các phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp” trong tiếng việt (có so sánh với tiếng anh) - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHẠM HÙNG DŨNG

CÁC PHƯƠNG TIỆN THỂ HIỆN
Ý NGHĨA “CỰC CẤP”
TRONG TIẾNG VIỆT
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2012


ii

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHẠM HÙNG DŨNG

CÁC PHƯƠNG TIỆN THỂ HIỆN
Ý NGHĨA “CỰC CẤP”
TRONG TIẾNG VIỆT
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 62 22 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN



− PTCC:

Phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp”

− T:

Vị từ trạng thái thang độ

− Tc:

Vị từ trạng thái cực cấp

2. Trong phần nguồn gốc các cứ liệu trích dẫn, tên của các báo, tạp chí được
viết tắt như sau:
− ANTG:

An ninh thế giới

− ANTGCT:

An ninh thế giới cuối tháng

− CA. TP.HCM: Công an TP. Hồ Chí Minh
− LĐ:

Lao động

− NLĐ:



− TTCN:

Tuổi trẻ chủ nhật

− TT. TP.HCM:

Thể thao TP. Hồ Chí Minh

− TT&VH: Thể thao & Văn hóa
− VN:

Văn nghệ

− VNQĐ:

Văn nghệ Quân đội


3

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ (1.1): Thang độ màu đen theo hai cực đối lập ....................................... 22
Sơ đồ (1.2): Thang độ “chiều cao” theo hai cực đối lập ................................. 35
Sơ đồ (1.3): Trục thang độ ............................................................................... 38
Sơ đồ (1.4): Thang độ năng lực và thang nhiệt độ trong tiếng Anh ................ 40
Sơ đồ (1.5): Thang độ dài có hai dải mức độ đối lập ngắn − dài.................... 41
Sơ đồ (1.6): Thang độ dài có hai dải mức độ đối lập dài – ngắn và dải mức
độ không ngắn cũng không dài .................................................... 42

khối ................................................................................................... 128
Hình (3.2): Điểm nhìn không thể định vị trong không gian tận chân trời ..... 128
Hình (3.3): Điểm nhìn có thể định vị trong vật chứa có tính hình khối lớn
theo định hướng không gian phía trước mặt ............................... 133
Hình (3.4): Điểm nhìn định vị được ở trên cao ................................................. 138
Hình (3.5): Điểm nhìn định vị được ở đường chân trời ................................... 138
Hình (3.6): Điểm nhìn định vị được ở đáy vật chứa có tính hình khối…….. 139


6

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................. 1
QUY ƯỚC VIẾT TẮT ..................................................................... 2
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ............................................................... 3
DANH MỤC CÁC BẢNG ................................................................ 4
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ .......................................................... 5
MỤC LỤC .......................................................................................... 6
MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 1
3. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 2
4. Lịch sử vấn đề ................................................................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu ................................................ 17
6. Bố cục luận án............................................................................................... 18

Chương 1: Ý NGHĨA “CỰC CẤP” VÀ VỊ TỪ TRẠNG THÁI
GẮN VỚI Ý NGHĨA “CỰC CẤP” TRONG TIẾNG VIỆT ...... 20
1.1. Ý nghĩa “cực cấp” – khái niệm cơ sở của đề tài ........................................ 20
1.2. Vị từ trạng thái tiếng Việt .......................................................................... 27

2.2.3. Ngữ đoạn ghép hai ngữ đoạn có vị từ trạng thái cực cấp với hình thức ràng
buộc ....................................................................................................................... 85
2.2.4. Phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp” là ngữ đoạn có từ chỉ mức độ cực
cấp .......................................................................................................................... 86
2.2.5. Phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp” là ngữ đoạn có yếu tố tình thái .... 88

2.3. Phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp” là thành ngữ ............................... 90
2.3.1. Thành ngữ có yếu tố so sánh thể hiện ý nghĩa “cực cấp”............................ 91
2.3.2. Thành ngữ không có yếu tố so sánh thể hiện ý nghĩa “cực cấp” ................ 96

2.4. Các biện pháp tu từ thường dùng thể hiện ý nghĩa “cực cấp” ................. 103
2.4.1. Ẩn dụ ......................................................................................................... 103
2.4.2. Nói quá ...................................................................................................... 109

