Phương thức biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng hàn ( so sánh với tiếng Việt ) - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH JEONG MU YOUNG
PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN
Ý NGHĨA THỜI GIAN TRONG TIẾNG HÀN
(SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh-2008

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

JEONG MU YOUNG

Tôi xin trân trọng gửi lời cám ơn đến Ban Giám hiệu Khoa Ngữ văn, Phòng
Sau Đại học trường Đại học Sư phạm, TP
.HCM.
Tôi xin kính gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô Khoa Ngữ văn
- những người đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong những năm học đại học và
cao học, những người đã truyền đạt kiến thức và luôn sẵn sàng tạo mọi điều kiện
để giúp tôi
có thể hoàn thành được chương trình học và luận văn.
Tôi thành thật biết ơn PGS.TS. Dư Ngọc Ngân, cô đã tận tình hướng dẫn tôi
chọn hướng nghiên cứu và hoàn thành luận văn cao học.
Jeong Mu Young MỤC LỤC
Lời cảm ơn …………………………………………………………………….1
Mục lục ………………………………………………………………………...2
MỞ ĐẦU
……………………………………………………………………..4
0.1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu…………………………………4
0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………………….5
0.3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………………………….5
0.4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………..15
0.5. Cấu trúc của luận văn……………………………………………………...16
NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ Ý NGHĨA
THỜI GIAN ĐẶC ĐIỂM CÚ PHÁP TIẾNG HÀN

1.1. Những cơ sở lý thuyết……………………………………………………..18
1.1.1. Vấn đề chung…………………………………………………………….18
1.1.2. Ý nghĩa “Thời (

………………………………………………………………………………….
130 MỞ ĐẦU
0.1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Thời gian là phạm trù phổ quát của ngôn ngữ học. Ngôn ngữ nào cũng có
những phương tiện biểu thị ý nghĩa thời gian. Tuy nhiên những phương tiện biểu
thị thời gian trong các ngôn ngữ có thể khác nhau. Cách biểu thị ý nghĩa thời gian
thể hiện đặc điểm loại hình của ngôn ngữ.
Những yếu tố biểu thị thời gian xuất hiện rất phổ biến trong câu nói hàng
ngày của người Hàn và người V
iệt. Thông qua đó, người ta có thể thấy đặc điểm
tri nhận, đặc điểm tâm lý của hai dân tộc Hàn Quốc và Việt Nam. Ngôn ngữ
không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn có chức năng liên kết chặt chẽ với chính
cách thức mà trong đó con người suy nghĩ và hiểu về thế giới, vì ở mỗi người đều
có sự liên kết giữa tư duy và ngôn ngữ.
Ngôn ngữ càng phát triển, sự giao tiếp càng mở rộng thì các yếu tố biểu đạt
thời gian được sử dụng càng nhiều, càng đa dạng. Biết diễn đạt đúng những yếu
tố thời gian là một trong những yêu cầu trong chuẩn mực ngôn ngữ, vốn là vấn đề
đang được đặt ra đối với tiếng Hàn hiện nay

muốn tìm thấy những phương tiện biểu hiện thời gian đặc thù của hai ngôn ngữ.
0.3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
0.3.1. Các quan điểm nghiên cứu thì và thể trong tiếng Hàn
Trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Hàn, thì là vấn đề được sự
quan tâm của giới nghiên cứu Hàn ngữ học. Hầu hết các sách ngữ pháp tiếng Hàn
đều có nói đến ý nghĩa thì (thời) trong tiếng Hàn. Các ý kiến này có thể được tóm
tắt trong một số quan điểm mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây. Theo tiếng Hàn, trong vị từ (hoặc ngữ vị từ ) làm thành phần câu, có chia
được một thành phần thân từ có ý nghĩa từ vựng và một thành phần vĩ tố kết thúc
biểu thị ý nghĩa ngữ pháp. Trong tiếng Hàn, vị từ có thành phần vĩ tố kết thúc câu
tạo nên phạm trù ngữ pháp.
Trong tiếng Hàn, có hai quan điểm cho rằng tiếng Hàn không tồn tại phạm trù
thì và quan điểm cho rằng tiếng Hàn tồn tại phạm
trù thì. Theo quan điểm sau, lại
có hai ý kiến khác nhau:
- Tiếng Hàn có 3 thì: quá khứ, hiện tại, tương lai
- Tiếng Hàn chỉ có 2 thì: quá khứ và phi quá khứ
Sau thế kỷ 19, một số nhà truyền giáo châu Âu bắt đầu viết ngữ pháp tiếng
Hàn. Các sách ngữ pháp tiếng Hàn này cũng có nghiên cứu về thời gian nhưng
những người truyền giáo viết theo tiếng châu Âu nên không thể nói được chính
xác về thời gian được biểu hiện như thế nào trong tiếng Hàn.
Ngữ phá
p cổ điển châu Âu chia thời gian thành quá khứ, hiện tại và tương lai
và tương ứng là ba thì: thì quá khứ, thì hiện tại và thì tương lai. Việc diễn đạt thời
gian bằng phạm trù “thì “ trong các ngôn ngữ châu Âu là một điều hiển nhiên và
các ý nghĩa thời gian được ngữ pháp hóa (grammaticalized) thành những qui tắc
hình thái học bắt buộc. Thì và thể được xem là những phạm trù ngữ pháp gắn liền
với động từ, biểu hiện mối quan hệ thời gia

