ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã ngành: 9 22 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Văn Lộc và
GS.TS Đinh Văn Đức, những người thầy mẫu mực đã truyền cho tôi tri thức, kinh
nghiệm, niềm say mê nghiên cứu để hoàn thành luận án này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè và người thân trong gia đình đã tiếp sức
cho tôi, giúp tôi có được kết quả như hôm nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Hương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................ iv
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 2
5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án .................................................................. 3
6. Bố cục của luận án .................................................................................................. 4
7. Những kết quả nghiên cứu chính của luận án ......................................................... 4
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN ................................................................................................................... 5
2.4. Tiểu kết............................................................................................................... 76
Chương 3: ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT XÉT TRÊN
BÌNH DIỆN NGHĨA BIỂU HIỆN ......................................................................... 78
3.1. Dẫn nhập ............................................................................................................ 78
3.2. Đặc điểm chung về nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa là
động từ ba diễn tố ...................................................................................................... 78
3.2.1. Đặc điểm chung của hạt nhân ngữ nghĩa ........................................................ 78
3.2.2. Đặc điểm chung của các vai nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của
câu với động từ ba diễn tố ......................................................................................... 80
3.3. Phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa là một
số nhóm động từ ba diễn tố tiêu biểu ........................................................................ 88
3.3.1. Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa là động từ
ban phát..................................................................................................................... 88
3.3.2. Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa là động từ làm
chuyển dời đối thể ..................................................................................................... 96
3.3.3. Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với hạt nhân ngữ nghĩa là động từ
cầu khiến ................................................................................................................. 104
3.4. Sự tương ứng giữa cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện trong câu
với động từ ba diễn tố ............................................................................................. 113
3.4.1. Sự tương ứng giữa hạt nhân ngữ nghĩa và hạt nhân cú pháp ........................ 113
3.4.2. Sự tương ứng giữa các vai nghĩa và thành phần cú pháp của câu ................ 113
3.5. Tiểu kết............................................................................................................. 114
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
Chương 4:BƯỚC ĐẦU SO SÁNH ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐTRONG
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH .......................................................................... 116
N3
Danh từ - diễn tố thứ ba, chỉ đối thể gián tiếp
V2
Động từ - diễn tố thứ ba chỉ nội dung
v
Động từ ngữ pháp có chức năng dẫn nối trong thành phần của diễn tố thứ ba.
p
Giới từ dùng để dẫn nối diễn tố thứ 3 (N3).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Động từ trong tiếng Việt là từ loại có số lượng lớn, được sử dụng rộng
rãi nhất, có vai trò cú pháp, ngữ nghĩa quan trọng nhất và có đặc tính hết sức phức
tạp. Về vai trò ngữ pháp, động từ là trung tâm của tuyệt đại đa số câu tiếng Việt. Do
có vị trí quan trọng trong hệ thống từ loại mà động từ luôn thu hút sự quan tâm đặc
biệt của các nhà nghiên cứu.
Việc nghiên cứu động từ trong tiếng Việt được tiến hành ở nhiều góc độ, từ
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là miêu tả làm rõ đặc điểm về cú pháp và ngữ nghĩa
(nghĩa biểu hiện) của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt, bao gồm các đặc điểm
chung của tiểu loại, những đặc điểm riêng của một số nhóm động từ tiêu biểu; đồng
thời, trên cơ sở so sánh động từ ba diễn tố tiếng Việt với các động từ tương ứng
trong tiếng Anh, chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt, đặc biệt là sự khác biệt
về mặt kết trị hình thức. Từ đó, luận án góp phần làm sáng rõ hơn đặc điểm ngữ
pháp, ngữ nghĩa của động từ nhìn từ góc độ lí thuyết kết trị và lí thuyết ngữ pháp
chức năng ở các loại hình ngôn ngữ khác nhau, phục vụ cho việc dạy học tiếng.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đây, luận án thực hiện các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, xác lập cơ sở lí luận của đề tài (những vấn đề lí luận chung,
bao gồm lí luận về động từ, về lí thuyết kết trị và kết trị của động từ, sự phân loại
động từ và khái niệm động từ ba diễn tố; khái niệm diễn tố, vai nghĩa, chức năng cú
pháp, mối quan hệ giữa vai nghĩa và chức năng cú pháp).