2.5. Tiểu kết .................................................................................................... 110

Chương 3: CÁC PHƯƠNG TIỆN THỂ HIỆN Ý NGHĨA “CỰC
CẤP” TRONG TIẾNG VIỆT XÉT TRÊN BÌNH DIỆN TRI
NHẬN ............................................................................................. 113
3.1. Bức tranh thế giới và ý nghĩa “cực cấp” .................................................. 113
3.2. Các phạm trù tri nhận gắn với các phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp”
......................................................................................................................... 114
3.3. Đặc điểm tri nhận của những phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp” ... 123
3.3.1. Đặc điểm tri nhận của phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp” là vị từ trạng
thái cực cấp .......................................................................................................... 127


8

3.3.2. Đặc điểm tri nhận của các phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp” là ngữ

Tính chất, trạng thái vượt quá ngưỡng bình thường, phổ biến có thể nhận
diện ở mức độ: mức độ thấp, mức độ cao hoặc ở mức độ cực cấp, trong đó
cực cấp là mức độ mà hiện tượng vượt quá ngưỡng đạt đến mức tối đa.
Trên thế giới, ngôn ngữ nào cũng có những phương tiện từ vựng và/ hoặc
ngữ pháp thể hiện tính chất, trạng thái của SV/ HT ở mức độ cực cấp.
Chúng tôi gọi đó là các phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp”.
Trong tiếng Việt có rất nhiều phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp”
khá độc đáo nhưng, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề
này một cách thấu đáo, có hệ thống. Vì lẽ đó, luận án chọn đề tài Các
phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp” trong tiếng Việt (có so sánh với
tiếng Anh).
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiên cứu các phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp” (từ đây
gọi tắt là PTCC) trong tiếng Việt của luận án sẽ góp phần giải quyết một số
vấn đề về lí luận và thực tiễn, nhất là trong lĩnh vực dạy và học ngôn ngữ.
Luận án hệ thống hóa và khảo sát các PTCC trong tiếng Việt nhằm
phân tích đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa của chúng. Qua đó luận án làm rõ
một số khía cạnh về đặc điểm loại hình của tiếng Việt, cũng như đặc điểm
tri nhận của người Việt thể hiện qua cách dùng các phương tiện hữu quan.
Luận án phân tích cấu trúc, ý nghĩa tri nhận của các PTCC nhằm góp
phần vào việc dạy học tiếng Việt nói chung và PTCC nói riêng trong nhà
trường phổ thông. Phần đối chiếu với tiếng Anh sẽ cho ta một bức tranh


2

đầy đủ về những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ trong lĩnh vực
các PTCC. Kết quả phân tích sẽ góp phần vào lĩnh vực dạy và học tiếng
Việt và tiếng Anh như những ngoại ngữ.
3. Đối tượng nghiên cứu

soggy (ướt mèm/ nhẹp/ sũng), freezing (lạnh cóng/ buốt), v.v..
Tương tự, trong tiếng Pháp, người ta dùng trạng từ chỉ mức độ cao
nhất (plus) và thấp nhất (moins) có mạo từ xác định đứng trước như le/ la/
les plus/ moins hoặc các trạng từ như très, bien, fort, tout à fait,
extrêmement, v.v. đặt trước tính từ để thể hiện ý nghĩa “cực cấp”. Ví dụ:
– le plus grand (cao nhất);
– la moins gentille (xấu nhất);
– très ordonné (rất ngăn nắp);


3

– bien malade (rất nguy kịch); v.v..
Giống như tiếng Anh, trong tiếng Pháp cũng có những đơn vị từ vựng
biểu hiện ý nghĩa “cực cấp”, như richissime (giàu cực kỳ), minime (nhỏ
xíu), ultime (tối hậu), archicomble (đầy ắp/ đông nghẹt), extra–fort (cực
chắc), v.v..
Trong tiếng Ý, ý nghĩa “cực cấp” có các cách diễn đạt:
a) thêm các hậu tố –issimo sau tính từ, chẳng hạn: candido (trắng) →
candidissimo (trắng như tuyết); stanco (mệt) → stanchissimo (mệt đừ);
vecchio (cũ) → vecchissimo (cũ mèm), v.v.;
b) đặt các trạng từ chỉ mức độ cực cấp (như molto/ assai (rất),
incredibilimente (cực kỳ), v.v.) trước tính từ, chẳng hạn: Michele è molto
simpatico (Michele rất xinh);
c) đặt các tiền tố arci–, stra–, super–, ultra–, extra–, sovra– trước tính
từ, như L’autobus era sovraffollato (Xe buýt đông nghẹt người);
d) lặp lại tính từ, ví dụ: Ho un cane piccolo piccolo (Tôi có con chó
nhỏ xíu).
e) thêm một tính từ cùng nghĩa với chức năng bổ nghĩa cho tính từ
chính, chẳng hạn: Sono stanco morto (Tôi mệt đừ). Era bagnato fradicio