); thêm phụ tố trước (retrostective)
biểu thị thì: ‘
-더
-’ tiếp diễn(
알더이다
), quá khứ rất xa (
알앗더이다
), tương lai tiếp
tục(
알겟더이다
), tương lai khả năng(
알앗겟더이다
).
Sau đây là bảng tóm tắt về thì và thức của H.G. Underwood trong công trình
“Ngữ pháp Hàn-Anh”(1890)
Vĩ tố kết thúc câu (termination)

Thức biểu thị (indicative mood) Thức ý nguyện (volitive mood)

Hiện thực (fact)

Hoạt động
(action) Tĩnh trạng (static) Thì đơn
(simple tense) Thì phức (compound tense)

Thì đơn (sim
ple tense)

hiện thức. ‘
하느니라,합넨다
’ là thức trần thuật lệ thuộc(independent indicative),
dùng để giải thích ý nghĩa sự việc thường và phổ quát. Theo ông Gale, ‘
-더-
’ là
outside verbal form và theo ông Gale thức biểu thị (indicative mood) là giữa quá
khứ và hiện tại, theo ông Underwood thức biểu thị (indicative mood) là thì phức
(complex tense).
Tác giả P.A. Eckardt trong “Ngữ pháp tiếng Hàn” (1923) có phân biệt ‘thì
nguồn gốc /
본시
/Hauptzeit’ và ‘thì phụ/
부속시
/Nebenzeit’ hiện tại, dĩ thành/ hoàn
chỉnh(1), dĩ thành/hoàn chỉnh(2), tương lai(1),tương lai(2), tương lai(3). Tác giả A.A.Xolodovich trong “Ngữ pháp tiếng Hàn” (1937)là người đầu tiên
nghiên cứu về thể ngữ pháp của tiếng Hàn.
Tác giả G.J.Ramstedt trong “Ngữ pháp tiếng Hàn”(1928) là người đầu tiên
chứng minh nguồn gốc tiếng Hàn là Ural-Altaic. Động từ hình thức biến hình(an
inflectional form verb) được chia ba loại (verba finta /
정동사
), (converba
/

부동사
), vị danh từ (verbal noun /
동명사

보았더
he saw then
Tương lai
Future
보겠다
he will see Tương lai
Future
보겠더
he will see then
Theo ông Ramstedt, thì là cơ sở để tạo thức.
0.3.1.1. Quan điểm cho rằng tiếng Hàn không tồn tại phạm trù thì
Sau năm 1970 có một số công trình nghiên cứu về thì, thể, thức, phạm trù

tình thái t
rong tiếng Hàn. Các công trình này đã đưa ra được các khái niệm về thì
(tense), thể (aspect), thức (mood).
Nhà nghiên cứu Nagisim (1972) lần đầu tiên có ý kiến là trong tiếng Hàn
không có thì nhưng chỉ có thể. Theo ngữ pháp truyền thống tiếng Hàn, vĩ tố kết
thúc câu ‘-

-’ là hình thái biểu thị quá khứ (thể dĩ thành/perfect aspect), vĩ tố kết
thúc câu ‘ -
었었
-’ là quá khứ (thể kiểm định/control aspect), hai hình vị đó cũng
biểu thị thể, vĩ tố kết thúc câu ‘-
ㄴ다/-는다
’ là động từ(hình vị đơn). ‘-
겠-’, ‘ -더-
’,
là thức ‘-