- Xác lập các nguyên tắc và thủ pháp phân tích, miêu tả động từ ba diễn tố về cú
pháp và ngữ nghĩa theo lí thuyết kết trị, lí thuyết ngữ pháp chức năng; miêu tả động từ ba
diễn tố về cú pháp và ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) theo các nguyên tắc được xác lập.
- So sánh, đối chiếu động từ ba diễn tố trong tiếng Việt và tiếng Anh để chỉ
ra được những nét tương đồng và khác biệt.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là động từ ba diễn tố trong tiếng Việt hiện
đại có so sánh với tiếng Anh.
Phạm vi nghiên cứu của luận án là đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của động
từ ba diễn tố trong tiếng Việt hiện đại (được khảo sát trong các tác phẩm văn học,
báo chí và một số loại văn bản của các tác giả có uy tín về sử dụng ngôn ngữ) có so
sánh với các nhóm tương ứng trong tiếng Anh.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả đặc điểm hoạt động ngữ pháp
chiếu với tiếng Anh là ngôn ngữ khác về loại hình sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm
những nét phổ quát và đặc thù về kết trị của động từ ba diễn tố nhìn từ góc độ lí
thuyết kết trị và lí thuyết ngữ pháp chức năng; qua đó, làm sáng tỏ thêm những nét
tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của động từ tiếng Việt
với động từ trong các ngôn ngữ khác loại hình.
Thứ ba, qua việc phân tích, miêu tả sự tương ứng giữa chức năng cú pháp với
các vai nghĩa gắn với động từ ba diễn tố, luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ một trong
những vấn đề phức tạp, thú vị về lí thuyết là vấn đề mối tương quan giữa cấu trúc cú
pháp (với các thành tố cú pháp) với cấu trúc nghĩa biểu hiện hay cấu trúc nghĩa sâu
của câu (với các tham thể ngữ nghĩa hay các vai nghĩa).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
5.2. Về thực tiễn
Luận án sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết, bổ ích trong việc nghiên cứu
về động từ nói riêng, về ngữ pháp nói chung; đồng thời, có thể được sử dụng trong
việc biên soạn giáo trình, các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt
cũng như việc dạy học ngoại ngữ trong nhà trường.
6. Bố cục của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận án sẽ được
triển khai trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận.
Chương 2: Động từ ba diễn tố trong tiếng Việt xét trên bình diện cú pháp
(kết trị cú pháp).
Chương 3: Động từ ba diễn tố trong tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa
biểu hiện.
Chương 4: Bước đầu so sánh động từ ba diễn tố trong tiếng Việt với các
nhóm tương ứng trong tiếng Anh.
những năm sáu mươi của thế kỉ XX đến nay. Bên cạnh các công trình chung về ngữ
pháp thường có đề cập đến động từ, ở giai đoạn này đã xuất hiện một số chuyên luận
đáng chú ý về động từ như: “Phân loại động từ tiếng Việt” của I.S. Bưxtrov (1966);
“Cụm động từ tiếng Việt” của Nguyễn Phú Phong (1973); “Các động từ chỉ hướng trong
tiếng Việt” của Nguyễn Lai (1976); “Động từ trong tiếng Việt” của Nguyễn Kim Thản
(1977), “Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ” của Vũ Thế Thạch (1984)….
Qua các công trình nghiên cứu trên, diện mạo của động từ đã được nhìn nhận
một cách căn bản, rõ nét. Trong đó, có một số công trình đã nghiên cứu tương đối
toàn diện về động từ nói chung như: “Cụm động từ tiếng Việt” của Nguyễn Phú
Phong (1973), “Động từ trong tiếng Việt” của Nguyễn Kim Thản (1977)… Một số
công trình nghiên cứu từng mặt, từng nhóm hoặc từng khía cạnh của động từ như:
“Phân loại động từ tiếng Việt” của I.S. Bưxtrov (1966); “Các động từ chỉ hướng
trong tiếng Việt” của Nguyễn Lai (1976); “Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ” của
Vũ Thế Thạch (1984)…
Như vậy, những kết quả nghiên cứu về động từ nêu trên đã đánh dấu bước
tiến quan trọng trong nghiên cứu động từ tiếng Việt. Đồng thời, các kết quả này lại
là tiền đề thúc đẩy việc nghiên cứu về từ loại động từ trong tiếng Việt từ nhiều khía
cạnh khác nhau.
