Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH TÂM
ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Lộc
Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Văn Lộc,
người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Khoa Sau
Đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên cùng các thầy giáo ở Viện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ i
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ 7
1.1. Động từ 7
1.1.1. Khái niệm 7
1.1.2. Cách xác định động từ 7
1.1.3. Một số vấn đề cần chú ý khi xác định động từ 9
1.2. Vị trí của động từ ba diễn tố trong hệ thống động từ tiếng Việt 11
1.2.1. Cách phân loại động từ theo quan điểm truyền thống 11
1.2.2. Cách phân loại động từ theo lý thuyết kết trị 13
1.3. Nguyên tắc, thủ pháp và quy trình nghiên cứu động từ theo lý
thuyết kết trị 29
1.3.1. Nguyên tắc xác định, phân tích kết trị của động từ 29
1.3.2. Thủ pháp pháp xác định, phân tích kết trị của động từ 37
1.3.3. Quy trình xác định, miêu tả kết trị của động từ 38
1.4. Đặc điểm chung của động từ ba diễn tố 40
1.4.1. Nhận xét chung 40
1.4.2. Phân loại động từ ba diễn tố (Các diện đối lập chính trong
động từ ba diễn tố) 42
Tiểu kết 48
Chương 2. ĐỘNG TỪ BA DIỄN TỐ VỚI MÔ HÌNH N
1
- V
1
-
N
2
- V
2
và N
1
– V
1
- N
2
-
2
N
3
79
3.1. Nhận xét chung 79
3.2. Nhóm động từ cầu khiến 80
3.2.1. Nhận xét chung 80
3.2.2. Các diễn tố bên động từ cầu khiến. 82
3.2.3. Các nhóm động từ cầu khiến. 94
3.3. Nhóm động từ bình xét. 103
3.3.1. Đặc điểm chung 103
3.3.2. Các diễn tố bên động từ bình xét 105
3.3.2. Về phân loại nhóm động từ bình xét - đánh giá 109
Tiểu kết 110
Về lý luận, việc nghiên cứu nhóm động từ này theo lý thuyết kết trị sẽ
góp phần soi sáng thêm một số vấn đề lý thuyết về động từ nói chung, lý thuyết
kết trị động từ nói riêng trên cứ liệu của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt.
Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu kết trị của động từ ba diễn tố có thể
được sử dụng để biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp
tiếng Việt trong nhà trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Động
từ ba diễn tố trong tiếng Việt”
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Về sự tồn tại của động từ tiếng Việt, từ trước đến nay có rất nhiều ý
kiến nhưng có hai ý kiến trái ngược nhau. Ý kiến thứ nhất phủ nhận sự tồn tại
của động từ. Còn ý kiến thứ hai thừa nhận sự tồn tại của động từ.
Những người có ý kiến thứ nhất như M. Grammong (M.Grammont) và
Lê Quang Trinh phủ nhận khả năng phân định các loại từ trong tiếng Việt. Do
đó, các tác giả cũng phủ nhận sự tồn tại của động từ.Các tác giả này cho rằng
trong tiếng Việt, không có mạo từ, danh từ, đại từ, động từ, cũng không có
giống và số mà chỉ có những từ không thôi: những từ này đều là đơn âm tiết,
nói chung không biến đổi, ý nghĩa của chúng thay đổi hay được xác định nhờ
những từ đặt trước hay theo sau, nghĩa là nhờ chức năng, vị trí của chúng ở
trong câu.
