Đặc điểm ngữ nghĩa của những từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin của người việt (so sánh với người anh) - Pdf 95

Đặc điểm ngữ nghĩa của những từ ngữ biểu thị
phong tục cưới xin của người Việt (So sánh với
người Anh)

Vũ Linh Chi

Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
Luận văn ThS ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Đức Tốn
Năm bảo vệ: 2010

Abstract: Tổng quan một số vấn đề lí luận cơ bản về đặc trưng văn hoá - dân tộc
của ngôn ngữ. Đưa ra khái niệm văn hoá và ngôn ngữ; giới thiệu mối quan hệ giữa
ngôn ngữ, văn hoá và tư duy; sự phản ánh đặc trưng văn hoá - dân tộc trong ngôn
ngữ. Đi sâu nghiên cứu về lịch sử hôn lễ của người Việt; đặc điểm định danh của
nhóm từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin. Phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của trường
từ vựng biểu thị phong tục cưới xin; ý nghĩa biểu trưng của các hiện tượng cưới
xin trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt (So sánh với người Anh).

Keywords: Ngôn ngữ học; Ngữ nghĩa; Phong tục cưới xin; Từ ngữ

Content
1. Lí do chọn đề tài
Trong quá trình giao tiếp giữa các cộng đồng văn hoá dân tộc khác nhau, xảy ra
không ít những trường hợp người ta không hiểu nhau, thậm chí hiểu lầm nhau. Điều này
một phần do những người tham gia giao tiếp chưa lĩnh hội được hết những kiến thức
ngôn ngữ, một phần nữa là do sự thiếu hiểu biết về "phông" văn hoá xã hội của hành vi
giao tiếp. Chính vì vậy, hiện nay, trong lĩnh vực tâm lí ngôn ngữ học và lí thuyết giao
tiếp, vấn đề đặc trưng văn hoá dân tộc của tư duy và giao tiếp ngôn ngữ ngày càng được
nhiều người quan tâm nghiên cứu.
Tuy nhiên, những vấn đề này ở Việt Nam còn khá mới mẻ và lần đầu tiên được

Những từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin trong tiếng Việt và tiếng Anh là đối
tượng mà luận văn hướng tới để tìm hiểu. Bởi thứ nhất, cưới xin là phong tục mà dân tộc
nào cũng có nhưng các từ ngữ để biểu thị các hiện tượng thuộc phong tục này ở các dân
tộc lại rất khác nhau; thứ hai, đây là nhóm từ ngữ hàm súc cả về nghĩa từ vựng lẫn các
thành tố văn hoá và tương đối khép kín. Điều này rất thuận lợi cho việc nghiên cứu.
Thêm vào đó, những từ ngữ này chưa được khảo sát một cách toàn diện. Vậy nên, nhiệm
vụ đặt ra cho luận văn này là: xem xét đặc điểm quá trình định danh nhằm ghi lại kết quả
của sự tri giác, phạm trù hoá khúc đoạn hiện thực khách quan phong tục cưới xin này và
xem xét cấu trúc ngữ nghĩa của những từ ngữ biểu thị phong tục ấy.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề được nêu ra, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phương
pháp phân tích thành tố nghĩa. Đây là phương pháp nghiên cứu mặt nội dung các đơn vị
có ý nghĩa, được nêu ra trong phạm vi ngữ nghĩa học cấu trúc và có mục đích là phân giải
ý nghĩa của từ ngữ ra thành các nghĩa vị (hay còn được gọi là các nét nghĩa). Đối tượng
phân tích bằng phương pháp này là tất cả những từ liên quan với nhau về ngữ nghĩa.
Phương pháp này có ưu điểm là có thể phát hiện ra được những mặt căn bản của ý nghĩa
của từ và có thể sử dụng một cách hiệu quả để nghiên cứu hệ thống ngữ nghĩa của ngôn
ngữ, giải quyết những vấn đề của ngữ nghĩa từ vựng như vấn đề đa nghĩa, đồng nghĩa; và
sự phân tích thành tố nghĩa có thể được sử dụng vào phân tích đối chiếu một loạt ngôn
ngữ. Điều này giúp cho không những vạch ra được tính bất đẳng cấu ngữ nghĩa giữa các
ngôn ngữ khác nhau, mà còn cho phép thâm nhập sâu hơn vào những quy luật ngữ nghĩa
của mỗi ngôn ngữ để từ đó có thể nhận ra những đặc trưng văn hoá dân tộc của một
trường từ vựng - ngữ nghĩa cụ thể.
Bên cạnh phương pháp phân tích thành tố vừa nêu ở trên, một phương pháp nữa
thường được sử dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ học đó là phương pháp thống kê. Chúng
ta biết rằng, các hiện tượng ngôn ngữ không chỉ có những đặc trưng về chất mà còn có cả
đặc trưng về lượng. Do đó, những đánh giá về lượng đã nhiều lần được sử dụng khi
nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ khác nhau. Trong nhiều trường hợp, những sự khác
biệt về chất của các cấu trúc ngôn ngữ chỉ có thể giải thích bằng những sự khác biệt về
lượng. Thêm vào đó “cần áp dụng thường xuyên hơn tư duy toán học, định lượng trong