1.1.2. Nghiên cứu về kết trị và kết trị của động từ
1.1.2.1. Trên thế giới
1/ Lí thuyết kết trị của L. Tesinière
a) Vài nét về L.Tesnière và ngữ pháp phụ thuộc của ông
Người khởi xướng lí thuyết kết trị là L. Tesnière, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng
người Pháp. Những tư tưởng về lí thuyết kết trị được L.Tesnière trình bày trong
cuốn “Các yếu tố của cú pháp cấu trúc” (Elements de syntaxe structurale, 1959).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
Nút động từ theo quan niệm của L. Tesnière là trung tâm của câu trong phần
lớn các ngôn ngữ châu Âu và biểu thị cái tương tự như một vở kịch nhỏ với các vai
diễn (gắn với hành động) và hoàn cảnh. Nếu đi từ mặt thực tế của vở kịch sang bình
diện cú pháp cấu trúc thì hành động, các vai diễn và hoàn cảnh sẽ trở thành các yếu
tố tương ứng với động từ, diễn tố (actants), chu tố (circonstants). Động từ biểu thị
quá trình (frappe - đánh trong Alfred frappe Bernard). Các diễn tố chỉ người hay vật
tham gia vào quá trình với tư cách bất kì (chủ động hay bị động). Chẳng hạn, trong
câu trên, các diễn tố là Alfred và Bernard. [104, tr.117]
Các diễn tố có đặc điểm chung là: 1/ Đều phụ thuộc vào động từ, là kẻ thể
hiện kết trị của động từ, kể cả diễn tố chủ thể (chủ ngữ). 2/ Đều có tính bắt buộc,
nghĩa là sự xuất hiện của chúng do nghĩa của động từ đòi hỏi và việc lược bỏ chúng
sẽ làm cho nghĩa của động từ trở nên không xác định. 3/ Về hình thức, chúng được
biểu hiện bằng danh từ hoặc các yếu tố tương đương.
Dựa vào chức năng mà các diễn tố thực hiện theo mối quan hệ với động từ,
L. Tesnière phân loại các diễn tố (actants) thành: diễn tố thứ nhất, diễn tố thứ hai và
diễn tố thứ ba.
Diễn tố thứ nhất từ góc độ ngữ nghĩa, chính là diễn tố chỉ kẻ hành động và vì
vậy, trong ngữ pháp học truyền thống, nó được gọi là chủ thể (sujet). L. Tesnière đề
nghị giữ thuật ngữ này. Trong câu “Alfred parle.” (Anphret nói.), Anphret từ góc độ
cấu trúc là diễn tố thứ nhất; từ góc độ nghĩa, chỉ chủ thể của hành động nói.
Diễn tố thứ hai về cơ bản, phù hợp với bổ ngữ chỉ đối thể trong ngữ pháp
truyền thống. L. Tesnière đề nghị gọi là đối thể. Chẳng hạn, trong câu “Alfred
frappe Bernard.” (Anphret đánh Bécna.), Bécna về cấu trúc là diễn tố thứ hai, về
nghĩa chỉ đối thể của hành động. Khi so sánh diễn tố chủ thể và diễn tố đối thế (bổ
ngữ), L. Tesnière lưu ý rằng chúng chỉ đối lập nhau về mặt nghĩa, còn mặt cấu trúc
(cú pháp) giữa chúng không có sự đối lập [104, tr.124]. L. Tesnière nhấn mạnh:
(Sáclơ)
(actant 3)
Cùng nằm trong thành phần cấu trúc của câu động từ, bên cạnh các diễn tố
còn có các chu tố (circonstant). Về nghĩa, các chu tố biểu thị hoàn cảnh (thời gian,
vị trí, phương thức…) trong đó quá trình được mở rộng. Chẳng hạn trong câu:
Alfred fourve toujours son nez partout (Anphrét ở đâu cũng luôn ngoáy cái mũi của
mình), có hai chu tố là toujours (luôn luôn) và partout (ở mọi nơi).
Trong câu “Alfred parl bien.” (Anphret nói hay), từ bien (hay) là chu tố.