미래시상
/
未來時相
”.
Đồng thời ông cũng bắt đầu nghiên cứu khái niệm về thể và tình thái(modality).
Nhà nghiên cứu Kimseongduk (1974) và nhà nghiên cứu Seojeongsu (1976)

cho là trong tiếng Hàn có thì và thể.
Nhà
nghiên cứu Sonhomin (1975) xác định những hình thái có liên quan thì,
khái niệm thì và tình thái.
Nhà nghiên cứu Nodeakyu (1978, 1979) có ý kiến thì là phạm trù trực chỉ
(deictic category).

b. Tiếng Hàn chỉ có hai thì: quá khứ và phi quá khứ
Một số học giả tiếng Hàn nói rằng trong tiếng Hàn có tồn tại hai thì (quá khứ
và phi quá khứ tức là hiện tại). Nhà nghiên cứu Najinseok (1964,1965) có bàn về
phạm trù hai thì:
“이적/ijЭk/(
quá khứ)”, “
지난적/jinanjЭk/
(quá khứ)”.
Nhà nghiên cứu Kimseokduk (1974) xác định khái niệm thì quá khứ và thì
phi quá khứ.
Nhà nghiên cứu Seojeongsu xác định và trình bày cụ thể hơn khái niệm thì
quá khứ và phi quá khứ.
Choihyunbae trong công trình “Tiếng Hàn”(1937) lần đầu tiên nghiên cứu
và phân tích các thì cụ thể trong tiếng Hàn. Theo ông hình vị “-

-” biểu thị thì và

Luận văn này theo quan điểm cho trong tiếng Hàn có 2 thì: quá khứ với hình
vị “
- 었-” “-었었
-” và phi quá khứ (tức là hiện tại) với hình vị zero và xem những
hình vị này là vĩ tố kết thúc câu.
0.3.2. Các quan điểm nghiên cứu thì và thể trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, ý kiến về thì (thời) còn những quan điểm khác nhau. Thời
gian là sự biểu hiện quá trình tồn tại và diễn biến của hành động, tính chất, trạng
thái của sự vật, hiện tượng trong một không gian nhất định. Mỗi hành động, tí
nh
chất và trạng thái đều mang tính quá trình. Khảo sát thời tức là ta khảo sát quá
trình ấy.
Tác giả Cao Xuân Hạo đã khẳng định “thời gian chỉ thời điểm của trạng thái
hay hoạt động do động từ biểu thị”. Động từ, tính từ- hay gọi chung là vị từ - khi
đảm nhận chức năng thông báo nội dung của sự thể đều bao hàm nghĩa thời gian,
tức là phải đặt trong một ngữ cảnh, một “ khung” nhất định.
Tương tự, khi khảo sát về phạm trù thời gian tiếng V
iệt, tác giả Đỗ Hữu
Châu nhấn mạnh “phạm trù thời là phạm trù ngữ pháp của động từ, thể hiện quan
hệ của hoạt động mà nó biểu thị, so với thời điểm nói” Thời điểm nói mà tác giả
đề cập là mốc thời gian để xác định miền thời gian cho mọi hoạt động, t
rạng thái

và tính chất. Mỗi một m
iền như vậy tương đương với một thời. Hoạt động, trạng
thái, tính chất xảy ra trước thời điểm nói thì thuộc thời quá khứ. Hoạt động, trạng
thái , tính chất tồn tại ở ngay thời điểm nói gọi là thời hiện tại. Còn hoạt động,
trạng thái, tính chất diễn biến sau thời điểm nói thì đó là thời tương lai.

