cấu tạo hình thức và ngữ nghĩa của thuật ngữ thể thao tiếng việt (so sánh với tiếng anh) - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Minh Kim Nhật
CẤU TẠO HÌNH THỨC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA
THUẬT NGỮ THỂ THAO TIẾNG VIỆT
(so sánh với tiếng Anh)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRỊNH SÂM

văn còn nhiều thiếu sót. Do vậy, rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của Quý Thầy Cô
và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 08 năm 2010
Người thực hiện luận văn Trần Minh Kim Nhật
MỤC LỤC
3TLỜI CÁM ƠN3T 2
3TMỤC LỤC3T 3
3TBẢNG CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT3T 6
3TMỞ ĐẦU3T 7
3T0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI3T 7
3T0.2. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI3T 8
3T0.3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ3T 8
3T0.4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU3T 10
3T0.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU và NGUỒN NGỮ LIỆU3T 11
3T0.5.1.3T 3TPhương pháp nghiên cứu3T 11
3T0.5.2. 3T 3TNguồn ngữ liệu3T 11
3T0.6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN3T 12
3TCHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN3T 13
3T1.1. THUẬT NGỮ3T 13
3T1.1.1. Định nghĩa3T 13
3T1.1.2. Thuật ngữ tiếng Việt3T 14
3T1.1.2.1. Các tiêu chuẩn của thuật ngữ3T 14
3T1.1.2.2. Tính chính xác3T 15
3T1.1.2.3. Tính hệ thống3T 16
3T1.1.2.4.Tính quốc tế3T 18
3T1.1.2.5.Tính dân tộc3T 19
3T1.1.2.6.Tính ngắn gọn3T 20

3T2.1.3.3. Thuật ngữ thể thao là cụm từ3T 78
3T2.2. CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA THUẬT NGỮ THỂ THAO3T 80
3T2.2.1. Đôi nét về cấu trúc ngữ nghĩa của thuật ngữ thể thao3T 80
3T2.2.2. Cấu trúc ngữ nghĩa của thuật ngữ thể thao tiếng Việt3T 81
3T2.2.2.1. Thuật ngữ thể thao là từ đơn3T 81
3T2.2.2.2. Thuật ngữ thể thao là từ ghép3T 82
3T2.2.2.3. Thuật ngữ thể thao là cụm từ3T 83
3T2.2.3. Cấu trúc ngữ nghĩa của thuật ngữ thể thao tiếng Anh3T 83
3T2.2.3.1. Thuật ngữ thể thao là từ đơn3T 83
3T2.2.3.2. Thuật ngữ thể thao là từ ghép3T 85
3T2.2.3.3. Thuật ngữ thể thao là cụm từ3T 86
3T2.3. TIỂU KẾT3T 87
3TKẾT LUẬN3T 88
3TTÀI LIỆU THAM KHẢO3T 91
3TPHU LỤC3T 95
3TPHỤ LỤC 13T 95
3TPHỤ LỤC 23T 137
3TPHỤ LỤC 33T 179
3TPHỤ LỤC 43T 182

BẢNG CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

STT
NỘI DUNG
Tiếng VIỆT
Tiếng ANH
1.
Vận động viên
VĐV


MỞ ĐẦU 0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ở Việt Nam, “Chơi thể thao cho khoẻ” nói lên thể thao, trong cái nhìn chung của xã
hội, thường được liên kết với khái niệm ‘giải trí’, ‘trò chơi vận động’ hay được xem là các
hoạt động nhằm giải tỏa sức ép công việc. Thậm chí, trên báo chí, tin tức thể thao thường
nằm ở vị trí không mấy trang trọng. Tuy vậy, bất cứ một cuộc nghiên cứu xã hội học nào
cũng chỉ ra vai trò quan yếu của thể thao trong xã hội, nhất là xã hội công nghiệp . Thể thao

tiếng Anh) “ là đề tài nghiên cứu.

