên tắc, thủ pháp và quy trình nghiên cứu động từ ba diễn tố .................33
1.3. Tiểu kết...............................................................................................................37
Chương 2:ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆTXÉT TRÊN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
BÌNH
DIỆN
CÚ
...........................................................................................38
PHÁP
2.1. Dẫn nhập ............................................................................................................38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
3.4.1. Sự tương ứng giữa hạt nhân ngữ nghĩa và hạt nhân cú pháp ........................113
3.4.2. Sự tương ứng giữa các vai nghĩa và thành phần cú pháp của câu ................113
3.5. Tiểu kết.............................................................................................................114
hông tin – Đạ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ t
i học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 4:BƯỚC ĐẦU SO SÁNH ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐTRONG
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH ..........................................................................116
4.1. Đặt vấn đề ........................................................................................................116
4.2. Một số nét khái quát về động từ ba diễn tố trong tiếng Anh............................117
4.3. Một số nét tương đồng và khác biệt giữa động từ ba diễn tố trong tiếng
Việt và tiếng Anh ....................................................................................................119
4.3.1. Những nét tương đồng ..................................................................................119
4.3.2. Những nét khác biệt ......................................................................................126
4.4. Tiểu kết.............................................................................................................146
KẾT LUẬN ............................................................................................................148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢCÓ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN..............................................................................151
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................152
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Động từ trong tiếng Việt là từ loại có số lượng lớn, được sử dụng rộng
rãi nhất, có vai trò cú pháp, ngữ nghĩa quan trọng nhất và có đặc tính hết sức phức
tạp. Về vai trò ngữ pháp, động từ là trung tâm của tuyệt đại đa số câu tiếng Việt. Do
có vị trí quan trọng trong hệ thống từ loại mà động từ luôn thu hút sự quan tâm đặc
biệt của các nhà nghiên cứu.
Việc nghiên cứu động từ trong tiếng Việt được tiến hành ở nhiều góc độ, từ
nghiên cứu theo quan niệm truyền thống tới nghiên cứu theo quan niệm ngữ pháp
phụ thuộc và ngữ pháp chức năng. Những kết quả nghiên cứu về động từ có đóng
góp quan trọng cho lí thuyết từ loại và cú pháp. Tuy nhiên, qua tìm hiểu, chúng tôi
nhận thấy ở động từ vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu rộng hơn. Một
trong những vấn đề đó là việc nghiên cứu, xác lập, miêu tả các đặc điểm ý nghĩa và
hoạt động ngữ pháp của các tiểu loại, các nhóm động từ cụ thể.
1.2. Lý thuyết kết trị được sáng lập bởi L.Tesnière là một trong những lí
thuyết quan trọng, một thành tựu lớn của ngôn ngữ học thế ky XX. Sau khi ra đời, lí
thuyết kết trị của L.Tesnière đã được phát triển, ứng dụng rộng rãi vào việc nghiên
cứu ngữ pháp, ngữ nghĩa của các ngôn ngữ khác nhau.
Ở Việt Nam, lí thuyết kết trị đã được nghiên cứu sâu trong công trình chuyên
khảo Kết tri của động tư tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc. Kết quả nghiên cứu của
công trình này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới me và rất thiết thực với ngữ
pháp tiếng Việt. Điều này thể hiện rõ trong một loạt các nghiên cứu gần đây theo
khuynh hướng trên.
1.3. Động từ ba diễn tố trong tiếng Việt là tiểu loại động từ có số lượng khá
cú pháp và ngữ nghĩa theo lí thuyết kết trị, lí thuyết ngữ pháp chức năng; miêu tả
động từ ba diễn tố về cú pháp và ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) theo các nguyên tắc
được xác lập.
- So sánh, đối chiếu động từ ba diễn tố trong tiếng Việt và tiếng Anh để chỉ
ra được những nét tương đồng và khác biệt.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là động từ ba diễn tố trong tiếng Việt hiện
đại có so sánh với tiếng Anh.