Việc chia các miền thời gian là việc làm phổ biến của tất cả các ngôn ngữ

vẫn ..v
.v.. Theo ông, ngữ tố “đã” dùng để chỉ sự tình ở thời vị lai và “đang” không
chỉ ý nghĩa hiện tại.
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) thì cho rằng “đã, đã rồi” chỉ
sự việc trong quá khứ khi chúng hành chức như những phó từ chỉ thời điểm.
Theo Lê Văn Lý (1972), tiếng Việt có hai hạng mục thì và thể với n
gữ vị chỉ
thời gian (đương, đang), ngữ vị chỉ quá khứ (đã, rồi), ngữ vị chỉ tương lai gần hay
tương lai xa (sắp, sẽ).
Hai tác giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1998) trong “Thành
phần câu tiếng Việt” đã hệ thống hóa ý nghĩa thời và thể trong tiếng Việt theo
cách phân chia thời tương lai và cả thời phi tương lai.
Thời tương lai với các giá trị thể đối lập: thời tương lai hoàn thành (sắp),
thời tương lai phi hoàn thành (sẽ).
T
hời phi tương lai các giá trị thể đối lập: quá khứ chung (đã), quá khứ xa
(từng), quá khứ gần (vừa, mới); thời phi tương lai phi hoàn thành gồm thông lệ
(zero), tiếp diễn(đang), phi tiếp diễn (chưa). Phụ từ “đã” biểu thị thời phi tương
lai hoàn thành (thời quá khứ, thể hoàn thành).
Nhìn chung, các quan niệm truyền thống như trên đã xếp tiếng V
iệt vào các
ngôn ngữ có thì như các ngôn ngữ châu Âu, với các từ đã, đang, sẽ chỉ thì quá

khứ, hiện tại và tươn
g lai.
0.3.2.2 Quan điểm cho rằng tiếng Việt không tồn tại phạm trù thì
Trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, có quan điểm cho rằng tiếng
Việt không tồn tại phạm trù thì, các phó từ đã, đang, sẽ … không phải là những
yếu tố biểu thị thì trong tiếng Việt. Trong hệ thống các cách biểu hiện thời gian,
tiếng Việt không có phạm trù thì, chỉ có phạm trù thể.

hiện ý nghĩa thời gian, chẳng hạn phân tích các trợ từ, phụ tố, các nghĩa của một
dạng thức vị từ hoặc vị ngữ rồi từ đó khái quát nghĩa của sự tình đang được m
iêu
tả.
0.4.2. Phương pháp miêu tả
Luận văn dùng phương pháp này để miêu tả, trình bày những kết quả khảo
sát, nghiên cứu.
0.4.3. Phương pháp so sánh đối chiếu
Để tìm ra đặc trưng loại hình của ngôn ngữ được khảo sát (tiếng Hàn), phải
so sánh, đối chiếu về ngữ nghĩa – cú pháp, hệ thống các phương thức biểu hiện
thời gian trong tiếng Hàn và tiếng V
iệt.
Chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu tất cả những yếu tố liên quan đến
phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt. Việc so sánh, đối
chiếu giúp tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về phương thức biểu hiện
thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt.
Ngoài ra, trong quá trình so sánh, đối chiếu, miêu tả , luận văn còn vận dụng
phương pháp diễn dịch, qui nạp.

0.5. Cấu trúc của luận văn

Ngoài
phần Dẫn nhập và Kết luận , phần Nội dung chính của luận văn được
cấu trúc thành hai chương:
Chương 1 khảo sát, tìm hiểu những cơ sở lý thuyết và tổng quan về ý nghĩa thời
gian trong tiếng Hàn.
Trong chương này, luận văn tìm hiểu những vấn đề về cơ sở lý thuyết: vấn
đề ý nghĩa thời gian, khái niệm “thì”, khái niệm “thể”, các phương thức biểu hiện
ý nghĩa thời gian bao gồm p
hương thức biểu hiện bằng các phương tiện hình thái
Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ
Ý NGHĨA THỜI GIAN ĐẶC ĐIỂM CÚ PHÁP TIẾNG HÀN
1.1. Những cơ sở lý thuyết

1.1.1. Vấn đề chung
Thời gian (time) là một phạm trù ngữ nghĩa phổ quát trong ngôn ngữ học.
Thời gian luôn gắn với nhận thức của con người về sự tồn tại và sự vận động của
sự vật trong thế giới khách quan. Các sự tình được biểu thị trong câu luôn gắn với
một thời gian nhất định.Thời gian cũng có những khái niệm riêng như thời đoạn,
thời điểm
, thì và thể. Thời đoạn là một khoảng có giới hạn hai đầu của trục
phương ngang, tức là khoảng thời gian nhất định.
Thời điểm là khái niệm chỉ một mốc xác định của thời gian. Căn cứ vào thời

điểm, n
gười ta có thể kết luận, so sánh thời gian xảy ra của các hành động, trạng
thái hay tính chất.Thời điểm thường được đề cập là điểm mở đầu hay kết thúc của
một thời đoạn.
Theo John Lyons, trong công trình Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết, “thời

(time) để chỉ ý nghĩa thời gian nói chung, thì (tense) chỉ phạm trù ngữ pháp thời
gian thường gắn với động từ, thể (aspect) chỉ một phạm trù ngữ nghĩa-
ngữ pháp
có liên quan đến thời gian.