0.2. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Theo từ điển tiếng Việt do Trung Tâm Tự Điển Học, Vietlex xuất bản thì: “ thể thao,
những hoạt động nhằm nâng cao thể lực, sức khỏe cho con người, thường tổ chức thành các
hình thức trò chơi, luyện tập, thi đấu theo những nguyên tắc nhất định.” (tr.1202)
Như vậy, khái niệm thể thao trong “hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ thể
thao tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)” còn khá rộng, cần thiết phải tiếp tục minh định giới
hạn.
Phạm vi của đề tài này được khuôn định như sau, thuật ngữ thể thao được sưu tập
trong năm bộ môn cụ thể gồm :
- Điền kinh (Track and Field)
- Bóng chuyền (Volleyball)
- Bóng rổ (Basketball)
- Bóng đá (Soccer, Football)
- Bóng ném (Handball)

0.3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
So với các ngành nghiên cứu khác, ngành nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt lại gắn
liền sâu sắc với quá trình hình thành các ngành khoa học. Như ta biết, trước 1945, có rất
nhiều học giả nghi ngờ về khả năng biểu đạt các khái niệm khoa học của tiếng Việt. Và có
thể nói, sự phát triển của thuật ngữ gắn liền với sự phát triển của chữ quốc ngữ, với nhiều bộ
môn khoa học khác nhau. Lúc đầu, một số nhà trí thức như Dương Quảng Hàm, Vũ Công
Nghi, Trương Văn Thịnh, Nguyễn Triệu Luật, Đinh Gia Trinh, Lê văn Kim thống nhất chủ
trương :
- Khởi xướng việc tạo ra thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt và đẩy mạnh việc phổ
biến chúng trên báo chí.
- Thông qua việc thảo luận trên báo chí, thông qua các quan điểm khoa học khác nhau,
có thể lựa chọn các giải pháp làm cho hệ thống thuật ngữ phong phú và giữ được đặc tính
của tiếng Việt.

Thứ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Võ Thuần Nho ký. Tiếc rằng các quy định này chưa
thật sự đi vào cuộc sống.
Sau đó, vào những năm đất nước đổi mới, cùng với sự phát triển của nhiều ngành, một
số từ điển thuật ngữ nhất là từ điển khoa học ra đời. Trên tạp chí Ngôn Ngữ rải rác có một số
bài viết nhận xét về hệ thống thuật ngữ như Tài Chính-Kế Toán, Ngân Hàng, thuật ngữ về
thương mại, tài chính… .
Theo khảo sát chưa đầy đủ của chúng tôi thì hình như chưa có một công trình nào bàn
về thuật ngữ Thể Dục Thể Thao, đối tượng khảo sát chính của luận văn này.
Trên cơ sở thừa hưởng kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận văn này sẽ
khảo sát các hệ thống thuật ngữ thể thao của năm bộ môn đã xác định một cách hệ thống.
0.4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các đặc điểm về cấu tạo hình thức và ngữ nghĩa
của thuật ngữ thể thao tiếng Việt, so sánh với các thuật ngữ thể thao tiếng Anh trong các bộ
môn điền kinh, bóng rổ, bóng chuyền,bóng đá, bóng ném. Các thuật ngữ này thuộc hệ thống
lớn (thể thao) hay các hệ thống nhỏ (bộ môn cụ thể) có thể là tên gọi các động tác, các từ ngữ
thường dùng trong chỉ đạo kỹ thuật thi đấu hay huấn luyện, các từ ngữ thường xuất hiện trên
các báo hay tạp chí thể thao tiếng Việt và tiếng Anh.
Thử xem qua một mục thông tin nhỏ của Thông Tấn Xã Việt Nam : “Bên đường đua
nữ, Katie Hoff cũng đang nhắm đến vài chiếc huy chương vàng, thế nhưng Hoff mới tìm
được chiếc huy chương đồng đầu tiên ở nội dung 400 mét hỗn hợp nữ. Stephanie Rice của
Úc đã đoạt huy chương vàng nội dung 400 hỗn hợp cá nhân nữ bằng thành tích phá kỷ lục
thế giới do Hoff đang nắm giữ trước đó. Kỷ lục thế giới mới của Stephanie Rice lập được là
4 phút và 29,45 giây. Kirsty Coventry của Zimbabwe về nhì, và Katie Hoff về thứ ba.”
Trong bài vừa dẫn ở trên, ta có thể đơn cử một số thuật ngữ thể thao thuộc các hệ thống như
sau :

STT
HỆ THỐNG
THUẬT NGỮ
1.