xác, nghèo lõ đít, nghèo rớt mồng tơi, v.v.; giàu sụ, giàu xộn, giàu nứt đố
đổ vách, giàu như Thạch Sùng, v.v.. Có thể thấy mỗi PTCC đều miêu tả,
nhận định biểu hiện sự tri nhận với những sắc thái biểu cảm khác nhau về
tính chất nghèo/ giàu. Đặc điểm của các PTCC trong tiếng Việt xét trên
bình diện cấu trúc, ý nghĩa và qua lăng kính đối chiếu với các PTCC trong
tiếng Anh chính là đối tượng nghiên cứu của luận án này.
4. Lịch sử vấn đề
Như đã trình bày, ý nghĩa “cực cấp” trong tiếng Việt được thể hiện
bằng nhiều PTCC khác nhau, được các nhà ngôn ngữ học trong nước và
ngoài nước lưu tâm, nhưng cho đến nay, các nhà Việt ngữ học chỉ trình bày


5

rải rác trong các công trình nghiên cứu về từ vựng ngữ nghĩa, ngữ pháp
tiếng Việt ở nhiều góc độ khác nhau, và các ý tưởng khoa học này chỉ mang
tính khái quát, gợi ý. Có thể nói vấn đề này còn để ngỏ.
4.1. Ngoài nước
Léopold Cadière (1957) đã phân tích ý nghĩa “cực cấp” trong tiếng
Việt từ khá sớm. Theo ông, trong tiếng Việt có ba loại ý nghĩa “cực cấp”:
1) cực cấp tương đối (superlatif relatif) là sự kết hợp của các đơn vị như
nhứt, nhứt hạng, hơn cả, hơn hết đứng sau các tính từ trong các hình thức
có so sánh như tốt nhứt/ nhứt hạng, giàu hơn cả/ hết, v.v.; 2) cực cấp tuyệt
đối (superlatif absolu) là sự kết hợp của các đơn vị rất, quá, lắm, cực đứng
trước hoặc sau các tính từ trong các hình thức rất/ cực đẹp, đẹp lắm/ quá,
v.v.; và 3) cực cấp vượt ngưỡng (superlatif excessif) là sự kết hợp với các
yếu tố cực cấp tuyệt đối quá, lắm được mở rộng như quá đi, quá sức, quá
lẽ, hung lắm, dữ lắm, v.v. đặt sau các tính từ để có các hình thức như tốt
quá đi, tốt quá sức, tốt quá lẽ, tốt hung lắm, tốt dữ lắm, v.v. [142, tr. 42 –
43].

của 9 phương thức thể hiện ý nghĩa “cực cấp” tuyệt đối. Tác giả nhận xét
đặc điểm ngữ pháp của những yếu tố bổ nghĩa trong các phương thức, kết
cấu và cũng nêu rõ từng loại ý nghĩa của các bổ tố là: mức độ (rất, lắm),
tăng cường sắc thái cảm thán (thật, quá), láy tăng cường (sết sệt, cứng
cựng, khỏe khỏe là, khổ khổ là, v.v.), láy nhấn mạnh (hớt ha hớt hải, lôi
tha lôi thôi, ba khùng ba khịa, bù lem bù luốc, v.v.), miêu tả (đầy ắp, chua
lét, sáng lòa, rộng mênh mông, thấp lè tè, v.v.) [53, tr. 61 – 85]. Do chỉ liệt
kê nên tác giả đã chưa phân tích rõ các PTCC. Chẳng hạn, tác giả chưa nêu
rõ đặc điểm quan hệ giữa các PTCC, như: cóng và lạnh cóng; ắp và đầy ắp;
mênh mông và rộng mênh mông, lênh khênh và cao lênh khênh; cỏn con và
cỏn còn con, sát sạt và sát sàn sạt, v.v.. Và tác giả cũng chưa đề cập đến
các PTCC, như: a) từ: ắp, đanh, đầm, đẫm, sũng, hệt, khú, lền, mạt, ngát,


