Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp so sánh với
thực trạng dạy phần văn bản
hiện nay
PHỤ LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.
1.1 Cơ sở lí luận.
1.2 Cơ sở thực tiễn.
2.Mục tiêu nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phạm vi đề tài.
5. Phương pháp nghiên
II.NỘI DUNG
1. Một số giải pháp.
1.1. Phương pháp so sánh với thực trạng dạy phần văn bản hiện nay.
1.2. So sánh là gì?
1.3. Một số hình thức so sánh
a.So sánh làm rõ chi tiết
a.1. So sánh để làm rõ hoàn cảnh sáng tác văn bản
a.2. So sánh về thể loại
a.3. So sánh khi tiến hành phân tích văn bản. Được áp dụng để làm rõ chi tiết về nội
Nghị quyết trung Ương IV khoá VII đã xác định phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện
đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
Nghị quyết trung Ương II tiếp tục khẳng định phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều.
Đối với môn ngữ văn, vấn đề phương pháp càng có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt khi dạy phần
văn bản (phần văn học theo tên gọi cũ). Một thực tế mà hầu hết các giáo viên dạy văn đều nhận thấy
là: Dạy phần văn bản rất khó. Dạy đúng, đủ, chính xác đã là vấn đề không phải luôn dễ dàng: dạy để
cho hay, học sinh học hào hứng càng khó hơn.Tuy nhiên không phải vì thế mà việc dạy phần văn bản
trở nên bế tắc . Cùng một văn bản vẫn có giáo viên dạy tốt và ngược lại. Ngay trong một giáo viên
bình thường vẫn có giờ dạy khá tốt. Rõ ràng vấn đề mấu chốt chính là ở phương pháp. Trước mỗi văn
bản cụ thể giáo viên cần phải chọn và kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp khác nhau. Trong ý
nghĩ đó “so sánh” trở thành một phương pháp cần thiết, hữu ích khi dạy-học phần văn bản môn Ngữ
văn.
Định hướng trên đây đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục. Phương pháp giáo dục phổ
thông phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng
lớp, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác
động đến tình cảm, hứng thú học tập ở các em.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
Trong chương trình Ngữ Văn 7,8,9 phần so sánh đặc biệt ở trường THCS Phan Chu Trinh có
đến 90 % là học sinh dân tộc thiểu số nên kĩ năng đọc viết, cũng như
kiến thức cơ bản về Tiếng Việt còn gặp nhiều hạn chế. Vì vậy để học sinh nắm được kiến thức người
giáo viên phải tổ chức giờ học có hiệu quả.
2.Mục tiêu nghiên cứu.
Nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong giờ học Tiếng Việt để đêm lại hứng
thú học tập cũng như nâng cao chất lượng môn học.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Là học sinh khối 7,8 Trường Trunh Học Cơ Sở Phan Chu Trinh.
4 Giới hạn phạm vi đề tài.
- Đề tài thực hiện nghiên cứu để sử dụng phương pháp so sánh khi dạy-học phần văn bản môn
Những hiện tượng văn học( theo tên gọi cũ) bao giờ cũng chịu sự chi phối bởi những quy luật đặc
thù.Vì thế, giữa các văn bản bao giờ cũng có những yếu tố tương đồng ở các cấp độ khác nhau. Tuy
nhiên chúng lại có điểm khác nhau căn bản để quy về bản chất. So sánh chính là chỉ ra những dấu hiệu
đặc trưng giống nhau và khác nhau căn bản giữa các hiện tượng văn học đó. Do vậy, so sánh có thể
được áp dụng thường xuyên ở mỗi tiết học văn bản.
So sánh chính là một trong những phương pháp dạy học nêu vấn đề:
Giáo viên yêu cầu học sinh so sánh chính là đưa học sinh vào tình huống có vấn đề: Nó kích
thích học sinh phải tư duy để nhận biết các dấu hiệu thuộc tính giống và khác nhau của đối tượng để
rút ra kết luận.
*Ví dụ: Dạy văn bản “ Sau phút chia li”- Trích “ Chinh Phụ Ngâm” của Đặng Trần Côn, giáo
viên có thể đưa ra tình huống so sánh: có thể dùng “ Sau phút chia tay”được không? Tại sao?
Để giải quyết câu hỏi này học sinh buộc phải tiến hành so sánh để nhận biết những điểm
giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng “chia li ” và “chia tay” cụ thể.
+ Giống nhau: Chào để rời xa nhau( Từ điển tiếng Việt phổ thông A của nhà xuất bản khoa
học xã hội, trang 210)
+ Khác nhau: Chia li: rời xa nhau mỗi người một ngả không còn sống chung với nhau nữa(
Từ điển tiếng Việt phổ thông A-C, NXB khoa học xã hội, trang 209)
Chia tay: chưa có sắc thái biểu cảm.
Học sinh rút ra kết luận: Không thể dùng “ chia tay” mà phải dùng “chia li” mới diễn tả được
tính chất sầu thương, bi kịch của đôi vợ chồng Chinh phu, Chinh phụ.
Do vậy sử dụng phương pháp so sánh hợp lý sẽ kích thích được tính tích cực của học sinh hạn
chế thụ động, giờ học sinh động hơn.
- Phương pháp so sánh giúp cho cả học sinh và giáo viên có cái nhìn hệ thống về một phương
diện nào đó giữa các văn bản. Điều này khắc phục được một phần hạn chế của nội dung chương trình
sách giáo khoa Ngữ văn, khi mà tính liên kết dọc ( theo văn học sử) bị phá vỡ.