Ý kiến thứ hai thừa nhận sự tồn tại của động từ, nhưng những người
theo ý kiến này lại khác nhau về điểm xuất phát cũng như về kết quả đạt
được. Có thể kể ra một số ý kiến như sau:
Nguyễn Kim Thản phân động từ ra làm bốn loại: loại thứ nhất có sự lẫn
lộn giữ động từ và vị ngữ bắt nguồn từ thời cổ Hy Lạp, loại thứ hai xuất phát
từ ý nghĩa, loại thứ ba xuất phát từ hình thức ngữ pháp (hiểu theo nghĩa rộng),
Ở nước ngoài có:
- Phân loại động từ tiếng Việt của I.S. Bystov (1966)
- Cụm động từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong (1973)
Ở trong nước có:
- Các động từ chỉ hướng trong tiếng Việt của Nguyễn Lai (1976)
- Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản (1977)
- Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ của Vũ Thế Thạch (1984)
- Vị từ hành động và các tham tố của nó của Nguyễn thị Quy (1995)
- Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc (1995)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Trong các công trình trên đây, một số nghiên cứu tương đối hoàn toàn
diện về động từ nói chung. Đó là những công trình của Nguyễn Phú Phong và
Nguyễn Kim Thản Ở những công trình này, diện mạo chung của động từ đã
hiện lên khá rõ rệt. Bên cạnh đó có những công trình đi sâu vào một khía cạnh
nào đó của động từ như: I.S. Bystov đi vào phân loại động từ, Nguyễn Lai tìm
hiểu về nhóm động từ chỉ hướng, Vũ Thế Thạch tìm hiểu về mặt ngữ nghĩa,
Nguyễn Thị Quy tìm hiểu về vị từ hành động và các tham tố của nó, Nguyễn
Văn Lộc đi sâu vào mặt kết trị. Tuy nhiên, có một khía cạnh của động từ còn ít
được chú ý đến, đó là việc tìm hiểu về các nhóm, các tiểu loại động từ trong đó
có động từ ba diễn tố. Vì vậy, ở đề tài này chúng tôi sẽ đi sâu vào việc tìm hiểu
về động từ ba diễn tố trong tiếng Việt theo lý thuyết kết trị.
III. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích của đề tài này là miêu tả làm rõ đặc điểm ý nghĩa và thuộc
tính kết trị của nhóm động từ ba diễn tố trong tiếng Việt. Qua đó, góp phần
soi sáng thêm một số vấn đề về lý thuyết kết trị và kết trị của động từ trên cứ
liệu của một nhóm động từ cụ thể trong một ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn
ngữ đơn lập.
này dùng kết hợp để triển khai thực hiện đề tài.
3. Về thủ pháp nghiên cứu, luận văn kết hợp sử dụng các thủ pháp như
lƣợc bỏ, bổ sung, thay thế, cải biến.Các thủ pháp nói trên giúp cho việc
miêu tả và phân tích ngữ pháp hạn chế được sự chủ quan, cảm tính nhằm đạt
được những mục tiêu đặt ra của luận văn.
VI. DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Với những kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn sẽ có những đóng
góp mới sau đây:
Thứ nhất, việc nghiên cứu nhóm động từ này theo lý thuyết kết trị sẽ
góp phần soi sáng thêm một số vấn đề lý thuyết về động từ nói chung, lý
thuyết kết trị về động từ nói riêng trên cứ liệu của động từ ba diễn tố trong
tiếng Việt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Thứ hai, từ việc nghiên cứu các nhóm động từ ba diễn tố cụ thể theo lí
thuyết kết trị, chúng ta sẽ thấy được sự phong phú, đa dạng của động từ tiếng
Việt nói chung và động từ ba diễn tố nói riêng.
Thứ ba, về thực tiễn, kết quả nghiên cứu kết trị của động từ ba diễn tố
có thể được sử dụng để biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ
pháp tiếng Việt trong nhà trường.
VII. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có ba chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về động từ ba diễn tố
Chương này tập chung tìm hiểu những lí thuyết về động từ, nguyên tắc
thủ pháp và quy trình nghiên cứu động từ theo lí thuyêt kết trị. Vị trí, đặc
điểm chung của động từ ba diễn tố trong tiếng Việt.