 568 thuật ngữ về bộ môn điền kinh
 259 thuật ngữ về bộ môn bóng rổ
 253 thuật ngữ về bộ môn bóng chuyền
 342 thuật ngữ về bộ môn bóng đá
 161 thuật ngữ về bộ môn bóng ném
và một hệ thống thuật ngữ tiếng Anh tương đương với số lương này. Cần thấy, đôi khi, một
thuật ngữ tiếng Anh có thể có nhiều cách sử dụng, nhiều biến thể khác nhau trong tiếng Việt
và cũng có hệ thuật ngữ như vậy trong mối quan hệ với hệ thống tiếng Việt so với tiếng Anh.
Trong các trường hợp này, nếu là tiếng Anh tương ứng một đối một với tiếng Việt, chúng tôi
chỉ tính là một, với thuật ngữ điển hình nhất, và trong tiếng Việt cũng vậy. Và để tiện cho
việc theo dõi, chúng tôi sẽ cung cấp các phụ lục tương ứng.
0.6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Hiện nay, có một thực tế là việc sử dụng các thuật ngữ trong sinh hoạt hằng ngày, trên
các phương tiện truyền thông là khá phức tạp, ngay trong các sách giáo khoa cũng có tình
trạng này. Điều đó cũng nổi rõ trong phạm vi các ngành thể dục thể thao. Tất cả đều có
nguyên nhân xâu xa của nó, các môn thể thao hiện đại đều được du nhập từ phương Tây.
Luận văn này không có tham vọng giải quyết những vấn đề lý thuyết, mà hy vọng
thông qua việc sử dụng, phân loại, miêu tả, có thể cung cấp một bức tranh toàn diện về thuật
ngữ thể thao tiếng Việt. Từ đó, gợi ra đối chiếu về cách sử dụng thuật ngữ trên quan điểm
của người sử dụng.
0.7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài hai phần “mở đầu” có tính chất tổng quan và “kết luận”, nội dung chính của
luận văn được triển khai trong hai chương :
Chương I : Cơ sở lý luận : xác định bộ máy khái niệm liên quan, dùng nó như là cơ
sở để lý giải các hiện tượng cụ thể.
Chương II : Đặc điểm ngôn ngữ của thuật ngữ thể thao tiếng Việt, luận văn tập trung
miêu tả trên hai bình diện hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ thể thao tiếng Việt,
và trong một chừng mực nhất định có tiến hành so sánh đối chiếu với tiếng Anh.Ngoài ra,
luận văn còn có các phụ lục bao gồm: - phụ lục 1: thuật ngữ thể thao Việt-Anh
- phụ lục 2: thuật ngữ thể thao Anh-Việt

niệm khoa học. Thuật ngữ là những từ và những cụm từ chỉ những khái niệm của một ngành
khoa học, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào đó…[36 ,tr. 204]
Trong tự điển Oxford, thuật ngữ được định nghĩa là từ hay cụm từ dùng để gọi tên sự
vật, nhất là khi sự vật này liên quan đến các lĩnh vực chuyên biệt.(Term is a word or phrase
used as the name of something, especially one connected with a particular type of language.)
[50, tr.1583]
Thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng… có thực trong
thực tế. Ý nghĩa biểu niệm của thuật ngữ cũng là những khái niệm về các sự vật, hiện tượng
đúng như chúng tồn tại trong tư duy, trong giao tiếp của ngành học hữu quan. Chúng có thể
tập hợp thành những khái niệm gần nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau thành từng nhóm.
Mỗi nhóm cũng làm một “hệ thống” khái niệm. Một hệ thống lớn lại bao gồm nhiều hệ
thống nhỏ. Trong mỗi hệ thống khái niệm có thể có một khái niệm chính bao trùm hoặc làm
trung tâm tập hợp những khái niệm khác thành cụm. Lấy ví dụ trong những môn thể thao, ta
có những hệ thống thuật ngữ về kỹ thuật thi đấu, về tổ chức, điều lệ,
Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập. Việc cấu tạo theo phương thức thêm thành tố phụ
vào một thành tố chính, trong đó thành tố chính mang nghĩa khái quát chỉ tổng loại, thành tố
phụ hạn định nghĩa của thành tố chính chỉ loại cụ thể, là phương thức thường gặp nhất. Ví
dụ: bóng / bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, bóng ném…. Trong tiếng Anh, việc thêm các yếu
tố vào thuật ngữ này cũng được thực hiện theo hình thức từ ghép hay cụm từ. Ví dụ: ball /
football, volleyball, basketball, handball… .
Các nhà ngôn ngữ học Nga thường nhấn mạnh đến tính lý do của thuật ngữ. Nói cách
khác, trong phạm vi từ ngữ bình thường, mối quan hệ giữa từ và sở chỉ là không có lý do,
còn trong thuật ngữ thì ngược lại. Một thuật ngữ bền vững là một thuật ngữ sử dụng các
thuộc tính nổi trội để định danh đối tượng. Và phần lớn các thuật ngữ trong nhiều ngành
khoa học khác nhau đều dùng cách đặc trưng này.
Đến đây, chúng tôi có thể xác định khái niệm thuật ngữ như sau: là từ hay cụm từ
chuyên môn, được sử dụng trong hoạt động chuyên ngành. Thuật ngữ là yếu tố khái niệm cơ
sở của mọi ngôn ngữ dùng cho mục đích chuyên môn, nó là sự biểu đạt bằng từ ngữ một
khái niệm của một hệ thống khái niệm thuộc một lĩnh vực tri thức chuyên ngành nhất định.
1.1.2. Thuật ngữ tiếng Việt