7

ngầu, ngất, ngời, ngồng, meo, phờ, quánh, rộc, thẳm, thoắt, tít, tẹo, trĩu, ú,
ù, xíu, v.v.; b) ngữ láy: mênh mông, lênh khênh, v.v.; c) thành ngữ: nghèo
rớt mồng tơi, dốt đặc cán mai, gan cóc tía, bé hạt tiêu, v.v.; d) và hiện
tượng dùng các biện pháp tu từ để biểu hiện ý nghĩa “cực cấp”, như rét cắt
da cắt thịt, thương đứt ruột, sợ tím mặt, v.v. (ẩn dụ); hay buồn chết đi được,
mệt thấy ông bà ông vải, v.v. (nói quá).
4.2. Trong nước
Có thể thấy, các nhà nghiên cứu nước ngoài có những nhận định về
các PTCC trong tiếng Việt nhưng những ý kiến này có tính khái quát, sơ
lược, chưa đầy đủ. Tương tự, ở trong nước, các nhà nghiên cứu cũng quan
tâm đến các PTCC nhưng với những ý kiến khá tổng quát, tựu trung là: a)
thống kê, nhận định mang tính gợi ý về một hay nhiều PTCC hay các hình
thức liên quan đến ý nghĩa “cực cấp”; b) bàn đến các hình thức vốn là
PTCC nhưng không xác định ý nghĩa “cực cấp”.

đẳng cấp. “Tuyệt đối tối cao đẳng cấp chỉ đẳng cấp rất cao, không có ý
nghĩa so sánh gì cả” là các ngữ có trạng từ được đánh dấu phía trước tĩnh từ
như cực, chí, tối, đại, v.v. trong cực giỏi, chí thiện, tối linh, đại tài, v.v.
hoặc phía sau tĩnh từ như hay vô cùng, nhiều vô số, v.v. và đồng thời coi
lắm, rất, quá cũng có ý nghĩa như vậy mà chưa phân biệt lắm, rất, quá là
các hình thức đánh dấu mức độ cao. “Tỉ hiệu tối cao đẳng cấp chỉ cái bậc
hơn nhất hay kém nhất của một người hay một vật trong sự so sánh” của
một tập hợp, nghĩa là trong đó nếu tính chất, trạng thái của SVHT ở “bậc
tối cao thì có những tiếng nhất, hơn cả, hơn hết cả, v.v. đứng sau tiếng tĩnh
từ” và nếu ở “bậc tối thấp, thì có những tiếng bét, kém nhất, kém hơn cả,
v.v. đứng sau tiếng tĩnh từ” [88, tr. 84 – 86]. Sự phân biệt này chính là dựa
theo cách phân loại hai mức độ cực cấp (superlative degree), đó là cực cấp
tương đối (relative superlative) và cực cấp tuyệt đối (absolute superlative)
trong các ngôn ngữ Ấn Âu.


9

Hồ Lê (1976), khi đề cập đến các hình thức cũ rích, đầy ắp, trắng hếu,
v.v., tác giả không xác định đây là PTCC mà định danh chúng với ý nghĩa
tương tự là “từ ghép biểu thị mức độ hết sức cao kèm theo sắc thái biểu
cảm”. Theo đó, với quan điểm “trong tiếng Việt nguyên vị là đơn vị ngữ
pháp cơ sở, từ đó tạo ra từ đơn, từ tố; rồi từ tố lại tạo ra từ ghép, v.v.”, tác
giả coi các đơn vị au, ắp, bóc, bươm, cộp, củn, choang, choèn, chót, hếu,
hiu, hoảnh, hoắc, hoắm, hoắt, hoe, khấc, lè, lốp, lự, mèm, muốt, múp, trịch,
vánh, xóa, xợt, v.v. là các “nguyên vị hệ thống phụ thuộc không lấp láy”
[40, tr. 126 – 154]. Chúng được ghép với nguyên vị thực theo mẫu “nguyên
vị thực + nguyên vị hệ thống phụ thuộc không lắp láy” tạo hình thức diễn
đạt kiểu như cũ rích, đầy ắp, trắng hếu, v.v. để “biểu thị mức độ hết sức
cao của tính chất cũ, đồng thời cũng biểu thị một sắc thái tình cảm nhất