Chƣơng 2: Động từ ba diễn tố với mô hình N
1
1.1.1. Khái niệm
Khi nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã dành rất
nhiều tâm huyết của mình cho việc nghiên cứu động từ. Điều đó cho thấy tầm
quan trọng cũng như sự phức tạp của từ loại này. Vai trò của động từ dã được
Nguyễn Kim Thản khẳng định: “Trong câu, động từ gần như là trung tâm của
các mối quan hệ của các từ, nó không những có mối quan hệ tường thuật với
từ chỉ chủ thể mà còn có quan hệ chính phụ với những từ chỉ đối tượng, chỉ
hoàn cảnh, trạng thái ” [34, tr.97]. Động từ ba diễn tố là một tiểu loại của
động từ nhưng trước khi tìm hiểu về nó, ta cần có một cách hiểu khái quát về
động từ với những đặc điểm chính sau đây:
Theo “Từ điển tiếng Việt”, động từ là “từ chuyên biểu thị hành động,
trạng thái hay quá trình, thường làm vị ngữ trong câu”. [25, tr.346].
Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, tác giả Diệp Quang Ban cho rằng:
“Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình – ý nghĩa quá
trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể. Đó là ý nghĩa hành
động, ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động
của thực thể trong thời gian và không gian”. [2, tr.90]
Như vậy, căn cứ vào các định nghĩa về động từ của các tác giả nêu
trên, ta có thể đưa ra cách hiểu khái quát về động từ như sau: Động từ là một
từ loại thực từ dùng để chỉ hoạt động (hành động hay trạng thái) của sự vật,
hiện tượng.
1.1.2. Cách xác định động từ
1.1.2.1. Dựa vào ý nghĩa
Như trên đã trình bày, Động từ là một loại thực từ dùng để chỉ hoạt
động (hành động hay trạng thái) của sự vật, hiện tượng, vì vậy, khi xác định
động từ, cần dựa vào chức năng này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
9
Khi một chức vụ cú pháp nhất định, động từ thường có khả năng thay
thế bằng các từ nghi vấn hoặc trả lời cho câu hỏi: làm gì? làm sao?
Tóm lại, động từ là một loại thực từ cơ bản trong kho từ vựng của bất
kì một ngôn ngữ nào. Ý nghĩa khái quát của động từ là chỉ hoạt động của sự
vật, hiện tượng trong thế giới khách quan cũng như trong đời sống tinh thần
con người. Động từ có khả năng kết hợp về phía trước với các phụ từ thời thể,
về phía sau với các phụ từ chỉ sự hoàn thành, kết thúc sự việc, chỉ hướng để
tạo thành nhóm. Chức năng cơ bản của động từ là làm vị ngữ trong câu.
1.1.3. Một số vấn đề cần chú ý khi xác định động từ
Khi xác định động từ, trước hết, ta xác định được một nhóm lớn bao
gồm những từ có đầy đủ các đặc điểm nêu trên đây của động từ. Thuộc nhóm
này là những từ kiểu như: đi, chạy, ngã, ăn, đọc, viết, trao, tặng,…Có thể gọi
những từ thuộc nhóm này là những động từ điển hình hay những động từ - thực
từ. Những động từ - thực từ tạo nên khu vực trung tâm của từ loại động từ.
Bên cạnh các động từ - thực từ còn có một nhóm không lớn bao gồm
những từ có không đầy đủ các đặc điểm nêu trên đây của động từ. Thuộc
nhóm này là những từ kiểu như: trở thành, trở nên, phải, bị, được, khiến,…
Khác với các động từ - thực từ, những từ thuộc nhóm này rất trống nghĩa từ
vựng. Chúng chỉ các hoạt động trừu tượng, khái quát (hoạt động kiểu theo
nghĩa ngữ pháp). Chính do sự trống vắng nghèo nàn về ý nghĩa từ vựng mà
về hình thức, các từ thuộc nhóm này chỉ có khả năng thay thế bằng từ nghi
vấn một cách hạn chế, có điều kiện. Khi trả lời các câu hỏi “làm gì”, “làm
sao” đặc trưng cho động từ, chúng thường phải kết hợp vào mình một thực từ
khác. Với những đặc điểm chỉ ra trên đây, các từ thuộc nhóm thứ hai rõ ràng
mang tính chất trung gian giữa động từ và hư từ. Ở đây, chúng tôi xếp chúng
vào động từ và gọi chúng là động từ - ngữ pháp. Động từ ngữ pháp chính là
nhóm động từ không điển hình tạo thành khu vực biên của từ loại động từ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
Khi xác định động từ, cũng cần lưu ý rằng những đặc điểm nêu trên
đây của động từ là thuộc tính chung của động từ với tư cách là đơn vị trừu
tượng của ngôn ngữ được khái quát từ những biến thể của nó trong lời nói.