1.1.2. Ý nghĩa “Thời (time)” và các khái niệm có liên quan
1.1.2.1. Ý nghĩa “Thời (time)”
N
hư đã nói ở trên, thời gian là một khái niệm luôn gắn với nhận thức của
con người về sự tồn tại và sự vận động của sự vật trong thế giới khách quan.
Người ta thường nhắc tới phạm trù này từ hai góc độ khác nhau. Về ngữ pháp,
thời gian là một phạm trù ngữ pháp, được biểu hiện qua động từ gắn với câu. Về
ngữ nghĩa, thời gian biểu hiện trong các tì
nh huống cụ thể của các sự kiện hành
động, sự kiện tĩnh trong phát ngôn v.v... Hầu như ngôn ngữ nào cũng đều có các
phương thức thể hiện và nhận diện thời gian.
K
hảo sát về thời gian trong ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu thường căn cứ vào
ba yếu tố như:
S- Thời điểm của phát ngôn (speech time)
E-
Thời điểm của sự kiện (event reported)
R- Thời điểm của quy chiếu (reference time)
Xét theo quan hệ giữa E và S, chúng ta đi tới thời gian tuyệt đối. Xét theo
quan hệ giữa E và R, chúng ta đi tới thời gian tương đối. Nếu chỉ xét riêng E
chúng ta nhìn nhận sự kiện một cách phi thời gian. Xét E trong mối quan hệ với R

và S chúng ta có thời gian tương đối – tuyệt đối.

Các thì trong các ngôn ngữ có thể biểu hiện qua sự tổ hợp của ba yếu tố trên.

tính nhân loại.
Ý nghĩa thời gian rất rộng, bao gồm chiều dài thời gian, khoảng cách thời
gian, vị trí thời gian, cách định lượng thời gian, qua ngôn cảnh xác định, hoặc
thông qua hàm ý của người nói, ngoài ra còn là tính chất diễn tiến của một hành
động, một
직선
tĩnh trạng thông qua kết quả hay sự hoàn thành của hành động xảy
ra.
1.1.2.2. Khái niệm “Thì (tense)”
Theo các nhà ngữ pháp học truyền thống, Thì (tense) là phạm trù ngữ pháp
của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn. Thì là cách
xác định ngữ pháp hóa, vị trí của một sự việc trong thời gian. Theo cách hiểu này,
thì là một phạm trù ngữ pháp có tính bắt buộc. Phạm trù ngữ pháp thì được thể
hiện ở các dạng thức ngữ pháp bắt buộc, đối lập (có các ý nghĩa ngữ pháp đối lập)
thường thấy ở các ngôn ngữ biến hình.

Phạm trù ngữ pháp là thể thống nhất của ít nhất hai ý nghĩa ngữ pháp đối lập
nhau được biểu hiện bằng những hình thức ngữ pháp đối lập tương ứng (có đối
lập lưỡng cực/ đối lập đa cực). Ví dụ, số ít đối lập với số nhiều, nhưng chúng đều
là những ý nghĩa về “số”; thời quá khứ đối lập với các thời hiện tại và tương lai,
nhưng cả ba đều là những ý nghĩa về “thời”. Có thể coi “số” hay “thời” là những
ý nghĩa ngữ pháp chung bao trùm lên những ý nghĩa ngữ pháp bộ phận như số ít,
số nhiều hay thời hiện tại, thời quá khứ, thời tương lai. Loại ý nghĩa ngữ pháp
chung bao trùm
lên ít nhất hai ý nghĩa ngữ pháp bộ phận đối lập nhau như vậy
chính là phạm trù ngữ pháp. Một số phạm trù ngữ pháp cơ bản là giống, số, đếm

được/ không đếm được, nội động/ ngoại động, t
hì, dạng, ngôi, thức, cách, thể.
[Nguyễn Thiện Giáp, 2004;227]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status