BÓNG
P
1
Hình in trên mặt nền do
ánh sáng chiếu rọi vào vật
gì tạo nên.
Shadow [ Old English
sceaduwe, form of sceadu<
Indo-European, "darkness"]

BÓNG
P
2
Hồn người chết hiện về
nhập vào xác người nào đó,
theo mê tín.
A ghost / phantom [ Old
English gāst < WGermanic]

BÓNG
P
3
Bầu thuỷ tinh chân không
hay có khí trơ,
có dây kim
loại, khi dòng điện đi qua
A lamp [12th century. Via
French lampe < Latin lampas
< Greek, "torch" < lampein


nhất, thể hiện một khái niệm duy nhất.
Muốn đảm bảo tính chính xác rõ ràng của mỗi thuật ngữ trong mỗi hệ thống
thuật ngữ, phải cố gắng tiến tới nguyên tắc “mỗi khái niệm có một thuật ngữ và mỗi thuật
ngữ chỉ một khái niệm”. Nguyên tắc này không đòi hỏi phải xoá bỏ tất cả những hiện tượng
đồng âm, đồng nghĩa giữa những hệ thống thuật ngữ khác nhau, giữa những lĩnh vực khác
nhau cũng như giữa lĩnh vực chuyên môn với các sinh hoạt thông thường do các hiện tượng
này không phá vỡ tính hệ thống, tiêu chuẩn thứ hai của thuật ngữ.
1.1.2.3. Tính hệ thống
Ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy, vì tư duy con người chỉ có thể thực hiện thông
qua ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là những ký hiệu ghi lại kết quả suy luận trừu tượng của tư duy.
Hệ thống khái niệm không thể nào tách rời khỏi hệ thống ký hiệu, vì “ngôn ngữ là một hệ
thống các ký hiệu biểu đạt khái niệm” [42, tr.33]. Nói một cách cụ thể hơn, thuật ngữ là “cái
thì phát sáng.
"to shine"]

BÓNG
P
4
Quả cầu rỗng bằng cao su
hay nhựa dùng làm đồ chơi
thể thao hay đồ chơi của
con trẻ.
A ball [13th century. < Old
Norse böllr
or assumed Old
English beall < Germanic] (Nguyễn Như Ý(1999),
tr.179, Đại từ điển Tiếng

khái niệm khác cùng tầng, cùng lớp.
Ví dụ, trong lớp thuật ngữ thể thao cấu tạo với từ “bóng”,ta có “bóng đá”, “bóng
rổ”, “bóng chuyền”, “bóng ném”, “bóng chày”, … trong đó, “bóng” có giá trị phân biệt về
chất của nội dung khái niệm của thuật ngữ này với các thuật ngữ khác. Các từ còn lại như
đá, rổ, chuyền, ném, chày, … có giá trị khu biệt lẫn nhau trong lớp thuật ngữ này. Hay trong
tiếng Anh, với hình vị “ball”, ta có các kết hợp sau : “football”, “basketball”, “volleyball”,
“handball”, “baseball” ). Do tính hệ thống trong cách cấu tạo hình thức của thuật ngữ mà
người ta có thể dễ dàng nắm được nội hàm mà thuật ngữ biểu thị.