Phạm vi nghiên cứu của luận án là đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của động
từ ba diễn tố trong tiếng Việt hiện đại (được khảo sát trong các tác phẩm văn học,
báo chí và một số loại văn bản của các tác giả có uy tín về sử dụng ngôn ngữ) có so
sánh với các nhóm tương ứng trong tiếng Anh.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả đặc điểm hoạt động ngữ pháp
(thuộc tính kết trị) và đặc điểm ý nghĩa biểu hiện (thuộc tính kết hợp ngữ nghĩa) của
động từ ba diễn tố trong các tác phẩm văn học, báo chí của các tác giả có uy tín về
sử dụng ngôn ngữ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
4.2. Phương pháp so sánh - đôi chiếu
Phương pháp này được sử dụng (ở mức độ nhất định) với tư cách là phương
pháp bổ trợ để so sánh các đặc trưng của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt với
tiếng Anh nhằm làm rõ một số nét tương đồng và khác biệt.
Phù hợp với các phương pháp chủ yếu trên đây, chúng tôi sử dụng một số thủ
pháp như: thống kê, phân loại và các thủ pháp hình thức như: lược bỏ, bổ sung, cải
biến, thay thế và mô hình hóa . Các thủ pháp hình thức trên đây tỏ ra phù hợp và có
5.2. Về thực tiễn
Luận án se là một tài liệu tham khảo cần thiết, bổ ích trong việc nghiên cứu
về động từ nói riêng, về ngữ pháp nói chung; đồng thời, có thể được sử dụng trong
việc biên soạn giáo trình, các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt
cũng như việc dạy học ngoại ngữ trong nhà trường.
6. Bố cục của luận án
Ngoài Mơ đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận án se được
triển khai trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cưu và cơ sơ lí luận.
Chương 2: Động tư ba diễn tố trong tiếng Việt xét trên bình diện cú pháp
(kết tri cú pháp).
Chương 3: Động tư ba diễn tố trong tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa
biểu hiện.
Chương 4: Bước đầu so sánh động tư ba diễn tố trong tiếng Việt với các
nhóm tương ứng trong tiếng Anh.
7. Những kết quả nghiên cứu chính của luận án
- Xác lập được cơ sở lí thuyết của đề tài (qua việc làm rõ các khái niệm, các
vấn đề cơ bản thuộc lí thuyết kết trị và lí thuyết ngữ pháp chức năng), tạo tiền đề
cho việc nghiên cứu động từ ba diễn tố trong tiếng Việt có so sánh với các động từ
tương ứng trong tiếng Anh.
- Chỉ ra được những đặc điểm chung về cú pháp của động từ ba diễn tố, phân
loại và miêu tả làm rõ đặc điểm của một số nhóm động từ ba diễn tố tiêu biểu trên
bình diện cú pháp.
- Miêu tả làm rõ cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa là
động từ ba diễn tố nói chung, cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ
nghĩa thuộc một số nhóm động từ ba diễn tố tiêu biểu nói riêng.
- Chỉ ra sự tương ứng giữa cấu trúc cú pháp (gồm hạt nhân cú pháp và các
diễn tố) và cấu trúc ngữ nghĩa biểu hiện (gồm hạt nhân ngữ nghĩa và các tham thể
ngữ nghĩa hay các vai nghĩa) của câu với động từ ba diễn tố.
- Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản giữa động từ ba diễn tố
Như vậy, những kết quả nghiên cứu về động từ nêu trên đã đánh dấu bước
tiến quan trọng trong nghiên cứu động từ tiếng Việt. Đồng thời, các kết quả này lại
là tiền đề thúc đẩy việc nghiên cứu về từ loại động từ trong tiếng Việt từ nhiều khía
cạnh khác nhau.