Lược đồ của câu này như sau:
Parl
Alfred
bien
2/ Sự mở rộng lí thuyết kết trị trong ngôn ngữ học các nước
Trong ngôn ngữ học Nga, kết trị thường được hiểu theo cách hiểu rộng hơn.
Chẳng hạn, N.I.Tjapkina cho rằng kết trị của động từ được xác định dựa vào toàn bộ
các mối quan hệ cú pháp có thể có đối với nó [105, tr.300]. Cách hiểu này, về thực
chất đã đồng nhất kết trị với khả năng của từ tham gia vào các mối quan hệ cú pháp
nói chung. Khi tính đến các kiểu kết trị của động từ, N.I.Tjapkina phân biệt kết trị
chung (được xác định dựa vào toàn bộ các mối quan hệ cú pháp có thể có đối với
động từ) với kết trị hạt nhân (được xác định dựa vào mối quan hệ của động từ với
các thành tố chủ thể và đối thể của hoạt động. Theo N.I.Tjapkina, kết trị hạt nhân là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
Lâm Quang Đông trong công trình “Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với
nhóm vị từ trao/tặng (trong tiếng Anh và tiếng Việt)” [16] đã đề cập đến nhóm động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
từ trao/tặng là một trong những nhóm động từ ba diễn tố. Tuy nhiên, trong công
trình này, tác giả mới chỉ xem xét bình diễn nghĩa biểu hiện của nhóm động từ
trao/tặng.
Việc nghiên cứu riêng về động từ ba diễn tố mới chỉ thực sự được tiến hành
trong công trình “Động từ ba diễn tố trong tiếng Việt” (2012) của tác giả Nguyễn Thị
Thanh Tâm [66]. Trong công trình này, tác giả đã bước đầu miêu tả làm rõ một số đặc
điểm ý nghĩa và thuộc tính kết trị của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt. Tuy nhiên,
trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, ở công trình này, các động từ ba diễn tố mới
chỉ được tác giả đề cập một cách khái quát, chưa được chú ý miêu tả thật tỉ mỉ theo
từng nhóm nhỏ động từ. Hơn nữa, ở công trình này, thuộc tính cú pháp (kết trị hay kết
trị cú pháp) và thuộc tính ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện của động từ ba diễn tố) chưa được
tác giả phân biệt rõ ràng và chưa được xem xét một cách riêng biệt. Cùng với điều đó,
tác giả chưa có điều kiện xem xét mối tương quan giữa diễn tố (thành phần cú pháp) và
tham thể ngữ nghĩa. Ngoài ra, công trình này cũng chưa xem xét đến động từ ba diễn tố
trong mối quan hệ so sánh với các ngôn ngữ khác về loại hình.
Trong công trình “Hành động cầu khiến tiếng Việt” (2016) của Nguyễn Thị
Thanh Ngân, tác giả cũng đề cập đến động từ cầu khiến là một trong những nhóm
động từ ba diễn tố. Tuy nhiên, ở công trình này, tác giả chủ yếu đi vào xem xét hành
động cầu khiến từ góc độ ngữ dụng.
Gần đây, trong luận án Tiến sĩ “Phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng
Việt” (2017), Đỗ Thị Hiên đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm của phát ngôn với vị từ
ba diễn tố trong tiếng Việt ở một số mặt như: khái quát về vị từ ba diễn tố và phát
ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt, các thành tố trong cấu trúc nghĩa miêu tả
cách là thành tố trong cấu trúc nghĩa miêu tả (nghĩa biểu hiện) của câu, tác giả cho
rằng: “Căn cứ vào chức năng của các TT trong mối quan hệ với VT (vị từ), có thể
chia tham thể thành hai loại: diễn tố (DT) và chu tố (CT)” [29, tr.28]. Cách hiểu
trên đây, về thực chất đã đồng nhất diễn tố, chu tố (theo cách hiểu của L. Tesnière
vốn là các thành tố cú pháp tương đương với chủ ngữ, bổ ngữ) với tham thể ngữ
nghĩa (các thành tố thuộc cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu). Đây là cách hiểu hoàn
toàn khác với cách hiểu của L. Tesnière về diễn tố, chu tố là những khái niệm do
chính ông đề xuất (cụ thể về sự phân biệt các khái niệm này, xin xem mục 1.2.2.2
dưới đây).