1.1.2.4.Tính quốc tế
Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học,
chuyên môn chung cho những người nói những thứ tiếng khác nhau. Vì vậy, sự thống nhất
thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích. Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế
của thuật ngữ. Thông thường, nói đến tính quốc tế của thuật ngữ, người ta chú ý tới biểu hiện
cấu tạo hình thức của chúng: các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau,
cùng xuất phát từ một gốc chung. Ví dụ: các thuật ngữ như “axít” (acid / acide), “xăng”
(essence), “ma-ra-tông” (marathon) ….
Thực ra, về cấu tạo hình thức, tính quốc tế của thuật ngữ chỉ có tính chất tương
đối. Mức độ thống nhất của các thuật ngữ rất khác nhau, có thuật ngữ thống nhất trên phạm
vi rộng, có thuật ngữ thống nhất trên phạm vi hẹp hơn do truyền thống lịch sử hình thành các
khu vực văn hoá khác nhau. Tính thống nhất của thuật ngữ thể hiện ở sự thống nhất trong
phạm vi các khu vực. Thuật ngữ của ngôn ngữ Ấn Âu thường bắt nguồn từ các tiếng Hy Lạp,
La Tinh… ,
trong khi thuật ngữ tiếng Việt và nhiều tiếng khác ở Đông Nam Á phần lớn dựa
trên cơ sở các yếu tố gốc Hán. Có lẽ do sự thống nhất tương đối trong cấu tạo hình thức của
thuật ngữ mà nhiều người đã xem nhẹ tính quốc tế của thuật ngữ .
Nếu chú ý tới mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ, thì phải thừa nhận rằng, tính quốc tế của
thuật ngữ là một đặc trưng quan trọng. Nó phân biệt thuật ngữ với những bộ phận từ vựng
khác vì thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khoa học, chuyên môn chung cho những người
nói những thứ tiếng khác nhau. Về mặt cấu trúc hình thức, việc đảm bảo tính quốc tế đôi khi

ngôn ngữ dân tộc. Mỗi ngôn ngữ có màu sắc riêng, có đặc điểm riêng của nó. Muốn giữ
được cái bản sắc tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc, thì giữ gìn tính chất trong sáng của tiếng nói
dân tộc là một việc vô cùng quan trọng, mà trong đó, điều nổi bật trước tiên là vấn đề giữ gìn
sự trong sáng trong từ ngữ chuyên môn, khoa học. Thuật ngữ phải sử dụng các từ thông
thường trong tiếng nói của quần chúng cũng nhằm mục đích nêu rõ ý nghĩa của nó.
Thông thường, tính dân tộc của thuật ngữ được thể hiện qua:
- phương thức cấu tạo : thuật ngữ tiếng Việt sử dụng phương thức từ hóa hình vị
để tạo các từ đơn và phương thức ghép biệt lập. Các thuật ngữ là từ đơn thường biểu thị hệ
thống lớn còn từ ghép và cụm từ thường chỉ các hệ thống nhỏ hơn .

Ví dụ, thuật ngữ “chạy” là một hệ thống ; với phương thức ghép có thể có được các hệ thống
con như:
STT MÔN HỆ THỐNG HỆ THỐNG CON
1. ĐIỀN KINH CHẠY Chạy lao, chạy tiếp sức, chạy
maratông, …
2. BÓNG ĐÁ CHẠY Chạy có bóng, chạy chỗ, …
(Bảng I.1.2.1.4.a)
- xét về nguồn gốc, thuật ngữ có thể hình thành từ bản ngữ hay vay mượn. Các
hình vị này có thể có nguồn gốc Ấn-Âu, Hán-Việt hay thuầnViệt. Đề cao tính dân tộc và giữ
gìn sự trong sáng trong tiếng Việt không có nghĩa là loại bỏ tất cả các thuật ngữ không phải
là gốc Việt mà phải là cố định lại, chỉnh lại cho phù hợp với tiếng Việt .
Ví dụ : trong môn bóng đá, để biểu thị khái niệm “bóng ra ngoài biên, khoảng thời
gian trọng tài tạm dừng trận đấu hay ngay sau tiếng còi công nhận bàn thắng” thuật ngữ tiếng
Anh là “ball out of play”[ball (quả bóng); out of play (ngoài cuộc chơi)] thì tiếng Việt lại sử
dụng cụm từ “bóng chết”‘.
Trong lịch sử phát triển của bộ môn bóng đá Việt Nam, đã có giai đoạn các cầu thủ sử
dụng các thuật ngữ vay mượn trực tiếp từ tiếng Pháp nhưng qua tiếng Việt các từ này đã
được cố định lại thành các từ đơn tiết như sau:

STT KHÁI NIỆM TIẾNG PHÁP TIẾNG VIỆT

chính là đối tượng được phục vụ. Muốn cho khoa học và các ngành nghề dễ dàng thâm nhập
quần chúng thì thuật ngữ phải dễ dùng. Hơn nữa, thuật ngữ mang tính chính xác, rõ ràng hơn
là tính chất gợi cảm của các từ thông thường . Tính chất dễ dùng đòi hỏi thuật ngữ về mặt
hình thức không được dài dòng, phức tạp, mà càng ngắn gọn càng tốt. Điều này đòi hỏi sự
chú ý đến tiếng nói của quần chúng, biết khai thác vốn từ quý báu của nhân dân, tìm tòi
những từ quen thuộc mà tính chính xác vẫn được đảm bảo.
Do vậy, thuật ngữ cần phải có được tính chính xác hoàn toàn, có tính hệ thống chặt
chẽ, có tính quốc tế, có màu sắc dân tộc, ngắn gọn và dễ dùng. Trên thực tế, các tiêu chuẩn
trên không dễ dàng thống nhất với nhau. Trong từng thuật ngữ một, có khi đạt tiêu chuẩn này
thì vi phạm tiêu chuẩn khác. Vấn đề là vận dụng mức giới hạn của từng tiêu chuẩn trong
từng khu vực thuật ngữ.
Theo Ông Nguyễn Thiện Giáp, “nếu chú ý tới mặt nội dung của thuật ngữ, thì phải
thừa nhận rằng, tính quốc tế của thuật ngữ là một đặc trưng quan trọng, phân biệt thuật ngữ
với những bộ phận từ vựng khác: thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khoa học cho những
người nói những thứ tiếng khác nhau, trong khi đó phạm vi biểu hiện của các lớp từ vựng
khác nhau nằm trong khuôn khổ của từng dân tộc. Nếu hiểu tính quốc tế của thuật ngữ chỉ ở
khía cạnh hình thức biểu hiện thì nó sẽ mâu thuẫn với yêu cầu về tính dân tộc, dễ hiểu trong
hình thức cấu tạo của thuật ngữ….Khi xây dựng thuật ngữ chẳng những phải đảm bảo tính
chất riêng của thuật ngữ mà còn phải đảm bảo cả những tính chất chung của thuật ngữ với
những lớp từ vựng khác.”
[19, tr.225].
1.1.2.8. Tính sản sinh
Dù trong lĩnh vực khoa học hay ngoài khoa học, trong giao tiếp từ ngữ bao giờ
cũng có mối quan hệ với nhau. Một thuật ngữ phải bảo đảm được sức sản sinh, hệ thống
thuật ngữ giống bảng phân loại hóa học của Mendeleev, có những ô trống có thể điền vào.
Chẳng hạn như mô hình trong tiếng Việt
VẬN ĐỘNG VIÊN + X
trong đó X là để chỉ bộ môn kiểu như : “vận động viên đẩy tạ” (shot putter) ,
“vận động viên nhảy xa” (long jumper), “vận động viên mười môn phối hợp” (decathlete),
“vận động viên ném lao” (javelin thrower)… .

Nguyên lý tạo lập thuật ngữ thứ ba này rất đặc thù, chỉ áp dụng hạn chế
trong một số lĩnh vực tri thức và hoạt động, trong đó từ ngữ chuyên ngành còn chưa ổn định
hẳn, thậm chí có từ ngữ chưa hẳn đã thành một thuật ngữ chắc chắn, chính xác. Nguyên lý
này cũng giống nguyên lý thứ hai là sử dụng các yếu tố nội sinh của tiếng mẹ đẻ, nhưng khác
ở chỗ là: các từ ngữ thông thường của ngôn ngữ toàn dân được làm thuật ngữ ở đây chưa
được “thuật ngữ hóa” hoàn toàn. Do đó, nguyên lý này được gọi là “nguyên lý thuật ngữ
hóa” các yếu tố phi thuật ngữ như “che bóng” (shielding), “chuồi bóng” (sliding tackle),
“tâng bóng” (juggling), “rê bóng” (dribble)…. trong bộ môn bóng đá.