đục ngầu, v.v. [14, tr. 12 – 18] và được coi là tính từ đã xác định, không thể
kèm theo bổ tố mức độ rất, cực, cực kì, hơi, v.v. [14, tr. 87]. Đồng thời,
cực, cực kì, v.v. là bổ tố “đặt trước tính từ để chỉ mức cao nhất của trạng
thái”, “coi như không thể hơn được nữa”, tức mang ý nghĩa “cực cấp” [14,
tr. 136]. Đối với các ngữ láy như phênh phếch, lênh khênh, lè tè, lòm lòm,
v.v. trong các hình thức bạc phênh phếch, cao lênh khênh, thấp lè tè, đỏ
lòm lòm, v.v. tác giả xem đó là cụm tính từ miêu tả có hình thức tăng cường
nhấn mạnh về mặt nghĩa [14, tr. 266]. Ngoài ra, đối với ngữ láy ba, tác giả
gọi là hình thức láy nhiều tầng, “hình thức láy lại càng dài thì ý nghĩa của
nó càng được nhấn mạnh” [14, tr. 199]. Có thể thấy, tác giả nêu những hình
thức diễn đạt có liên quan đến ý nghĩa “cực cấp” và cho rằng các hình thức
diễn đạt này thể hiện ý nghĩa tăng cường hoặc nhấn mạnh để “chỉ mức cao
nhất của trạng thái”, “coi như không thể hơn được nữa”.
Lê Cận – Phan Thiều (1983) cũng như Ủy Ban Khoa Học Xã Hội
(1983) gọi các hình thức rộng thênh thang, đẹp lộng lẫy, hết sức giỏi/ giỏi
hết sức, v.v. là tính ngữ có các phụ tố thênh thang, lộng lẫy, v.v. với tác


11

dụng miêu tả vừa sắc thái vừa mức độ tuyệt đối của tính chất. Các phụ từ
dùng làm phụ tố loại này như hết sức, vô cùng, cực kỳ, v.v. có thể đặt trước
hoặc sau tính ngữ [47, tr. 151], [98, tr. 147 – 151].
Cao Xuân Hạo (1998) xác định: “Các yếu tố ràng buộc tuyệt đối còn
xuất hiện sau một số vị từ làm thành những tổ hợp có mô hình trọng âm
[01] như say mèm, sáng trưng, đỏ lòm, hôi rình, đắng nghét, v.v.. Đó là
những trạng ngữ chỉ mức tối cao (superlatif) của các tính/ vị từ đi trước,
kèm thêm một sắc thái biểu cảm nhất định và/ hay một ý nghĩa ấn tượng”.
Có thể nói, tác giả đã nói đến ý nghĩa “cực cấp” được thể hiện trong hình
thức say mèm, sáng trưng, đỏ lòm, hôi rình, đắng nghét, v.v. Tác giả giải

đệm cho nhau để nảy ra nghĩa”, nên tác giả xem các tiếng như dờn, dượi,
khè, hoe, hỉm, ngắt, rợi, um, v.v. trong các hình thức như xanh dờn, buồn
dượi, vàng khè, vàng hoe, ấm hỉm, vắng ngắt, mát rợi, xanh um, v.v. và
các tiếng láy trong hình thức như sành sanh (sạch sành sanh), khòe khoe
(khỏe khòe khoe), dửng dừng (dửng dừng dưng), v.v. là tiếng đệm có chức
năng “phó từ làm lọn nghĩa cho từ căn đi kèm theo” và phân biệt nghĩa của
các từ cùng từ căn như xanh rì, xanh um, xanh dờn, xanh ngắt, v.v. [84, tr.
59 – 74].
Trương Văn Chình – Nguyễn Hiến Lê (1963) xem các trạng từ1 như
nhẹ, đỏ, sạch, khít, v.v. chỉ diễn đạt một ý đơn giản là nhẹ, đỏ, sạch, khít,
v.v.; và các từ kép, như nhẹ nhàng, nhẹ nhẻ nhè diễn đạt diễn tả ý nhẹ của
trạng từ nhẹ; hay khập khà khập khiễng cũng diễn tả ý khiễng của trạng từ
khiễng, v.v. Chính vì thế, các tác giả cho rằng ngữ láy chỉ tính chất, trạng
thái là từ kép do sự điệp âm, điệp từ mà ra và chỉ diễn đạt nghĩa mạnh hơn
của từ đơn gốc, như xốp xộp (xốp lắm), khít khịt (khít lắm), sết sệt (sệt lắm),
v.v. hoặc diễn đạt nghĩa nhẹ hơn của từ đơn gốc, như xôm xốp (hơi xốp),
khin khít (hơi khít), sền sệt, (hơi sệt), v.v. [94, tr. 61 – 95]. Đặc biệt, đối với
Dựa vào tính chất động và tĩnh, hai ông gọi các từ đơn chỉ hành động, tính chất, trạng thái là trạng từ
(Trương Văn Chình – Nguyễn Hiến Lê 1963: 119 – 182).
1