Khi hoạt động trong lời nói, động từ luôn tồn tại dưới những biến thể cụ thể.
Trong số các biến thể của động từ có biến thể là cơ bản (điển hình) và có
những biến thể không cơ bản (không điển hình). Biến thể cơ bản là biến thể
phổ biến nhất và có đầy đủ các đặc điểm của động từ. (Chẳng hạn, trong tiếng
Nga, biến thể cơ bản của động từ thường được coi là hình thức được chia
(sprjagajemara forma) của động từ, còn biến thể không cơ bản là các hình
thức nguyên dạng, tính động từ, trạng động từ). Trong tiếng Việt, hình thức
cơ bản của động từ có thể coi là hình thức thời thể (tức là hình thức có khả
năng kèm thêm các yếu tố chỉ thời thể). Chẳng hạn, trong cấu trúc: “Tôi đang
đọc sách” và “Tôi bước vào phòng đọc sách”, “đọc” mặc dù đều là động từ
nhưng ở cấu trúc thứ nhất, nó là biến thể điển hình, còn ở cấu trúc thứ hai, nó
là biến thể không điển hình.
1.2. Vị trí của động từ ba diễn tố trong hệ thống động từ tiếng Việt
1.2.1. Cách phân loại động từ theo quan điểm truyền thống
Động từ là môt loại từ lớn bao gồm hàng vạn từ và rất không thuần
nhất. Trong nội bộ động từ, có thể phát hiện những tiểu loại, những nhóm đối
lập với nhau theo những tiêu chí nhất định. Vấn đề phân loại động` từ được
nhiều chuyên khảo đề cập đến. Dưới đây là một số cách phân loại truyền
thống thường gặp:
1.2.1.1. Cách phân loại dựa vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp:
Theo cách phân loại này, có thể xác định trong nội bộ động từ những
diện đối lập chính sau:
a. Trước hết, đó là sự đối lập giữa động từ thực từ và động từ ngữ
pháp (động từ bán thực từ, bán hư từ)
thức đặc trưng của từng tiểu loại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
1.2.1.2. Phân loại động từ dựa vào đặc điểm chi phối
Sự chi phối của động, từ theo cách hiểu chung, (áp dụng cho cả ngôn
ngữ biến hình và ngôn ngữ không biến hình) là khả năng của động từ đòi hỏi
sự có mặt và quy định đặc tính (ý nghĩa và hình thức) của các bổ ngữ.
Theo cách phân loại này, động từ được chia thành hai loại chính: động
từ nội hướng (nội động) và động từ ngoại hướng (ngoại động). Động từ nội
hướng là động từ không chi phối bổ ngữ (Thí dụ: nằm, đứng, ngủ, thức, ).
còn động từ ngoại hướng là động từ có khả năng chi phối các bổ ngữ (Thí dụ:
ăn, viết, đánh, đọc, ). Tuy nhiên, cũng như sự đối lập giữa các nhóm động từ
phân loại theo ý nghĩa và hình thức ngữ pháp, sự đối lập giữa động từ nội
hướng và động từ ngoại hướng trong cách phân loại này không hẳn rõ ràng và
dứt khoát. Bằng chứng là giữa hai nhóm động từ này vẫn tồn tại nhóm động
từ trung tính (Thí dụ: tan, cháy, lắc, gật, ).