1.1.2. Nghiên cứu về kết trị và kết trị của động tư
1.1.2.1. Trên thế giới
1/ Lí thuyết kết tri của L. Tesinière
a) Vài nét về L.Tesnière và ngữ pháp phụ thuộc của ông
Người khởi xướng lí thuyết kết trị là L. Tesnière, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng
người Pháp. Những tư tưởng về lí thuyết kết trị được L.Tesnière trình bày trong
cuốn “Các yếu tố của cú pháp cấu trúc” (Elements de syntaxe structurale, 1959).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
Trong cuốn sách trên đây của L. Tesnière, lí thuyết kết trị đã được trình bày
gắn liền với tư tưởng về ngữ pháp phụ thuộc của ông. Lấy câu “Quy tắc cao nhất là
sự phụ thuộc và tính phụ thuộc” làm lời đề cho Chương 2 (Tôn ti của quan hệ cú
pháp), L. Tesnière viết: “Quan hệ cú pháp xác lập giữa các tư mối quan hệ phụ
thuộc. Mỗi quan hệ thống nhất một yếu tố đứng trên với một vài yếu tố đưng dưới.
Yếu tố đưng trên chúng tôi sẽ gọi là yếu tố chi phối hoặc yếu tố chính, còn yếu tố
đưng dưới là yếu tố phụ thuộc. Chẳng hạn, trong câu “Alfred parle .”(Anphret nói),
parle (nói) là yếu tố chính, còn Anfred (Anphred) là yếu tố phụ”. [104, tr.64]
Mối quan hệ cú pháp ở câu trên được trình bày bằng sơ đồ sau:
Parle (nói)
Alfred
Cùng với nguyên tắc phụ thuộc và tính tôn ti của quan hệ cú pháp như đã
nêu, L. Tesnière cũng lưu ý đến tính chất một chức năng của yếu tố phụ thuộc: “Về
nghĩa là sự xuất hiện của chúng do nghĩa của động từ đòi hỏi và việc lược bỏ chúng
se làm cho nghĩa của động từ trở nên không xác định. 3/ Về hình thức, chúng được
biểu hiện bằng danh từ hoặc các yếu tố tương đương.
Dựa vào chức năng mà các diễn tố thực hiện theo mối quan hệ với động từ,
L. Tesnière phân loại các diễn tố (actants) thành: diễn tố thư nhất, diễn tố thư hai và
diễn tố thư ba.
Diễn tố thứ nhất từ góc độ ngữ nghĩa, chính là diễn tố chỉ ke hành động và vì
vậy, trong ngữ pháp học truyền thống, nó được gọi là chủ thể (sujet). L. Tesnière đề
nghị giữ thuật ngữ này. Trong câu “Alfred parle.” (Anphret nói.), Anphret từ góc độ
cấu trúc là diễn tố thư nhất; từ góc độ nghĩa, chỉ chủ thể của hành động nói.
Diễn tố thứ hai về cơ bản, phù hợp với bổ ngữ chỉ đối thể trong ngữ pháp
truyền thống. L. Tesnière đề nghị gọi là đối thể. Chẳng hạn, trong câu “Alfred
frappe Bernard.” (Anphret đánh Bécna.), Bécna về cấu trúc là diễn tố thứ hai, về
nghĩa chỉ đối thể của hành động. Khi so sánh diễn tố chủ thể và diễn tố đối thế (bổ
ngữ), L. Tesnière lưu ý rằng chúng chỉ đối lập nhau về mặt nghĩa, còn mặt cấu trúc
(cú pháp) giữa chúng không có sự đối lập [104, tr.124]. L. Tesnière nhấn mạnh:
“Trên thực tế, tư góc độ cấu trúc, không phụ thuộc vào chỗ trước chúng là diễn tố
(actant) thư nhất hay thư hai, yếu tố bi phụ thuộc luôn luôn là bổ ngữ” [104, tr.124]
và khẳng định “diễn tố chủ thể (chủ ngữ truyền thống) chính là bổ ngữ cũng như
những bổ ngữ khác”. [104, tr.124]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
Diễn tố thứ ba, từ góc độ ngữ nghĩa là diễn tố chỉ sự vật mà hành động được
thực hiện có lợi hay gây hại cho nó. Về cơ bản, diễn tố thứ ba tương ứng với bổ ngữ
gián tiếp trong ngữ pháp học truyền thống. Thí dụ: trong câu: “Alfred donne le liver
à Charle. ” (Anphret đưa cuốn sách cho Sáclơ.) có: Alfred (Anphret) đóng vai trò là
diễn tố thứ nhất; le liver (cuốn sách) đóng vai trò là diễn tố thứ hai; à Charle (Sác
bien
2/ Sự mơ rộng lí thuyết kết tri trong ngôn ngữ học các nước
Trong ngôn ngữ học Nga, kết trị thường được hiểu theo cách hiểu rộng hơn.