-Trong phương pháp so sánh, đối tượng được so sánh hầu hết là đơn vị kiến thức mà học sinh
được học qua. Khi so sánh học sinh phải huy động lại kiến thức đó. Do vậy, so sánh chính là một hình
thức giúp học sinh củng cố lại kiến thức, ghi nhớ và khắc sâu.
1.3. Một số hình thức so sánh
a. So sánh làm rõ chi tiết:
Giáo viên: Đều viết về tình cảm quê hương nhưng hoàn cảnh ra đời của văn bản “ Ngẫu
nhiên viết nhân buổi mới về quê” so sánh với hoàn cảnh ra đời của bài “Cảm nghĩ trong đêm thanh
tĩnh” của Lí Bạch có gì đáng chú ý?
Học sinh: Khác nhau là một bài được viết khi xa quê, trong tâm trạng nhớ quê khắc khoải,
còn bài kia viết khi về thăm quê trong một hoàn cảnh ngậm ngùi, chua xót. Học sinh chỉ ra được sự
khác nhau ở câu hỏi trên là đã định hướng đúng tình cảm, tâm trạng của nhân vật trữ tình khi đi vào
phân tích.
a.2. So sánh về thể loại:
Đối với học sinh lớp 6-7, thể loại là khái niệm mới bắt đầu làm quen . Vì thế so sánh để cho
học sinh nhận rõ đặc trưng thể loại là rất quan trọng.
-So sánh cùng thể loại:
Ví dụ : Dạy văn bản “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” của Hạ Tri Chương.Giáo viên
hỏi : Về thể loại em thấy giống văn bản nào đã học? Đó là thể loại gì?
Học sinh : “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” của Lí Bạch, “ Buổi chiều đứng ở Phủ Thiên
Trường trông ra” của Trần Nhân Tông, “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải , “Sông núi nước
Nam” của Lí Thường Kiệt. Đều là thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
- So sánh khác thể loại :
Ví dụ : Dạy văn bản “ Qua đèo ngang” của Bà Huyện Thanh Quan.
Giáo viên hỏi: So sánh thể thất ngôn bát cú Đường luật với thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật?
Học sinh: Giống nhau: Đều là Đường luật (vần, số chữ trong mỗi câu 7 chữ)
Khác nhau: Số câu (8 câu và 4 câu)
Sự so sánh này rất cần thiết. Phần nhiều học sinh chỉ nắm bắt được những thể loại dễ nhận
diện về mặt hình thức như; Truyện ,Thơ.
So sánh đặc trưng về mặt thi pháp của thể loại:
Ví dụ: Dạy văn bản “ Một thứ quà của lúa non-cốm” của Thạch Lam.
Giáo viên hỏi: Những đặc trưng giống và khác nhau giữa tuỳ bút với thơ, truyện ?
Học sinh : Giống thơ ở chỗ chủ yếu biểu hiện cảm xúc của cái tôi trữ tình.
Khác truyện ở chỗ không có cốt truyện.
a.3. So sánh khi tiến hành phân tích văn bản:
- Ngoại cảnh thường vào buổi chiều tà, buồn vắng lặng.
- Nhân vật trữ tình luôn ở trạng thái cô đơn, hoài niệm hướng nội.
Ví dụ 2: So sánh hình thức biểu hiện nghệ thuật của những câu ca dao than thân để rút ra
những đặc điểm và nghệ thuật.
Học sinh: những câu ca dao than thân thường dùng những con vật bé nhỏ tội nghiệp để thể
hiện nội dung than thân.
Ví dụ 3: So sánh tác dụng của những yếu tố thần kì trong các truyện cổ tích ( ngữ văn 6) để
rút ra vai trò của nó trong truyện?
Học sinh : Yếu tố thần kì trong các truyện cổ tích thường chỉ xuất hện để trợ giúp các nhân
vật bất hạnh, nhân vật “ đàn em ” mỗi khi nhân vật này gặp hoàn cảnh khó khăn .Chính vì thế nó là cơ
sở để trí tuệ dân gian thể hiện khát vọng chiến thắng giữa cái thiện và cái ác, thực hiện tư tưởng “ Ở
hiền gặp lành”.
Trên đây trong phạm vi của đề tài, bài viết chỉ đề cặp đến một số hình thức so sánh thông
thường trong các giờ dạy văn của môn Ngữ văn. Ngoài ra còn rất nhiều hình thức so sánh khác, giáo
viên có thể áp dụng trong các hoạt động khác nhau của giờ học như:
- Hoạt động kiểm tra bài cũ.
- Hoạt động củng cố.
- Hoạt động luyện tập
…………………
Tất cả phụ thuộc năng lực của giáo viên.
1.4 . Một số chú ý khi sử dụng phương pháp so sánh.
Sử dụng phương pháp so sánh khi dạy học phần văn bản môn Ngữ văn cần chú ý một số điểm
sau:
a) Lớp học không áp dụng b) Lớp học áp dụng
phương pháp so sánh phương pháp so sánh
Ghi chú:
Học sinh thụ động
Học sinh tích cực
60%
40%
90%
- Hình thức thứ hai là: Tiến hành điều tra bằng phiếu trắc nghiệm lấy ý kiến của học sinh.
Người viết tiến hành điều tra hai lớp thường xuyên áp dụng phương pháp so sánh. Tổng số điều tra
như sau:
Số phiếu phát ra: 82, số phiếu thu vào: 82
- Số phiếu trả lời đầy đủ: 82
* Kết quả:
1) Phương pháp so sánh khiến em cảm thấy tích cực làm việc:
a) Đúng 82,1 %
b) Sai 17,9 %
2) Phương pháp so sánh làm cho giờ học:
a) Sinh động: 82,1 %
b) Bình thường: 17,9%
3) Phương pháp so sánh là phương pháp:
Bùi Thị Hiền