13

các hình thức do hai từ đơn trở lên ghép với nhau chỉ một sự vật hay sự
trạng được các tác giả khẳng định là ngữ. Các hình thức diễn đạt kiểu như
đỏ ối, đỏ bừng, tái mét, đông nghịt, v.v. có hai yếu tố: trạng từ chính (đỏ,
tái, đông, v.v.) và hình dung từ (ối, bừng, mét, nghịt, v.v.) bổ nghĩa cho
trạng từ chính, “kết hợp với nhau chặt chẽ gần như là một ngữ” [94, tr. 244
– 257]. Đây là sự khẳng định về cấu trúc của một ngữ thể hiện ý nghĩa “cực

cũng có hình thức láy như sáng vằng vặc, trần trùng trục,v.v. là tính từ ở
cấp tuyệt đối” [59, tr. 270].
Đỗ Hữu Châu (1981) coi “xanh lè, xanh om, xanh rì, thẳng đuột,
thẳng đơ, thẳng tắp, sưng vù, sưng vếu, v.v. là từ ghép một chiều có lè, om,
rì, đuột, đơ, tắp, vếu, v.v. là các hình vị phân nghĩa và xanh, thẳng, sưng,
tròn, v.v. là hình vị chỉ loại lớn”. “Các từ ghép phân nghĩa này có tác dụng
sắc thái hóa các hình vị chỉ loại lớn” và các hình vị phân nghĩa thường mất
nghĩa vì theo “phân tích từ nguyên cho thấy ít nhiều chúng đồng nghĩa hoặc
liên quan về ngữ nghĩa với ý nghĩa của hình vị chỉ loại lớn”. Từ đó tác giả
khẳng định “các ngữ cố định mà từ trung tâm nằm ngay trong ngữ thì đồng
nghĩa một cách hiển nhiên với từ sẵn có” [21, tr. 48 – 68], như: thẳng ruột
ngựa đồng nghĩa với thẳng; chậm như rùa đồng nghĩa với chậm; yếu như
sên đồng nghĩa với yếu; dai như chão, dai như đĩa đói, dai như chó nhai giẻ
rách đồng nghĩa với dai; v.v..
Cù Đình Tú (1983), trên phương diện phong cách học, xác định đặc
điểm cấu trúc các hình thức ngon ơ, mốc thếch, trắng dã, v.v. là khẩu ngữ
có “yếu tố 2 thêm vào vốn không có nghĩa đứng riêng, vốn không phải là
một từ độc lập nhưng khi thêm vào thì làm cho đơn vị mới trở thành từ
khẩu ngữ, mang tính miêu tả cụ thể, sắc thái biểu cảm âm tính” [9, tr. 134].
Hoàng Văn Hành (1991) nhận thấy “các đơn vị như au, ngắt, lè, v.v.
là những đơn vị từ vựng biểu thị thuộc tính của thuộc tính, (…) chuyên làm
chức năng phụ nghĩa bậc hai”, diễn đạt “mức độ cao” với “hai nét nghĩa là:


15

với một vẻ nào đó, gây một cảm giác nhất định tùy theo sự bình giá của
người nói” như (đỏ) au “là (đỏ) ở mức độ cao, với vẻ tươi, nhìn thấy thích
mắt”. Từ đó tác giả kết luận các đơn vị như au, ngắt, lè, v.v. là từ vì chúng
“có hai đặc trưng cơ bản và tổng quát là: a) chúng có tính độc lập tương đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status