Chẳng hạn, N.I.Tjapkina cho rằng kết trị của động từ được xác định dựa vào toàn bộ
các mối quan hệ cú pháp có thể có đối với nó [105, tr.300]. Cách hiểu này, về thực
chất đã đồng nhất kết trị với khả năng của từ tham gia vào các mối quan hệ cú pháp
nói chung. Khi tính đến các kiểu kết trị của động từ, N.I.Tjapkina phân biệt kết trị
chung (được xác định dựa vào toàn bộ các mối quan hệ cú pháp có thể có đối với
động từ) với kết trị hạt nhân (được xác định dựa vào mối quan hệ của động từ với
các thành tố chủ thể và đối thể của hoạt động. Theo N.I.Tjapkina, kết trị hạt nhân là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
cơ sở mà dựa vào đó, có thể tiến hành phân tích và phân loại câu động từ thành các
kiểu nhất định [105, tr.301], [106, tr.52]...
Khác với những tác giả chỉ áp dụng khái niệm kết trị ở cấp độ từ và ở mặt
khả năng kết hợp cú pháp, một số tác giả chủ trương mở rộng khái niệm kết trị sang
cả các cấp độ và các bình diện khác của ngôn ngữ. Theo hướng này, thuật ngữ kết
trị được dùng với nghĩa rất rộng. Với quan niệm này, ngoài kết trị của từ còn có thể
nói về kết trị của các đơn vị ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác (chẳng hạn, kết trị của
các thân từ - kết trị cấu tạo từ) [103], ngoài kết trị chủ động còn có kết trị bị động,
ngoài kết trị cú pháp còn có kết trị ngữ nghĩa và kết trị logic. [103]
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, lí thuyết kết trị và cách vận dụng lí thuyết này vào việc phân
tích ngữ pháp đã được đề cập trong các công trình của Cao Xuân Hạo [26], Nguyễn
Thị Quy [60], Đinh Văn Đức [19], Nguyễn Văn Lộc [41], [42], Nguyễn Văn Hiệp
[31], Lâm Quang Đông [16] và một số tác giả khác. Tuy nhiên, ở hầu hết các tác
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, ở công trình này, các động từ
ba diễn tố mới chỉ được tác giả đề cập một cách khái quát, chưa được chú ý miêu tả
thật tỉ mỉ theo từng nhóm nhỏ động từ. Hơn nữa, ở công trình này, thuộc tính cú
pháp (kết trị hay kết trị cú pháp) và thuộc tính ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện của động
từ ba diễn tố) chưa được tác giả phân biệt rõ ràng và chưa được xem xét một cách
riêng biệt. Cùng với điều đó, tác giả chưa có điều kiện xem xét mối tương quan giữa
diễn tố (thành phần cú pháp) và tham thể ngữ nghĩa. Ngoài ra, công trình này cũng
chưa xem xét đến động từ ba diễn tố trong mối quan hệ so sánh với các ngôn ngữ
khác về loại hình.
Trong công trình “Hành động cầu khiến tiếng Việt” (2016) của Nguyễn Thị
Thanh Ngân, tác giả cũng đề cập đến động từ cầu khiến là một trong những nhóm
động từ ba diễn tố. Tuy nhiên, ở công trình này, tác giả chủ yếu đi vào xem xét hành
động cầu khiến từ góc độ ngữ dụng.