1.2.2. Cách phân loại động từ theo lý thuyết kết trị
1.2.2.1. Vài nét về lý thuyết kêt trị
a, Thuật ngữ kết trị
Thuật ngữ kết trị (hóa trị, ngữ trị, tiếng Pháp: valence, tiếng Nga:
valentnost) vốn được dùng trong hóa học để chỉ thuộc tính kết hợp của các
nguyên tử với một số lượng xác định các nguyên tử khác. Thuật ngữ này mới
chỉ được dùng rộng rãi trong ngôn ngữ học từ cuối những năm bốn mươi của
thế kỉ xx để chỉ khả năng kết hợp của các lớp từ hoặc các lớp hạng đơn vị
ngôn ngữ nói chung.
b, Ngữ pháp phụ thuộc của L. Tesnière – cơ sở của lý thuyết kết trị.
Người khởi xướng lí thuyết kết trị là L. Tesnière, nhà ngôn ngữ học nổi
tiếng người Pháp. Những tư tưởng về lý thuyết kết trị được L. Tesnière trình
trình bày trên đây, L. Tesnière cũng lưu ý đến tính chất một chức năng của
yếu tố phụ thuộc: “Về nguyên tắc, không một yếu tố phụ thuộc nào có thể
phụ thuộc vào hơn một yếu tố chính. Ngược lạị, yếu tố chính có thể chi phối
một vài yếu tố phụ thuộc” [28, tr.25]. Chẳng hạn, trong câu Mon vierl ami
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
chante cette jolie chanson (Người bạn già của tôi hát bài hát tuyệt vời này),
từ chings (hát) chi phối hai từ là ami (bạn) và chanson (bài hát) trong khi với
các từ phụ thuộc, mỗi từ chỉ phụ thuộc vào một từ duy nhất mon (tôi) và vierl
(già) phụ thuộc vào ami (bạn), ami (bạn) phụ thuộc vào chante (hát), cette
(này) và jolie (tuyệt vời) phụ thuộc vào chanson (bài hát) phụ thuộc vào
chante (hát). [28, tr.25].
Tư tưởng về tính phụ thuộc trong cú pháp mặc dù không hoàn toàn mới
nhưng cái mới ở L. Tesnière là tính phụ thuộc được đưa lên thành nguyên tắc
hàng đầu của cú pháp: Ở L. Tesnière, cấu trúc của câu được xác định bởi toàn
bộ các mối quan hệ cú pháp phụ thuộc giữa các thành tố của nó. Khác với
ngữ pháp học truyền thống trong đó có sự thừa nhận rộng rãi quan niệm về
tính hai đỉnh cú pháp của câu (chủ ngữ, vị ngữ), tư tưởng ngữ pháp phụ thuộc
của L. Tesnière mà hạt nhân là lý thuyết kết trị chỉ xác định trong câu một
đỉnh cú pháp duy nhất (tương đương với vị ngữ truyền thống). Đó là trung
tâm của nút mà ở câu động từ, đó là động từ. Quan niệm này, theo L. Tesnière,
thực sự xuất phát từ mặt cấu trúc (mặt ngữ pháp), khác với quan niệm truyền
thống thường xuất phát từ mặt logic hoặc ngữ nghĩa [28, tr.118 - 124]
c, Khái niệm nút, nút động từ, diễn tố (actant), chu tố (circonstant)
Theo quan niệm của L. Tesnière, mỗi yếu tố chính mà ở nó có một hay
một vài yếu tố phụ lập thành cái ông gọi là nút (tiếng Pháp: noeut, tiếng Nga:
uzel). Nút được L. Tesnière xác định là “tập hợp bao gồm từ chính và tất cả
các từ trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào nó” [28, tr.25]. Nút được tạo
động từ đòi hỏi và việc lược bỏ chúng sẽ làm cho nghĩa của động từ trở nên
không xác định.
- Về hình thức, chúng được biểu hiện bằng các danh từ hoặc các yếu tố
tương đương. (Các yếu tố này theo L. Tesnière, gồm đại từ, động từ nguyên
dạng và mệnh đề phụ bổ ngữ mà ông gọi là mệnh đề phụ diễn tố).
Các diễn tố (actants) được L. Tesnière phân loại dựa vào chức năng
khác nhau mà chúng thực hiện theo mối quan hệ với động từ. Dựa vào số
lượng chức năng (và cũng là số lượng tối đa diễn tố có thể có bên động từ), L.