b) Về mặt cấu trúc và nội dung phân tích cụ thể của chương 3
- Ở Chương 3 (Các thành tố trong cấu trúc nghĩa miêu tả của phát ngôn có
vị từ ba diễn tố), lẽ ra cần đi riêng vào mặt nghĩa miêu tả của các thành tố, tác giả
lại dành nhiều trang trình bày về “Đặc điểm ngữ pháp” (đặc điểm về từ loại, cấu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
tạo, vị trí, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp…) của vị từ và của các diễn tố (các
thành tố cú pháp) trong phát ngôn. Điều này rõ ràng không phù hợp với tên gọi của
Chương 3.
- Việc phân tích, miêu tả các vai nghĩa trong những phát ngôn cụ thể (ở
Chương 3) cũng còn bộc lộ sự mâu thuẫn và nhìn chung, chưa được luận giải một
cách thuyết phục.
Xin dẫn một vài trường hợp cụ thể:
+ Trong danh sách 15 vai nghĩa được tác giả xác định không hề có vai nghĩa
chủ thể nhưng ở nội dung miêu tả (trang 93) lại có vai nghĩa này.
+ Trong những câu như: (245) “Gã ném cho Điền ba tập giấy bạc.” và (246)
“Người ta quẳng vào rá nó một đồng xu.”, gã, người ta được tác giả coi là thuộc vai
nguồn [29, tr.94]. Điều không được luận giải làm rõ ở đây là: Vai nguồn với tư cách là
nữa, công trình này chủ yếu nghiên cứu phát ngôn có vị từ ba diễn tố chứ chưa phải
là công trình vận dụng triệt để lí thuyết kết trị và lí thuyết ngữ pháp chức năng vào
nghiên cứu động từ ba diễn tố (từ góc độ từ loại). Ngoài ra, công trình của Đỗ Thị
Hiên cũng không đề cập đến vấn đề so sánh động từ ba diễn tố trong tiếng Việt với
tiếng Anh.
Như vậy, với quan điểm, phạm vi, nội dung nghiên cứu như chỉ ra trên đây,
kết quả nghiên cứu trong công trình của Đỗ Thị Hiên hoàn toàn không trùng với
quan điểm, phạm vi, nội dung và đặc biệt là kết quả nghiên cứu trong luận án của
chúng tôi (như sẽ trình bày ở dưới đây).
Tóm lại, việc điểm qua các nghiên cứu về động từ nói chung và động từ ba
diễn tố nói riêng trong tiếng Việt trên đây cho phép khẳng định việc nghiên cứu sâu
hơn về động từ ba diễn tố trong tiếng Việt dựa triệt để vào lí thuyết kết trị và lí
thuyết ngữ pháp chức năng (có so sánh với tiếng Anh) là vấn đề thực sự cần thiết và
có ý nghĩa.
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Động từ
1/. Khái niệm
Qua tìm hiểu các định nghĩa về động từ, chúng tôi đưa ra quan niệm của
mình về động từ như sau: Động từ là một từ loại thực từ biểu thị hoạt động (hành
động hoặc trạng thái) của sự vật, hiện tượng và có vai trò cú pháp chủ yếu là làm
hạt nhân cú pháp (vị ngữ) của cụm động từ (nút động từ) hay của câu.
2/. Đặc điểm của động từ và cách xác định động từ
Để phân định từ loại nói chung, động từ nói riêng, luận án chủ trương dựa cả
vào đặc điểm nội dung lẫn đặc điểm hình thức. Đặc điểm nội dung của từ chính là ý
nghĩa ngữ pháp của chúng. Đặc điểm hình thức của từ là toàn bộ những dấu hiệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
như đã giới thiệu ở mục 1.1.2.1 trên đây. Cụ thể, diễn tố được hiểu là các thành tố
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
cú pháp bắt buộc (tương ứng với chủ ngữ, bổ ngữ truyền thống) thể hiện kết trị bắt
buộc của động từ [104, tr.124]. Diễn tố theo cách hiểu này, một mặt, được phân biệt
với tham thể ngữ nghĩa hay vai nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu; mặt
khác, được phân biệt với chu tố (trạng ngữ) là các thành tố cú pháp tự do bên động
từ hay vị từ.