Chương 1: Một số vấn đề lí luận cơ bản về đặc trưng văn hoá - dân tộc của
ngôn ngữ
Trong chương này chúng tôi sẽ bàn về một số vấn đề cơ bản như: khái niệm văn
hoá và ngôn ngữ; mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy; sự phản ánh đặc trưng
văn hoá - dân tộc trong ngôn ngữ.
Chương 2: Đặc điểm định danh các hiện tượng thuộc phong tục cưới xin của
người Việt (trong sự so sánh với người Anh)
Chương này đề cập tới những vấn đề như: định nghĩa về phong tục; lịch sử hôn lễ
của người Việt; đặc điểm định danh của nhóm từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin.
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của trường từ vựng biểu thị phong
tục cưới xin của người Việt và người Anh.
Chương này được dành cho các vấn đề: cấu trúc ngữ nghĩa của trường
từ vựng biểu thị phong tục cưới xin; ý nghĩa biểu trưng của các hiện tượng cưới
xin trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt.

References
1. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hoá sử cương, NXB Văn hoá- Thông tin, Hà
Nội.
2. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, NXB Văn hoá- Thông tin, Hà Nội.
3. Nguyễn Huy Cẩn, Mấy vấn đề trong việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa, in trong
Ngôn ngữ- Văn hoá- Giao tiếp.
4. Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội.
5. Đỗ Hữu Châu (1974), Trường từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm
nghệ thuật, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3.
6. Đỗ Hữu Châu (1977), Thí nghiệm liên tưởng tự do và những liên hệ ngữ nghĩa giữa
các từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1.
7. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.
8. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Đại học và Trung học
chuyên nghiệp.

28. Nguyễn Quốc Hùng (2001), Một vài đặc điểm đáng lưu ý về tư duy ngôn ngữ ở
người Anh, Tạp chí Ngôn ngữ, số 8.
29. Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội – những vấn đề cơ bản, NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội.
30. Nguyễn Thúy Khanh (1994), Đặc điểm định danh của trường tên gọi động vật tiếng
Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 2.
31. Nguyễn Thúy Khanh (1994), Đặc điểm định danh tên gọi động vật trong tiếng Việt,
Tạp chí Văn hoá dân gian, số 1.
32. Nguyễn Thúy Khanh (1994), Đối chiếu ngữ nghĩa của trường tên gọi động vật tiếng
Việt với tiếng Nga, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2.
33. Nguyễn Thuý Khanh (1995) , Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh có tên gọi động
vật tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3.
34. Vũ Ngọc Khánh-Phạm Minh Thảo-Nguyễn Vũ (2002), Từ điển văn hoá dân gian,
NXB Văn hoá-Thông tin, Hà Nội.
35. Đinh Trọng Lạc (1998), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo
dục.
36. Nguyễn Lân (2003), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội.
37. Trịnh Mạnh (2005), Tiếng Việt lí thú (Cái hay, cái đẹp của từ ngữ tiếng Việt), tập 3,
NXB Giáo dục.
38. Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo (2003), Tục cưới hỏi ở Việt Nam, NXB Văn hoá-
Thông tin, Hà Nội.
39. Hà Quang Năng, Bản sắc văn hoá của người Việt qua các hình thể ngôn từ ẩn dụ
trong ca dao Việt Nam, in trong Ngôn ngữ- Văn hoá- Giao tiếp.
40. Hà Quang Năng (2001), Đặc trưng của phép ẩn dụ trong ca dao Việt Nam (một sự
thể hiện bản sắc văn hoá của người Việt qua các hình ảnh ngôn từ ẩn dụ), Tạp chí
Ngôn ngữ, số 15.
41. Phan Ngọc (2000), Thử xét văn hoá, văn học bằng ngôn ngữ học, NXB Thanh niên.
42. Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá- Thông tin, Hà Nội.
43. Phan Ngọc (2005), Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới, NXB Văn hoá-Thông
tin.

61. Viện Ngôn ngữ học (2007), Từ điển Anh - Việt, NXB Văn hoá Sài Gòn.
62. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
63. Viện Ngôn ngữ học (1991), Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội.
64. Tân Việt (2005), 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc,
Hà Nội.
65. Trần Quốc Vượng(chủ biên) (1997), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục.
66. English Wedding Traditions, http//WeddingDetails.com
67. Etymology Dictionary, http//www.etymonline.com
68. New Edition (1992), Oxford advanced learner’s dictionary.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status