I.1.2.2.4. UNguyên lý phức hợp
Đây là nguyên lý tạo lập thuật ngữ của một số lĩnh vực tri thức và hoạt
động liên ngành, đa ngành. Nguyên lý này thường được gọi là nguyên lý phức hợp, là một
đặc trưng của sự phát triển khoa học-kỹ thuật, sản xuất thực tiễn của xã hội hiện đại. Do đó
có nhiều thuật ngữ của một lĩnh vực tri thức mới gồm hai yếu tố, kết hợp yếu tố của ngành
chuyên môn này với một yếu tố của một ngành chuyên môn khác. Thí dụ như “thương hiệu
bóng đá” (soccer brand), “chỗ đứng của trọng tài” (referee platform), “sân gôn” (golf
course)… .

1.1.2.9.Quá trình hình thành thuật ngữ tiếng Việt
Như đã trình bày trước đây, hơn một thế kỷ qua, cùng với sự phát triển của tiếng
Việt, thuật ngữ khoa học tiếng Việt cũng lớn mạnh không ngừng. Để tiện cho việc phân tích
về cấu tạo cũng như ngữ nghĩa của thuật ngữ thể thao, chúng tôi thiết nghĩ cần phải điểm qua
một số phương thức phổ biến để hình thành nên chúng.
Theo một số nhà thuật ngữ học, so với nhiều nước, thuật ngữ tiếng Việt hầu như phải
tiếp nhận thuật ngữ tiếng nước ngoài như một lẽ đương nhiên; người ta hay nói đến thuật
ngữ khoa học kỹ thuật từ tiếng Anh, thuật ngữ khoa học xã hội và nhân văn từ tiếng Pháp.
Sau đây là một số phương thức chính:
a/ Sử dụng yếu tố thuần Việt
Khi chuyển dịch một thuật ngữ Châu Âu sang tiếng Việt, các nhà chuyên môn dùng
cái vỏ thuần Việt để sử dụng một khái niệm mới. Như ta biết, yếu tố thuần Việt là yếu tố có

giao tiếp, lý do nội tại là tiếng Hán và tiếng Việt có cùng một loại hình ngôn ngữ đơn lập.
Thuật ngữ khoa học có nguồn gốc từ tiếng Hán nói chung, thuật ngữ thể thao có nguồn
gốc từ tiếng Hán nói riêng, xét về mặt cấu tạo vá cả ngữ nghĩa đều có những đặc trưng riêng,
chúng thường cung cấp những yếu tố có sức sản sinh lớn như yếu tố “viên” đã nói ở trên.
Một số ví dụ về thuật ngữ thể thao có nguồn gốc từ tiếng Hán như:
- “cầu thủ” (player) - “cầu thủ tấn công” (attacker)
- “tấn công” (attack) - “tấn công đa dạng” (weave attack)
- “tấn công đơn” (solo dribble) - “tấn công luân phiên” (roll attack)
- “phi thể thao” (unsportsmanlike)
Các yếu tố có sức sản sinh lớn như “vệ” trong “tiền vệ”, “trung vệ”, “hậu vệ”…,“tấn công”
trong “tấn công đơn”, “tấn công đa dạng”, “tấn công phối hợp”, “tấn công luân phiên” …,
hay như “thủ” trong “cầu thủ”, “kỳ thủ”, “địch thủ”, “đối thủ” …. .
Không cần viện dẫn đến lĩnh vục thể thao, ngay trong hoạt động hằng ngày, tính chất
bền vững về cấu tạo, khái quát về ngữ nghĩa, tập trung về mặt phong cách của các yếu tố
Hán-Việt là đặc điểm khá nổi bật.
Ví dụ: Ta hãy so sánh - cháo huyết / cháo máu
- nữ vận động viên / vận động viên gái
- nữ trọng tài / trọng tài gái
Tuy nhiên có một thực tế là các thuật ngữ gốc Hán-Việt có trật tự ngược lại với thuật
ngữ thuần Việt:
PHỤ - CHÍNH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status