Gần đây, trong luận án Tiến sĩ “Phát ngôn có vi tư ba diễn tố trong tiếng
Việt” (2017), Đỗ Thị Hiên đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm của phát ngôn với vị từ
ba diễn tố trong tiếng Việt ở một số mặt như: khái quát về vi tư ba diễn tố và phát
ngôn có vi tư ba diễn tố trong tiếng Việt, các thành tố trong cấu trúc nghĩa miêu tả
của phát ngôn có vi tư ba diễn tố trong tiếng Việt, sự hiện thực hóa cấu trúc và ngữ
nghĩa của động tư ba diễn tố trong phát ngôn tiếng Việt. [29]
Có thể thấy bên cạnh một số kết quả bước đầu trong việc phân tích, miêu tả
đặc điểm của phát ngôn có vị từ ba diễn tố, ở công trình này còn một số vấn đề lí
luận và thực tiễn quan trọng liên quan đến động từ ba diễn tố chưa được xem xét
giải quyết một cách thấu đáo, triệt để theo quan điểm của lí thuyết kết trị và lí thuyết
ngữ pháp chức năng. Cụ thể:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
a) Về mặt lí luận:
http://lrc.tnu.edu.vn
tạo, vi trí, khả năng kết hợp, chưc vụ cú pháp…) của vị từ và của các diễn tố (các
thành tố cú pháp) trong phát ngôn. Điều này rõ ràng không phù hợp với tên gọi của
Chương 3.
- Việc phân tích, miêu tả các vai nghĩa trong những phát ngôn cụ thể (ở
Chương 3) cũng còn bộc lộ sự mâu thuẫn và nhìn chung, chưa được luận giải một
cách thuyết phục.
Xin dẫn một vài trường hợp cụ thể:
+ Trong danh sách 15 vai nghĩa được tác giả xác định không hề có vai nghĩa
chủ thể nhưng ở nội dung miêu tả (trang 93) lại có vai nghĩa này.
+ Trong những câu như: (245) “Gã ném cho Điền ba tập giấy bạc.” và (246)
“Người ta quẳng vào rá nó một đồng xu.”, gã, người ta được tác giả coi là thuộc
vai nguồn [29, tr.94]. Điều không được luận giải làm rõ ở đây là: Vai nguồn với tư
cách là thành tố nghĩa (có quan hệ ngữ nghĩa với hạt nhân và do hạt nhân ngữ nghĩa
quy định) ở đây được xác định trong mối quan hệ với hạt nhân ngữ nghĩa nào? (Nếu
không phải là với ném, quẳng?). Mặt khác, le nào bên các hạt nhân ngữ nghĩa là các
động từ ném, quẳng (rõ ràng chỉ hành động tác động đến các đối tượng ba tập giấy
bạc, đồng xu) ở những câu trên đây lại không có vai nghĩa tác thể (được tác giả coi là
“chủ thể của một hành động gây ra một tác động đến một đối tượng nào đó?”). [29,
tr.31]
+ Tương tự như vậy, ở những câu như: (249) “Anh hào hứng nói với tôi mọi
chuyện.” hoặc (250) “Trái lại, ta se sai lính đét cho anh chục roi thật đau.”, các
thành tố anh, ta cũng được tác giả coi là thuộc vai nguồn (theo cách hiểu: “nguồn
còn là nơi phát ra nội dung thông tin…” [29, tr.94]). Theo cách hiểu này thì có le
tất cả các từ chỉ chủ thể của hành động nói năng (nói, bảo, thông báo, tuyên bố…),
cầu khiến (sai, cấm, mời, khuyên…) đều được coi là thuộc vai nguồn (vì chúng đều
chỉ “nơi phát ra thông tin”). Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Vai nguồn theo cách hiểu
có ý nghĩa.
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Động tư
1/. Khái niệm
Qua tìm hiểu các định nghĩa về động từ, chúng tôi đưa ra quan niệm của
mình về động từ như sau: Động tư là một tư loại thực tư biểu thi hoạt động (hành
động hoặc trạng thái) của sự vật, hiện tượng và có vai trò cú pháp chủ yếu là làm
hạt nhân cú pháp (vi ngữ) của cụm động tư (nút động từ) hay của câu.