Để làm rõ hơn khái niệm diễn tố, dưới đây, xin trình bày rõ thêm về sự phân
biệt diễn tố với tham thể ngữ nghĩa và chu tố.
1.2.2.2 Phân biệt diễn tố với tham thể ngữ nghĩa
Thực tế cho thấy trong một số tài liệu ngữ pháp, việc phân biệt các khái niệm
diễn tố và tham thể ngữ nghĩa thường không được chú ý, thậm chí, còn có sự nhầm
lẫn các khái niệm này.
Sự khác nhau cơ bản giữa diễn tố và tham thể ngữ nghĩa thể hiện ở những
mặt sau:
1/ Về bản chất
Xét từ góc độ mối quan hệ với các bình diện của câu (theo quan điểm ngữ
pháp chức năng), diễn tố và tham thể ngữ nghĩa có bản chất rất khác nhau: diễn tố
là thành tố cú pháp thuộc cấu trúc cú pháp của câu hay nút vị từ (cụm vị từ); còn
tham thể ngữ nghĩa hay vai nghĩa là các thành tố ngữ nghĩa thuộc cấu trúc nghĩa
biểu hiện (nghĩa miêu tả) của câu. Có thể thấy rõ bản chất cú pháp của diễn tố qua ý
kiến của L.Tesnière.
Trong lý thuyết kết trị của mình, khi xác định, phân loại các kiểu diễn tố
(actants), vì chủ trương xuất phát từ mặt cú pháp chứ không phải từ mặt ngữ nghĩa
(nghĩa biểu hiện, nghĩa miêu tả, nghĩa sâu) nên L. Tesnière quan niệm trong cấu
trúc bị động (Bernard est frappe par Alfred - (5) Becna bị Alphred đánh), từ Becna
chu cảnh được coi là ba thành phần “ cung cấp khung tham chiếu để giải thích kinh
nghiệm của chúng ta về những gì đang diễn ra”. [51, tr.208]
Sự khác nhau về bản chất giữa diễn tố và tham thể ngữ nghĩa như vừa chỉ ra
được thể hiện cụ thể ở một loạt đặc điểm sẽ được phân tích dưới đây.
2/ Về ý nghĩa và hình thức
Là thành tố cú pháp, mỗi diễn tố (ở dạng điển hình) được đặc trưng bởi một
ý nghĩa cú pháp tương ứng với một hình thức cú pháp nhất định. Các tham thể ngữ
nghĩa lại được đặc trưng bởi nghĩa biểu hiện và ý nghĩa này không có hình thức cú
pháp riêng để biểu thị. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, diễn tố chủ thể (chủ ngữ) được
đặc trưng bởi nghĩa cú pháp chủ thể và hình thức cú pháp cơ bản tương ứng biểu thị
nghĩa này là danh từ chiếm vị trí liền trước vị từ giữ vai trò hạt nhân cú pháp. Trong
khi đó, các tham thể ngữ nghĩa chỉ được xác định theo đặc trưng thuần ngữ nghĩa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
(theo nghĩa biểu hiện). Để làm rõ vấn đề này, chúng ta sẽ xem xét đặc điểm của các
diễn tố và các tham thể ngữ nghĩa trong những câu sau:
(6a): Mẹ khen Nam.
(6b): Nam được mẹ khen.
Về cú pháp, trong câu (6a), Nam là diễn tố đối thể xét trong mối quan hệ với
hạt nhân cú pháp là động từ khen. Diễn tố này được đặc trưng bởi ý nghĩa cú pháp
đối thể và nghĩa cú pháp này có hình thức cú pháp phù hợp để biểu thị là hình thức
danh từ chiếm vị trí sau động từ (khen). Trong câu (6b), Nam là diễn tố chủ thể của
động từ được. Diễn tố này được đặc trưng bởi ý nghĩa cú pháp chủ thể và ý nghĩa
này có hình thức cú pháp tương ứng là danh từ chiếm vị trí liền trước động từ
(được). Về mặt nghĩa biểu hiện, Nam trong cả hai câu trên đây đều là tham thể đối
thể hay bị thể (xét trong mối quan hệ với hạt nhân ngữ nghĩa là động từ khen), mặc