Tesnière xác định ba kiểu diễn tố mà ông gọi tên theo số thứ tự: diễn tố thứ
nhất, thứ hai và thứ ba. Về nguyên tắc, số thứ tự của diễn tố không bao giờ
vượt quá số lượng diễn tố phụ thuộc vào động từ. Chẳng hạn, động từ không
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
diễn tố không thể chi phối bất kì diễn tố nào, động một diễn tố không thể chi
phối diễn tố thứ hai và thứ ba, động từ hai diễn tố không thể chi phối diễn tố
thứ ba. Như vậy, diễn tố thứ nhất có thể gặp trong câu gồm một, hai và ba
diễn tố. Diễn tố thứ hai có thể gặp trong câu có hai và ba diễn tố còn diễn tố
thứ ba chỉ có thể gặp trong câu có ba diễn tố [28, tr.123].
Diễn tố thứ nhất từ góc độ ngữ nghĩa, chính là diễn tố chỉ kẻ hành động
và chính vì vậy, trong ngữ pháp học truyền thống, nó được gọi là chủ thể
(sujet) L. Tesnière đề nghị giữ lại thuật ngữ này. Trong câu Alfred parle
(Anphret nói), Anphret từ góc độ cấu trúc là diễn tố thứ nhất, từ góc độ ngữ
nghĩa chỉ chủ thể của hành động nói.
Diễn tố thứ hai về cơ bản, phù hợp với bổ ngữ đối thể trong ngữ pháp
học truyền thống. L. Tesnière đề nghị gọi đơn giản là đối thể. Chẳng hạn trong
câu Alfred frappe Bernard (Anphret đánh Bécsna), Bécsna về mặt cấu trúc là
diễn tố thứ hai, về mặt nghĩa chỉ đối thể của hành động. Khi so sánh diễn tố
chủ thể (chủ ngữ) với diễn tố đối thể (bổ ngữ), L. Tesnière lưu ý rằng chúng
trong câu, các trạng từ luôn đảm nhiệm chức năng chu tố [28, tr.118].
Chẳng hạn, trong câu Alfred parl bien (Anphret nói hay), từ bien (hay)
là chu tố. Lược đồ của câu này như sau:
Parl
Alfred bien
Về chức năng, cũng như diễn tố, chu tố phụ thuộc trực tiếp vào động
từ. Quan niệm này của L. Tesnière khác với quan niệm truyền thống coi trạng
ngữ là thành phần phụ của cả nòng cốt câu (chủ ngữ, vị ngữ).
d, Khái niệm kết trị và các kiểu kết trị của động từ
* Khái niệm kết trị
Trong khuôn khổ của vấn đề quan hệ cú pháp (được trình bày trong
phần 1 của cuốn sách), sau khi đã đề cập và luận giải nhiều khái niệm quan
trọng liên quan đến lí thuyết kết trị như quan hệ cú pháp, sự phụ thuộc, nút
động từ, diễn tố, chu tố…, L. Tesnière dành chương 97 (kết trị và dạng) để
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
trình bày về khái niệm kết trị. Theo L. Tesniere, cũng giống như sự tồn tại
của các kiểu diễn tố khác nhau (diễn tố thứ nhất, thứ hai, thứ ba), thuộc tính
của động từ chi phối các kiểu diễn tố được phân biệt dựa vào chỗ chúng chi
phối một, hai hay ba diễn tố. Ông viết: “Có thể hình dung động từ ở dạng
nguyên tử với những cái móc có thể hút vào mình một số lượng diễn tố phù
hợp với số lượng móc mà nó có để giữ bên mình các diễn tố này - số lượng
các móc có ở động từ và số lượng diễn tố mà nó có khả năng chi phối lập
thành bản chất của cái mà chúng tôi sẽ gọi là kết trị của động từ (valence
verbe)” [28, tr.250]. Như vậy theo cách hiểu của L. Tesnièrre, kết trị của động
từ chính là thuộc tính hay khả năng của động từ thu hút vào mình một số
lượng nhất định các diễn tố tương tự như khả năng của nguyên tử kết hợp với