2/. Đặc điểm của động tư và cách xác đinh động tư
Để phân định từ loại nói chung, động từ nói riêng, luận án chủ trương dựa cả
vào đặc điểm nội dung lẫn đặc điểm hình thức. Đặc điểm nội dung của từ chính là ý
nghĩa ngữ pháp của chúng. Đặc điểm hình thức của từ là toàn bộ những dấu hiệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
hình thức phản ánh theo cách nào đó, những đặc điểm nội dung. Theo quan niệm
trên đây, động từ là từ loại được xác định theo những đặc điểm sau:
a) Về ý nghĩa:
- Chỉ hoạt động (hành động hoặc trạng thái).
- Có khả năng được bổ sung ý nghĩa thời thể (thời gian, mệnh lệnh, phương
thưc, kết quả…).
b) Về hình thức:
- Có khả năng thay thế bằng “làm gì”, “làm sao”.
Thí dụ: (1): Nam chạy. → Nam làm gì?
(2): Nam ôm. → Nam làm sao?
- Có khả năng làm trung tâm (hạt nhân) của cụm động từ (nút động từ theo
thuật ngữ của L. Tesnière hay cụm chủ vị theo cách gọi truyền thống), tức là có khả
năng kết hợp vào mình các thành tố phụ để tạo lập cụm động từ. Cụ thể:
1.2.2.2 Phân biệt diễn tố với tham thể ngữ nghĩa
Thực tế cho thấy trong một số tài liệu ngữ pháp, việc phân biệt các khái niệm
diễn tố và tham thể ngữ nghĩa thường không được chú ý, thậm chí, còn có sự nhầm
lẫn các khái niệm này.
Sự khác nhau cơ bản giữa diễn tố và tham thể ngữ nghĩa thể hiện ở những
mặt sau:
1/ Về bản chất
Xét từ góc độ mối quan hệ với các bình diện của câu (theo quan điểm ngữ
pháp chức năng), diễn tố và tham thể ngữ nghĩa có bản chất rất khác nhau: diễn tố
là thành tố cú pháp thuộc cấu trúc cú pháp của câu hay nút vị từ (cụm vị từ); còn
tham thể ngữ nghĩa hay vai nghĩa là các thành tố ngữ nghĩa thuộc cấu trúc nghĩa
biểu hiện (nghĩa miêu tả) của câu. Có thể thấy rõ bản chất cú pháp của diễn tố qua ý
kiến của L.Tesnière.
Trong lý thuyết kết trị của mình, khi xác định, phân loại các kiểu diễn tố
(actants), vì chủ trương xuất phát từ mặt cú pháp chứ không phải từ mặt ngữ nghĩa
(nghĩa biểu hiện, nghĩa miêu tả, nghĩa sâu) nên L. Tesnière quan niệm trong cấu
trúc bị động (Bernard est frappe par Alfred - (5) Becna bi Alphred đánh), từ Becna
về nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu, mặc dù chỉ đối thể nhưng vẫn được ông xếp vào
kiểu diễn tố thư nhất - diễn tố chủ thể (sujet). [104, tr.124]
L. Tesnière cho rằng trong cải biến bi độngđã có sự chuyển hóa giữa các
kiểu diễn tố với tư cách là các thành tố cú pháp. Cụ thể: Diễn tố thư hai (bổ ngữ)
trong cấu trúc chủ động (Alfred frappe Bernard) chuyển thành diễn tố thư nhất (chủ
ngữ, sujet) trong cấu trúc bị động (Bernard est frappe par Alfred); còn diễn tố thư
nhất (chủ ngữ, sujet) trong cấu trúc chủ động se chuyển thành diễn tố thư hai (bổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn
ngữ) trong cấu trúc bị động. Ông chỉ rõ rằng về mặt ngữ nghĩa, nếu trong cấu trúc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
http://lrc.tnu.edu.vn